Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Hoạt động ngân hàng ngày nay được coi là “mạch máu của nền kinh tế”. Ngân hàng
cung cấp rất nhiều các sản phẩm, dịch vụ khác nhau song đem lại doanh thu lớn nhất cho
ngân hàng vẫn là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể
cho Ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất. Như một hệ quả,
rủi ro khiến ngân hàng bị lỗ và bị phá sản. Nó sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu người gửi tiền,
hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng vốn, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả
tăng cao, sức mua giảm sút, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo
theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng trong nước cũng như khu vực ảnh hưởng xấu
đến toàn bộ nền kinh tế.
Năm 2010 có thể nói là năm đầy thử thách với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các tổ
chức tín dụng ngân hàng đối diện với rất nhiều sức ép của quá trình suy thoái toàn cầu. Sự
cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn dưới sức ép lộ trình tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ
đồng vào năm 2015 do Ngân hàng nhà nước quy định đòi hỏi các ngân hàng phải bước
vào cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Điều này buộc ngân hàng phải có chiến lược phù
hợp, công tác dự báo và điều hành sát thực tiễn đồng thời cần tăng cường năng lực tài
chính, quản trị, quản lý rủi ro đối phó với những rủi ro có thể phát sinh. Về hoạt động tín
dụng, năm 2010 hoạt động tín dụng tăng 27,65%, vượt qua mục tiêu 25% ban đầu, nhưng
sự tăng trưởng không đều trong năm tạo ra những khó khăn mang tính chất cục bộ và thời
điểm, giảm hiệu quả và ý nghĩa của mục tiêu đề ra của hệ thống ngân hàng. Tài sản sinh
lời là các khoản cấp tín dụng luôn chiếm tỷ trọng khá lớn 60% - 70% tài sản có, thậm chí
một số ngân hàng thương mại tỷ lệ này lên đến 80%. Ngân hàng TMCP Xăng dầu
Petrolimex (PG Bank) cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Hiện nay PG Bank đang
không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đặc biệt trong hoạt động tín dụng.
Tính đến 31/12/2010, dư nợ tín dụng đạt 10,886 tỷ đồng, tăng 73.7% so với năm 2009,
hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho PG Bank.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: quản lý RRTD tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: công tác quản lý RRTD tại Ngân hàng TMCP Xăng
dầu Petrolimex trong giai đoạn 2010-2012
4. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để xem xét
các sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng và thường xuyên
có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, phương pháp phân tích tổng hợp số liệu thực tế,
vận dụng lý luận vào thực tiễn để giải thích nguyên nhân từ đó đưa ra các giải pháp thích
hợp.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Xăng
dầu Petrolimex.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Xăng dầu Petrolimex.
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
3
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Đây là loại rủi ro do khách hàng không thực hiện đúng các điều khoản cam kết, tức
khách hàng không có khả năng hoàn trả đúng hạn làm cho các khoản cho vay của ngân
hàng bị bất động hoá ( xét trên khía cạnh thời gian).
1.1.2.2. Rủi ro mất vốn.
Đây là loại rủi ro khi khách hàng không trả một phần hoặc toàn bộ khoản vay ( xét trên
khía cạnh số lượng), từ đó làm giảm vốn tự có và sức mạnh tài chính của ngân hàng.
Tóm lại : Để thực hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao, điều không thể không làm là
phòng ngừa và hạn chế rủi ro một cách tối thiểu, để vừa đảm bảo cho vay có điều kiện
phát triển sản xuất kinh doanh trong khi bên cho vay vẫn thu hồi được gốc và có lãi.
1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
− RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng đã chuyển giao toàn
bộ quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định. RRTD xảy ra chủ
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
5
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
yếu khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn mà ngân
hàng khó có thể kiểm soát hết được.
− RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức
tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD. Do đó, khi phòng ngừa và xử lý
RRTD cần phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, mọi nguyên nhân và hậu quả do RRTD
gây ra để có các biện pháp phòng ngừa và xử lý thích hợp.
− RRTD mang tính tất yếu: nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của
ngân hàng. Tình trạng thông tin không cân xứng làm cho ngân hàng không thể nắm bắt
được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản
vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng.
