Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
MỞ ĐẦU
Lợi nhuận và rủi ro là hai vấn đề luôn song hành với nhau, lợi nhuận
càng lớn thì rủi ro càng cao; đó là một nguyên tắc luôn đúng với hoạt động của mọi
chủ thể kinh doanh, trong đó có NHTM . Phát triển hoạt động kinh doanh và hạn
chế rủi ro là yêu cầu tối quan trọng đối với NHTM, đặc biệt trong hoạt động cho
vay, chỉ khi hạn chế được rủi ro NHTM mới thực sự phát triển và tạo sự ổn định
cho nền kinh tế
Nghiên cứu về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng là một
việc làm hết sức cần thiết hiện nay . Việc nghiên cứu này sẽ cho ta thấy rõ được các
nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay và hậu quả của nó, để
từ đó đề ra các giải pháp hữu hiệu, thiết thực nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu tổn
thất cho ngân hàng.
Xuất phát từ những vấn đề trong lý thuyết cũng như thực trạng
hoạt động của ngân hàng cùng sự chỉ dạy tận tình của PGS. TS Trần Đăng
Khâm và các anh, chị tại Ngân hàng TMCP Bắc Á-Chi nhánh Thái Hà, em đã
quyết định chọn đề tài: “Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho
vay tại ngân hàng NHTMCP Bắc Á – Chi nhánh Thái Hà ” làm chuyên đề tốt
nghiệp cho mình. Bố cục chuyên đề được chia làm ba phần:
- Chương 1 : Các vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động cho vay của NHTM
- Chương 2 : Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
cho vay của NHTMCP Bắc Á – Chi nhánh Thái Hà
- Chương 3 : Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động cho vay của NHTMCP Bắc Á – Chi nhánh Thái Hà
SV: Dương Ngọc Tú
Cấp tín dụng
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Cho vay
Bao thanh toán
Bảo lãnh ngân hàng
Chiết khấu
Tái chiết khấu
Môi giới tiền tệ
Tài khoản thanh toán
Sản phẩm phái sinh
SV: Dương Ngọc Tú
2
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
1.1.1.2.Đặc điểm của ngân hàng thương mại
a.Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển
tiết kiệm thành đầu tư ,đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền
kinh tế :
- Các cá nhân và tổ chức tạp thời thâm hụt chi tiêu ,tức là chi tiêu vượt cho tiêu
dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn .
- Các cá nhân và tổ chức tạp thời thặng dư trong chi tiêu , tức làv thu nhập hiện
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
quả thanh toán qua các ngân hàng ,biến các ngân hàng thành trung tâm thanh toán
quan trọng và có hiệu quả , phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu .
c.Chất lượng dịch vụ
Dịch vụ là hướng phát triển chiến lược của các ngân hàng . Xu hướng này hình
thành nên một nền kinh tế dịch vụ tại các nước phát triển và các nước đang phát
triển như ở Việt Nam . Hơn nữa dịch vụ luôn gắn liền với nhu cầu của con người
mà nhu cầu của con người thì vô hạn . Vì vậy khả năng phát triển dịch vụ là rất to
lớn .Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy dịch vụ khách hàng hoàn hảo đã và đang
trở thành vũ khí cạnh tranh mang tính chiến lược cho các doanh nghiệp . Do đó các
ngân hàng đang chạy đua nhau về chất lượng dịch vụ cả về quy mô phát triển , tiềm
lực vốn , bề rộng hệ thống mạng lưới , cũng như chiều sâu công nghệ .
Thực tế cũng chỉ ra rằng : duy trì chất lượng dịch vụ cao có thể tạo ra lợi
nhuận , giảm chi phí và tăng thị phần của các ngân hàng . Hệ thống phân phối và
quy trình giao dịch thuận tiện và hiệu quả như hồ sơ vay vốn rõ ràng , dễ hiểu ,
cung cấp sản phẩm cho vay một cách nhanh chóng cũng là biểu hiện của dịch vụ tốt
…
d. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Nếu các doanh nghiệp sản xuất sáng tạo ra hàng hóa hữu hình (lúa, gạo, máy
móc thiết bị, v.v…) thì các NHTM sản xuất ra các hàng hóa vô hình, hay đúng hơn
là các dịch vụ. Sản phẩm của ngân hàng có đặc tính phi vật chất, luôn bị động, phụ
thuộc khách hàng. Điều khó khăn là phải xử lý các ủy nhiệm theo yêu cầu mong
muốn của khách hàng, chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện ở khả năng
hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các
nhà đầu tư có nhu cầu về vốn để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó
thúc đẩy nền kinh tế phát triển . Ngân hàng và các hoạt động ngân hàng về nguồn
vốn quyết định trực tiếp sự tồn tại và phát triển của các NHTM . Nguồn vốn đóng
vai trò chi phối và quyết định đối với các hoạt động của các NHTM trong việc thực
hiện các chức năng của mình .