1.1.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.1.4.1. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
được phải hạch toán vào chi phí hoạt động và lấy quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp tổn thất
chính vậy nên làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là một chỉ tiêu trực tiếp phản ánh rủi ro. Nó cho thấy trong
một đồng đem cho vay có bao nhiêu đồng bị tổn thất. Nói cách khác, chỉ tiêu này phản ánh
mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu
Tổng dư nợ
1.1.4.4. Tình hình rủi ro mất vốn:
+ Tỷ lệ dự phòng RRTD:
Tỷ lệ dự phòng RRTD =
Dự phòng RRTD được trích lập
Dư nợ cho kỳ báo cáo
Dự phòng RRTD được trích lập bao gồm cả dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Tỷ lệ
dự phòng RRTD cho ta biết trong cơ cấu NQH thì nhóm nợ xấu, đặc biệt là nợ nhóm 5 có
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
7
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
chiếm tỷ trọng cao không. Tỷ lệ này càng cao hay số tiền trích lập DPRR càng lớn chứng
tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp.
+ Tỷ lệ mất vốn:
Tỷ lệ mất vốn =
Dư nợ mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo
Dư nợ trung bình cho kỳ báo cáo
Dư nợ mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo là các khoản nợ đã được xóa ở nội bảng nhưng
vẫn được tiếp tục theo dõi ngoại bảng để thu hồi, tuy nhiên, khả năng thu hồi được rất thấp
nên coi như là nợ mất vốn. Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng nợ đã được xóa ở nội bảng trong
hàng
1.1.5. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng.
1.1.5.1 Rủi ro tín dụng làm giảm phát sinh tăng chi phí, giảm lợi nhuận ngân hàng.
Khi các ngân hàng xuất hiện những khoản nợ quá hạn, trước mắt là sẽ phát sinh các
khoản chi phí và thời gian trong việc thu hồi nợ. Nếu các khoản nợ này có liên quan đến
nhiều bên thì khoản chi phí này càng cao. Bên cạnh đó các khoản nợ quá hạn làm chậm lại
vòng quay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tư khác của mình, đó là chưa kể đến sự
ảnh hưởng lớn của nợ quá hạn với tâm lý cuả cán bộ tín dụng. Nợ quá hạn khi chuyển
thành nợ xấu không thu hồi được phải hạch toán vào chi phí hoạt động và lấy quỹ dự
phòng rủi ro để bù đắp làm tăng chi phí, từ đó làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh
doanh, giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Trong trường hợp Ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũng làm Ngân hàng
mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng mang lại lợi nhuận.
1.1.5.2 Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng.
Rủi ro tín dụng đã khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của Ngân hàng gặp nhiều khó khăn.
Các khoản đầu tư, cho vay bị thoất thoát hoặc chậm thu hồi trong khi Ngân hàng vẫn phải
đều đặn trả lãi vốn huy động theo đúng kỳ hạn. Chính điều này đã làm hạn chế khả năng
thanh toán của Ngân hàng.
1.1.5.3 Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và khả năng kinh doanh của ngân hàng. NHTM gặp
nhiều rủi ro là Ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Điều này làm cho uy tín của ngân hàng
bị giảm sút một cách trầm trọng dẫn đến việc khách hàng mất lòng tin ở Ngân hàng. Đây
quả thực là một sự thiệt hại vô hình không thể lường hết được.
1.1.5.4 Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản Ngân hàng.
Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đối với dân chúng. Họ
lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở
một Ngân hàng khác. Trường hợp nghiêm trọng xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền
về dẫn đến sự phá sản thực sự của Ngân hàng.
mang tính xã hội cao. Khi hệ thống pháp luật ổn định, lành mạnh, hành lang pháp lý chặt
chẽ, thông thoáng và có hiệu lực sẽ làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế giữa các tổ
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
10
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
chức kinh tế với nhau, cũng như giữa các tổ chức kinh tế đó với Ngân hàng. Ngược lại, hệ
thống pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng, gây ra tình
trạng mánh khoé, lừa đảo và gây thiệt hại lẫn nhau, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh
toán đối với Ngân hàng, thậm chí trực tiếp lừa đảo chiếm dụng vốn của Ngân hàng, điển
hình như vụ án Epco - Minh Phụng… đã gây xôn xao dư luận.
Ngoài ra, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ có ảnh hưởng không nhỏ
đến hoạt động của Ngân hàng. Việc Chính phủ điều chỉnh lãi suất chiết khấu, lãi suất tái
chiết khấu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay các nghiệp vụ thị trường mở sẽ gây ảnh
hưởng trực tiếp cho các NHTM, thường là những ảnh hưởng không tích cực cho hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu NHTM biết nắm bắt thông tin kinh tế một cách
kịp thời thì sẽ hạn chế được rủi ro xảy ra.
d. Nguyên nhân từ môi trường chính trị- xã hội.
Môi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp luôn phải đặt trong tình trạng chiến tranh, cấm vận kinh tế
hay bất ổn về chính trị, tệ nạn xã hội tràn lan thì sẽ dần đễn sự kìm hãm sản xuất, từ đó
gây ra rủi ro đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với hoạt động tín dụng của ngân
hàng nói riêng.
Bên cạnh đó, các yếu tố xã hội như thói quen, truyền thống, tập quán, trình độ văn hoá
của người dân ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, cần đặc biệt
quan tâm đến để tránh việc đưa ra các sản phẩm tín dụng không phù hợp.
Tất cả những nguyên nhân trên nếu không được dự báo, và có biện pháp phòng ngừa kịp
thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh và điều kiện kinh doanh của
1.1.6.3. Nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng.
- Khó định giá các tài sản dùng làm bảo đảm tín dụng có thể dẫn đến định giá quá
cao.
- Giá cả biến động theo chiều hướng bất lợi.
- Tính khả mại thấp, tài sản chuyên dụng.
- Khó có khả năng tiếp cận, nắm giữ các tài sản bảo đảm để xử lý chúng do người
vay vi phạm hợp đồng về việc bảo quản duy trì tài sản, do đặc tính của tài sản
hoặc do thiếu các cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản.
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
12
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
Tóm lại: Rủi ro tín dụng là một đặc thù, một tất yếu khách quan trong hoạt động kinh
doanh tín dụng của NHTM. Loại bỏ hoàn toàn rủi ro là điều không thể nhưng phòng
ngừa và hạn chế nó (đặc biệt là những nguyên nhân dẫn đến rủi ro mang tính chủ quan)
là điều mà các nhà Ngân hàng có thể làm được.
1.2. QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản trị lên
các đối tượng bị quản trị và các khách thể kinh doanh nhằm sử dụng tốt nhất mọi tiềm
năng, cơ hội để đạt được các mục tiêu chung đã đề ra trong môi trường kinh doanh luôn
biến động.
Quản trị RRTD là một quá trình từ việc hoạch định chiến lược đến việc tổ chức thực
hiện, điều khiển và kiểm soát việc thực hiện chiến lược, phòng ngừa, hạn chế và xử lý rủi
ro trong hoạt động tín dụng mà NHTM đã đề ra. Quản trị rủi ro ngày càng chứng tỏ tính
độc lập tương đối của nó trong hệ thống các hoạt động quản trị doanh nghiệp.
1.2.2. Sự cần thiết của công tác Quản lý rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Đối với bản thân ngân hàng.
đầu năm 2008 đã ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế thế giới.
Tóm lại, hoạt động quản trị RRTD giúp ngân hàng vững vàng hơn trong xử lý mối quan
hệ giữa rủi ro và lợi nhuận, qua đó tránh được thiệt hại và đem lại lợi ích cho bản thân
ngân hàng, cho khách hàng, rộng lớn hơn là cho toàn xã hội.
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
14
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
1.2.3. Nhiệm vụ của công tác Quản lý rủi ro tín dụng
− Hoạch định phương hướng và kế hoạch phòng chống rủi ro. Nhiệm vụ này bao gồm
dự đoán, xác định rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân dẫn đến
rủi ro và hậu quả ra sao.
− Tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt
được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể chấp nhận được.
− Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát, phòng chống rủi
ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ phòng
chống rủi ro, xử lý và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.
− Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống
rủi ro, từ đó phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, đánh giá hiệu
quả công tác phòng chống rủi ro và đề nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm
hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro.
1.2.4. Nội dung Quản trị rủi ro tín dụng
Hiện nay, các NHTM trên thế giới cũng như Việt Nam đều thực hiện quy trình quản lý
RRTD theo các bước: (i) nhận biết rủi ro ; (ii) đo lường rủi ro; (iii) quản lý rủi ro; (iv)
kiểm soát và xử lý rủi ro.
1.2.4.1. Công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng
Muốn công tác phòng ngừa có hiệu quả, việc trước hết cần phải làm đó là xác định cho
được các dấu hiệu của RRTD. Có thể các dấu hiệu đến từ phía ngân hàng và cũng có thể
tín dụng. Các tiêu chí này nhằm đảm bảo quyền lợi cho ngân hàng trước pháp luật khi có
tranh chấp xảy ra.