Tài sản
Các loại tài sản của ngân hàng thương mại bao gồm bốn loại :
-Ngân quỹ
-Chứng khoán
-Tín dụng
-Các tài sản ngoại bảng khác
Hầu hết các tài sản của NHTM là các khoản nợ về tài chính do lợi tức của
ngân hàng thu được phần lớn từ việc cho vay và đầu tư . Việc quản lý tài sản đòi hỏi
cần phải cân nhắc các rủi ro phụ cũng như khoản chênh lệch giữa chi phí đi vay vốn
và mức lợi nhuận có thể có khi đầu tư vào tín dụng và chứng khoán . Mục tiêu của
việc quản lý tài sản nhằm đảm vảo tính thanh khoản của ngân hàng , đảm bảo đủ
vốn cho nhu cầu tín dụng hợp lệ và duy trì lãi suất cơ bản ròng và doanh lợi
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn của NHTM được thực hiện thông qua hành vi mở tài
khoản để thực hiện thanh toán cho khách hàng hoặc huy động các loại tiền gửi có
kỳ hạn không kỳ hạn của cá nhân , tổ chức kinh tế ,phát hành kì phiếu trái phiếu
hoặc đi vay các tổ chức tín dụng khác ,đi vay NHTW … Đây là nguồn để NHTM
phát tín dụng vào nền kinh tế ,còn phần vốn tự có của NHTM chủ yếu là để phục vụ
cho hoạt động xây dựng cơ sở vật chất … Có thể nói NHTM kinh doanh chủ yếu
bằng nguồn vốn huy động được ,tùy theo quy định của mỗi quốc gia mà NHTM
được phép sử dụng một tỷ lệ vốn huy động cao hay thấp để thực hiện kinh doanh .
Thông thường vốn huy động có thể gấp 20 lần vốn tự có của một NHTM . Các
nguồn mà một NHTM có thể huy động được bao gồm :
khá cao .Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay
đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng .
- Tài trợ cho dự án
Bên cạnh hoạt động cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn , các ngân hàng
ngày cằng trở nên năng động trong việc cho vay trung và dài hạn chủ yếu cho vay
xây dựng nhà máy , phát triển các ngành công nghệ cao , mua máy móc thiết bị hiện
đại … Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất .
b. Đầu tư
Hoạt động đầu tư có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng đứng thứ hai sau hoạt động cho vay , mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho
ngân hàng thương mại . Trong hoạt động đầu tư này ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn
của mình và một số nguồn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức chủ yếu như :
- Góp vốn mua cổ phần cổ phiếu của các công ty , góp vốn mua cổ phần chỉ
được thực hiện bằng vốn tự có của ngân hàng .
- Mua trái phiếu chính phủ , trái phiếu chính quyền địa phương , trái phiếu của
các công ty … tất cả các hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang
SV: Dương Ngọc Tú
6
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
lại thu nhập , mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động của
ngân hàng được phân tán ngoài ra đầu tư vào trái phiếu chính phủ có rủi ro rất thấp
SV: Dương Ngọc Tú
trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh , tiến
hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín
dụng ngắn hạn , cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán .
Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho
khách hàng . Trong những năm gần đây , nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và
phát triển mạnh .Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu
hàng hóa và trang thiết bị , phát hành chứng khoán , vay vốn của các tổ chức tín
dụng khác …
Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia
về quản lý tài chính . Vì vậy nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản
lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ .Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy
thác vay hộ , ủy thác cho vay hộ , ủy thác phát hành , ủy thác đầu tư … Thậm chí
các ngân hàng còn đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc , quản lý tài sản
SV: Dương Ngọc Tú
8
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản , bảo quản các tài sản có giá .
Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính .Ngân
hàng sẵn sang tư vấn về đầu tư , về quản lý tài chính , về thành lập , mua bán ,sát
Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi
vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay, và đầu tư
vào đâu. Trong khi đó ở các nước phát triển tình hình lại ngược lại. Vấn đề đặt ra
SV: Dương Ngọc Tú
9
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay, mà lợi tức có cao không và an
toàn không. Thậm chí những lo ngại đại loại như vậy thực tế đã không còn vì hầu
hết họ đã có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của vốn đã có pháp luật
bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày càng nhiều tiền cho các
khoản đầu tư có sẵn.
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương
mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển
của môi trường kinh tế. Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc trưng quan
trọng của nó.
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001_QĐ_NHNN ngày 31/12/2001 của
thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng và hướng dẫn thực hiện số 49/QĐ_HĐQT ngày 31/05/2002 của NHCT
Việt Nam , quyết định số 106/QĐ_HĐQT_NHCT ngày 20/08/2002 về việc cho vay
đối với khách hàng trong hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam, phân tích
đánh giá doanh nghiệp dưới giác độ tài chính - ngân hàng.
b. Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách
hàng không có nhu cầu vay thường xuyên , không có điều kiện để được cấp hạn
mức thấu chi . Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại
là chủ yếu ,chỉ khi có nhu cầu thời vụ ,hay mở rộng sản xuất kinh doanh đặc biệt
mới vay ngân hàng ,tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất
định của chu kì sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình bày ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay .Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay ,xác
định quy mô cho vay ,thời hạn giải ngân , thời hạn trả nợ , lãi suất và yêu cầu đảm
bảo nếu cần .Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ ( khế ước nhận nợ )
khác nhau .
Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng ,ngân hàng sẽ thu gốc và lãi .Trong quá
trình khách hàng sử dụng tiền vay ,ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử
dụng .Nếu thấy có vấn đề ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn , hoặc chuyển sang nợ quá
hạn .Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiêp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản .Ngân hàng có thể kiểm soát
từng món vay riêng biệt ,tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
c. Cho vay theo hạn mức
Là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng . Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì . Đó là số dư tối
đa tại thời điểm tính .Hạn mức tín dụng được cấp trên cở sở kế hoạch sản xuất kinh
doanh,nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng .
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bầy phương án sử dụng tiền vay ,nộp các
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay .Sau khi kiểm
tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ ,ngân hàng sẽ phát tiền cho khách
hàng .
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh .Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn
định trước ngày trả nợ .Khi khách hàng có thu nhập ,Ngân hàng sẽ thu nợ , do đó
hàng và số tiền cần vay .Theo hình thức này ,giá trị hàng hóa mua vào (có hóa
đơn ,hợp pháp hợp lệ đúng đối tượng ) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay ,
thu nhập bán hàng đều là nguồn để tri trả cho ngân hàng .Ngân hàng sẽ cho vay
theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người
vay .Các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo cho các
khoản vay .Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiêp xản suất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày , có quan hệ vay
trả thường xuyên với ngân hàng .
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng .Thủ tục vay chỉ cần
thực hiện một làn cho nhiều lần vay .Khách hàng được đáp ứng vốn kịp thời ,vì vậy
việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn .
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ ( hàng hóa tồn đọng . . .)
thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay
không được quy định rõ ràng.
e. Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng ,theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều làn trong thời gian tín dụng đã thỏa thuận .Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn ,tài trợ cho tài sản cố
định hoặc hàng lâu bền .Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả
năng trả nợ (thường là tù khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án ,hoặc từ thu nhập
hàng kỳ của người tiêu dùng )
SV: Dương Ngọc Tú
12
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động chung Do vậy ,khi tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến ,ngân hàng coi đó
là một thành công trong quản lý .
1.2.2.2. Bản chất của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất ,có quy mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng .Khi thực hiện một hoạt động tài
trợ cụ thể ,ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn
là cao nhất . Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro
tín dụng sẽ không xảy ra .Tuy nhiên không một nhà ngân hàng tài ba nào có thể dự
SV: Dương Ngọc Tú
13
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra . Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có
thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân .Hơn nữa nhiều cán bộ ngân hàng không có
khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng .Do vậy ,trên quan điểm quản lý
toàn bộ ngân hàng rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi , là khách quan . Nhiều
quan điểm nhất trí rằng ,rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh , có thể đề
phòng hạn chế ,chứ không loại trừ . Do vậy rủi ro dự kiến luôn được xác định trước
trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng .
1.2.2.3.Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
A. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
a. Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
kèm theo liên quan đến hoạt động của ngân hàng . Tuy nhiên , luật và các văn bản
đó khi triển khai vào hoạt động tín dụng ngân hàng thì hết sức chậm rãi và gặp
nhiều bất cập như các văn bản về cưỡng chế thu hồi nợ . Trên thực tế NHTM không
là được điều này vì NH không phải là cơ quan quyền lực nhà nước nên không có
chức năng cưỡng chế khách hàng bàn giao tài sản cho ngân hàng để xử lý mà cần
phải thông qua tòa án điều này gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động thu hồi nợ và
xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng
Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được hoạt động thanh tra ngân hàng và
đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng . Năng lực cán
bộ thanh tra , giám sát chưa đáp ứng yêu cầu , thậm chí một số nghiệp vụ kinh
doanh và công nghệ mới thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp .Nội dung và
phương pháp thanh tra còn lạc hậu chưa được đổi mới . Vai trò kiểm toán chưa
được phát huy , hệ thống thông tin chưa dược tổ chức một các hợp lý .Thanh tra tại
chỗ vẫn là hoạt động chủ yếu , ngoài ra thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách
bị động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh nên ít có khả năng ngăn chặn và phòng
ngừa vi phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều hạn chế nên có
những sai phạm của các NHTM không được NHNN thông báo kịp thời dẫn đến
những rủi ro rất lớn ,có nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn của cả hệ thống ngân
hàng .
Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng . Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng ( CIC )của NHNN
đã hoạt động qua một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích
tài chính kế toán theo quy định . Quy mô kinh doanh quá lớn so với năng lực quản
lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà
đáng ra nó phải thành công trên thực tế
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
Quy mô tài sản , nguồn vốn nhỏ bé , tỷ lệ nợ quá cao so với vốn tự có cao là
đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam . Ngoài ra ,thói quen ghi
chép đầy đủ , chính xác , rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh
nghiệp tuân thủ nghiêm ngặt và trung thực .Do vậy sổ sách kế toán mà các doanh
nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực
chất . Khi cán bộ ngân hàng lập các bản báo cáo tài chính doanh nghiệp dựa trên số
liệu do các doanh nghiệp cung cấp thường thiếu chính xác và trung thực . Đây cũng
là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là
chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
b. Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hợn thanh tra ngân hàng ở tính thời gian vì nó
nhanh chóng kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm
tra viên do việc kiểm tra được thực hiện thương xuyên cùng với công việc kinh
doanh . Nhưng trong thời gian trước đây , công việc kiểm nội bộ của các ngân hàng
hầu như chỉ tồn tại trên hình thức . Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống
thắng của cỗ xe tín dụng . Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng
phải an toàn , hiệu quả thì mới tránh khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn tồn tại
thường trực .
Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Một số vụ án kinh tế trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ ngân
hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay vốn , định giá cao tài sản thế chấp ,
cầm cố lên quá cao so với thực tế rút tiền của ngân hàng . Đạo đức của cán bộ ngân
hàng là yếu tố quan trọng trong việc hạn chế rủi ro tín dụng . Một cán bộ kém về
SV: Dương Ngọc Tú
đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn
tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào.