(3) Cash (Thu nhập của người vay): Tiêu chí này để trả lời cho câu hỏi: Người vay
có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ cho ngân hàng hay không?
Đối với khách hàng cá nhân, khả năng tạo ra tiền để trả nợ chính là nguồn thu nhập
hàng tháng cộng với giá trị tài sản thuộc sở hữu của họ.
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, nói chung có ba khả năng tạo ra tiền dùng để trả nợ
cho ngân hàng đó là: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập; bán thanh lý tài
sản; tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn.
Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân
hàng. Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
16
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
đầu tiên và căn bản để trả nợ vay ngân hàng. Điều này là vì: việc bán thanh lý tài sản có
thể làm cho năng lực người vay trở nên yếu đi, khiến cho ngân hàng là chủ nợ trở nên ít
được bảo đảm.
(4) Collateral (Đảm bảo tiền vay): Những điều kiện đảm bảo tiền vay sẽ giúp cho
ngân hàng có thể giải quyết tốt được những vấn đề khi rủi ro tín dụng phát sinh. Tài sản đảm
bảo là tấm đệm an toàn cho ngân hàng khi thực hiện cho vay, do đó, cần quan tâm đến tính
khả mại của tài sản đảm bảo và vị thế của ngân hàng đối với tài sản khi phải phát mại. Nếu
khoản vay dựa trên bảo lãnh, thì uy tín và năng lực của người bảo lãnh là vô cùng quan trọng.
(5) Conditions (Các điều kiện): Môi trường kinh doanh của khách hàng, xu hướng
ngành nghề, địa vị cạnh tranh hiện tại của khách hàng trong môi trường ngành đó và thị
phần dự kiến là những yếu tố để đánh giá khả năng thành công của phương án kinh doanh.
Thêm vào đó còn phải tính đến mức độ nhạy cảm của khách hàng khi có những biến động
trên thị trường chung, nếu khách hàng là đối tượng quá nhạy cảm thì khả năng tài chính
+ 3,3X
3
+ 0,6X
4
+ 0.99X
5
X
1
= Tài sản lưu động/Tổng tài sản có ( Working Capitals/ Total Assets)
X
2
= Lợi nhuận tích lũy/Tổng tài sản có ( Retain Earrnings/ Total Assets)
X
3
= Lợi nhuận trước thuế và lãi/ Tổng tài sản có ( EBIT/ Total Assets)
X
4
= Giá thị trường của vốn tự có/Giá kế toán của các khoản nợ ( Market Value of
Total Equity/ Book values of total Liabilities)
X
5
= Doanh thu/ Tổng tài sản có ( Sales/ Total Assets)
Chỉ số biến động Z đo lường toàn bộ mức độ rủi ro của người vay. Giá trị của Z càng
lớn thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp, mức độ rủi ro dự tính của người vay càng
nhỏ.
Z > 2,99: Người vay không có khả năng vỡ nợ
1,81 > Z > 2,99: Không xác định được
Z < 1,81: Người vay có khả năng rủi ro cao
Mô hình này có ưu điểm là kỹ thuật đo lường RRTD tương đối đơn giản, tuy nhiên nó
lại có rất nhiều hạn chế:
AA Aa Chất lượng cao, rủi ro thấp.
Độ rủi ro chỉ cao hơn hạng AAA
một bậc.
A A Chất lượng khá, tuy vậy có thể bị
ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế
Trái phiếu có thể đầu tư
BBB Baa Chất lượng trung bình, an toàn
trong thời gian hiện tại, tuy vậy
có ẩn chứa một số yếu tố rủi ro.
BB Ba Chất lượng trung bình thấp, có
thể gặp khó khăn trong việc trả
nợ, bị ảnh hưởng đối với sự thay
đổi của tình hình kinh tế
Trái phiếu có độ rủi ro
cao.
B B Chất lượng thấp, rủi ro cao, có
nguy cơ không thanh toán đúng
hạn.
Trái phiếu không nên
đầu tư
CCC Caa Rủi ro cao, chỉ có khả năng trả nợ
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
19
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
nếu tình hình kinh tế khả quan
CC Ca Rủi ro rất cao, rất gần phá sản
C C Rủi ro rất cao, khó có khả năng
6
4
2
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
20
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
3. Xếp hạng tín dụng
Tốt
Trung bình
Không có hồ sơ
Tồi
10
5
2
0
4. Kinh nghiệm nghề nghiệp
Nhiều hơn một năm
Từ một năm trở xuống
5
2
5. Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành
Nhiều hơn một năm
Từ một năm trở xuống
2
1
6. Điện thoại cố định
Có
21
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục tiêu nêu trên là 43 điểm, thấp
nhất là 9 điểm. Giả sử ngân hàng biết mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín
dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu, từ đó ngân hàng hình thành khung chính sách tín
dụng theo mô hình điểm như sau:
Khung chính sách tín dụng tiêu dùng
Tổng điểm số cho khách hàng Quyết định tín dụng
28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng
29 – 30 điểm Cho vay đến 500 USD
31 – 33 điểm Cho vay đến 1.000 USD
34 – 36 điểm Cho vay đến 2.500 USD
37 – 38 điểm Cho vay đến 3.500 USD
39 – 40 điểm Cho vay đến 5.000 USD
41 – 43 điểm Cho vay đến 8.000 USD
(Nguồn: Federal Deposit Insurance Corporation - FDIC)
Mô hình này có ưu điểm là loại bỏ được sự phán xét chủ động trong quá trình cho vay và
giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là không thể
tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và
cuộc sống gia đình.
1.2.4.3. Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng
Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng là một nội dung rất phức tạp và bao gồm nhiều hoạt
động, liên quan đến nhiều cấp cán bộ trong ngân hàng. Hoạt động tín dụng sẽ hiệu quả và
lành mạnh nếu ngân hàng thực hiện được các công việc sau:
1, Xây dựng được một hệ thống chính sách tín dụng, quy trình và cơ cấu tổ chức chuẩn để
hướng dẫn cán bộ tín dụng thực thi công việc.
2, Có chế tài giám sát để đảm bảo rằng hoạt động tác nghiệp của các bộ tín dụng tuân thủ
chặt chẽ quy trình.
+ Nguyên tắc 8: Áp dụng quy trình quản lý tín dụng có hiệu quả và đầy đủ đối với các
danh mục tín dụng.
+ Nguyên tắc 9: Có hệ thống kiểm soát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản tín
dụng riêng lẻ, đánh giá tính đầy đủ của các khoản dự phòng RRTD.
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
23
Khóa luận tốt nghiêp Học viện Ngân
hàng
+ Nguyên tắc 10: Xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ, hệ thống đánh giá
cần phải nhất quán với các hoạt động ngân hàng.
+ Nguyên tắc 11: Hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích giúp Ban Quản Lý đánh giá
RRTD cho các hoạt động trong và ngoài Bảng Cân Đối Kế Toán.
+ Nguyên tắc 12: Có hệ thống nhằm kiểm soát đối với cơ cấu tổng thể, chất lượng của
danh mục tín dụng.
+Nguyên tắc 13: Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh tế có thể xảy ra
trong tương lai.
* Đảm bảo quy trình kiểm soát đầy đủ với RRTD
+ Nguyên tắc 14: Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục, cần thông báo
kết quả đánh giá cho Hội Đồng Quản Trị và Ban Quản Lý Cấp Cao.
+Nguyên tắc 15: Quy trình cấp tín dụng cần phải được theo dõi đầy đủ, cụ thể: việc cấp tín
dụng phải tuân thủ với các tiêu chuẩn thận trọng, thiết lập và áp dụng kiểm soát nội bộ,
những vi phạm về các chính sách, thủ tục và hạn mức tín dụng cần được báo cáo kịp thời.
+ Nguyên tắc 16: Có hệ thống quản lý đối với các khoản mục tín dụng phát hiện thấy có
vấn đề.
1.2.4.4. Chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
− Hoán đổi tín dụng
Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng là thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhằm trao đổi
rủi ro tín dụng giữa hai bên. Người mua bảo hiểm rủi ro tín dụng muốn được bảo hiểm rủi
kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản. Với bốn chủ thể kinh tế, người
thế chấp và đi vay, tổ chức tập hợp và đóng gói tài sản thế chấp rồi phát hành chứng
khoán, nhà đầu tư và mua bán chứng khoán, tổ chức tín dụng, rủi ro được chuyển từ tổ
chức tài chính sang nhà đầu tư trái phiếu đảm bảo bằng tài sản.
− Cho vay hợp vốn
Một khoản vay hợp vốn cũng giống như các khoản tín dụng thông thường khác, chỉ khác
là giá trị của các khoản vay thường lớn, và cần cơ cấu phức tạp.
Hoàng Mai Linh NHA- LTĐH8
25