1.2.2.4. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với việc ngân hàng phải gánh chịu một khoản tổn
thất trong lợi nhuận, thậm chí có thể dẫn đến phá sản ngân hàng. Không dừng lại
đó, tác động dây chuyền trong hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến những ảnh hưởng
xấu đối với hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Đối với ngân hàng thương mại
Khi rủi ro tín dụng xảy ra ảnh hưởng xấu đến chính bản thân ngân hàng cho
vay:
Thứ nhất, làm giảm lợi nhuận của NHTM : Khi có rủi ro tín dụng sẽ phát sinh
các khoản nợ khó thu hồi. Ảnh hưởng đầu tiên của nó đến hoạt động ngân hàng là
làm tồn đọng vốn dẫn đến làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng. Đồng thời , khi
có quá nhiều các khoản nợ khó đòi hoặc không thu hồi được sẽ làm phát sinh các
khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ các khoản nợ khó đòi này ... Các chi phí này
SV: Dương Ngọc Tú
17
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
có thể còn cao hơn khoản thu nhập từ việc áp dụng lãi suất quá hạn bởi vì thực ra
đây chỉ là những khoản thu nhập ảo, thực tế ngân hàng rất khó có khả năng thu hồi
được chúng. Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động
được trong khi một bộ phận tài sản của ngân hàng không thu được lãi cũng như
hàng đang gặp khó khăn thì lại càng khó khăn hơn. Nguy cơ không có đủ tiền để trả
SV: Dương Ngọc Tú
18
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm
nợ cho ngân hàng là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến việc phát mại tài sản thế
chấp, đôi khi dẫn đến phá sản cho khách hàng.
Ngoài ra, khi ngân hàng không thu được nợ của khách hàng đầy đủ và đúng
hạn, đây sẽ là dấu hiệu xấu nói lên hoạt động kinh doanh yếu kém không hiệu quả
của khách hàng và làm giảm uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Họ sẽ gặp
nhiều khó khăn khi muốn tiếp tục xin vay tại ngân hàng những lần sau đó. Mặt
khác, thông tin này sẽ được cập nhật vào hệ thống thông tin về khách hàng giữa các
ngân hàng, họ cũng sẽ khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ các ngân hàng khác.
Đồng thời, các bạn hàng của doanh nghiệp cũng sẽ do dự khi thiết lập quan hệ kinh
tế với doanh nghiệp. Thậm chí các chủ nợ khác của doanh nghiệp cũng sẽ đến đòi
nợ doanh nghiệp dù các món nợ chưa đến hạn. Dù doanh nghiệp có thể thanh toán
được tất cả các món nợ đó thì uy tín của doanh nghiệp trên thương trường vẫn bị
suy giảm.
Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi
ro. Chỉ một ảnh hưởng nhỏ cũng có thể gây tác động lớn đối với nền kinh tế.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động có tính xã hội hoá cao, có nhiều mối quan
hệ phức tạp với nhiều chủ thể như người gửi tiền, người vay vốn, người sử dụng các
yếu đối với sự tồn tại của ngân hàng và đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đặc
biệt là trong điều kiện hiện nay, hoạt động của ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động tín dụng ngày càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn và rủi ro tín dụng ngày
càng phức tạp hơn. Một phương thức quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả là yêu cầu
cấp thiết đối với các NHTM trong công cuộc đổi mới và phát triển hiện nay.
1.2.2.5 Quan điểm về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay
Có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay mà chúng ta có
thể dẫn ra là:
Rủi ro trong hoạt động cho vay theo định nghĩa của Uỷ ban Basel: “Rủi ro
trong hoạt động cho vay là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không
thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”; cũng
theo Uỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với
một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng”, trong đó sự vỡ nợ
được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi
hoàn trả gốc và/hoặc lãi”.
Theo quyết định 493/QĐ-NHNN, của Thống đốc NHNN, tại khoản 1, điều
2 đề cập khái niệm “Rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng của TCTD là
khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức cho vay do khách
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo
cam kết”
Tuy nhiên có thể có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về rủi ro tín dụng
trong hoạt động cho vay, song các quan niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay đều
có chung bản chất đó là: Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng (hay xác
xuất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng
vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc
và/hoặc lãi).
1.2.2.6 Các loại rủi ro tín dụng thường gặp trong hoạt động cho vay
Rủi ro ngân hàng không những là nổi ám ảnh của hệ thống ngân hàng một
nước mà còn là nổi ám ảnh chung của hệ thống ngân hàng trên thế giới. Những bất
ngờ luôn xảy ra ngay cả đối với các ngân hàng có đội ngũ nhân sự giỏi nhất, nhiều
Là rủi ro xảy ra khi cho các khách hàng là cá nhân vay vốn. Thông thường số
lượng khách hàng sẽ rất nhiều, tuy nhiên mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn lẻ
sẽ thấp, mức độ ảnh hưởng của việc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là
nhỏ; loại hình giao dịch, cơ cấu giao dịch dễ quản lý.
b. Rủi ro khách hàng doanh nghiệp , tổ chức kinh tế
Đây là rủi ro khi cho khách hàng là doanh nghiệp , tổ chức kinh tế vay vốn.
Tùy theo qui mô của từng doanh nghiệp , tổ chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ
ảnh hưởng của rủi ro các khoản vay vào đối tượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa
hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanh toán khoản nợ là vừa hay cao.
c. Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý:
Những ngân hàng hoạt động phạm vi toàn cầu có sự phân chia theo lãnh thổ
quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc gia phân chia rủi ro tín dụng trong hoạt động
cho vay tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ như mức độ rủi ro khu vực Miền Bắc,
Miền Trung, Miền Nam.
Phân loại rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay
theo giai đoạn phát sinh
B.
Rủi ro trong thẩm định
Là rủi ro mà NHTM đánh giá sai khách hàng. Do hiện tượng không đủ thông
tin dẫn đến “thông tin không cân xứng” làm cho NHTM thường chấp nhận cho các
khách hàng có khả năng trả nợ kém vay vốn dẫn đến rủi ro không thu hồi được vốn
sau khi cho vay. Hơn nữa, do thiếu thông tin và tin tưởng vào tài sản đảm bảo, bảo
lãnh, bảo hiểm từ phía khách hàng dẫn đến đánh giá sai giá trị các khoản thế chấp,
SV: Dương Ngọc Tú
21
tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng vào việc khác không thu
được nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu được nợ.
1.2.3. Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại
1.2.3.1 Khái niệm quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay
Quản lý rủi ro nói chung trong kinh doanh của
ngân hàng thương mại
A.
Hầu như tất cả mọi việc chúng ta đang làm nhằm mục đích kinh doanh đều
liên quan đến một loạt rủi ro nào đó: thói quen của khách hàng thay đổi, sự xuất
hiện của đối thủ cạnh tranh mới, những yếu tố mới nằm ngoài tầm kiểm soát...nếu
biết cách phân tích và quản lý rủi ro, NHTM có thể quyết định nên thực hiện những
gì để giảm thiểu những nhân tố làm xáo trộn kế hoạch kinh doanh.
Quản lý rủi ro là quá trình ngăn ngừa tiềm năng xuất hiện một kết quả không
mong đợi của các biến cố sẽ xảy ra trong tương lai. Hay nói cách khác, quản lý rủi
ro là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về tài
sản và thu nhập từ các hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ của một tổ chức.
Quản lý rủi ro không có nghĩa là né tránh rủi ro mà là đối diện với rủi ro để lựa
chọn rủi ro nào sẽ lưu giữ và rủi ro nào phải chuyển giao. Mục tiêu của quản lý rủi
ro là : tối thiểu hóa hậu quả của tổn thất, loại trừ tổn thất từ các rủi ro bất ngờ, tối
thiểu hóa tổn thất có thể xuất hiện
Quản trị lý ro của NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có
hướng đích của các nhà quản lý ngân hàng lên các đối tượng quản lý và khách thể
kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh
doanh từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu
tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi NHTM
SV: Dương Ngọc Tú
Tóm lại, có thể có nhiều khái niệm về quản lý rủi ro trong hoạt động
cho vay ở các góc độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau chúng ta có thể diễn
giải khái niệm quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay là quá trình các ngân hàng
tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt
động cấp vốn vay, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể
chấp nhận được .
Các bước cơ bản của quá trình quản lý rủi ro tín
dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại
C.
Trên thực tế, quá trình quản lý rủi ro có 4 khâu: xác định; đo lường; quản lý và
kiểm soát. Điều quan trọng quá trình quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay muốn
đạt hiệu quả thì phải bảo đảm rằng các công đoạn như phát hiện kịp thời, xác định
được rủi ro đang tồn tại, phân tích và định lượng nó để từ đó có công cụ cũng như
biện pháp ứng phó.
a. Xác định , phát hiện rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay
Đây là việc nhận biết được các nguy cơ rủi ro tồn tại trong hoạt động cho vay.
Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu hướng toàn cầu hoá làm cho số lượng
SV: Dương Ngọc Tú
24
Lớp: Thị trường chứng khoán 50
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Trần Đăng Khâm