Phân tích cơ sở pháp lýcho hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thực trạng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại tổ chức tín dụng - Pdf 31

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................................................1

Bảo lãnh ngân hàng đã hình thành và phát triển từ rất lâu trên thế giới nhưng ở
Việt Nam, những năm gần đây, loại hình dịch vụ này nói riêng cùng với hoạt động
ngân hàng nói chung mới đang trên đà phát triển. Hiện nay, bảo lãnh ngân hàng đã
phát triển rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, là loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động
tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch về dự thầu, thực
hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… Bảo lãnh ngân hành tỏ ra là công
cụ hữu hiệu giúp các nhà kinh doanh tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng lớn hoặc
có cơ hội nhập khẩu các hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài một cách dễ dàng và
thuận lợi. Hơn thế nữa, nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà các bên giao dịch có thể
giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, từ đó xúc tiến hàng loạt các quan hệ hợp đồng
trong nền kinh tế mở hiện nay.
Xuất phát từ sự phát triển của hoạt động bảo lãnh ngân hàng cũng như vai trò
tích cực của nó đối với nền kinh tế, em xin chọn đề bài “Phân tích cơ sở pháp lý
cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thực trạng hoạt động bảo lãnh ngân hàng
tại tổ chức tín dụng” là đề tài nghiên cứu của bài tập này.

I. CƠ SỞ PHÁP LÍ
1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, là việc
người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực


2

hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu đến hạn mà bên
được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. 1 Khi hoạt



3

thể hủy bỏ hợp đồng bảo lãnh bằng cách đó vì với các nghiệp vụ chuyên môn như
thẩm định, điều tra họ buộc phải nắm được tình hình tài chính của khách hàng
trước khi quyết định kí kết hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.
Thứ ba, giao dịch bảo lãnh ngân hàng có kết quả là tạo lập hai hợp đồng:
hợp đồng dịch vụ bảo lãnh (giữa TCTD và khách hàng) và cam kết bảo lãnh
(giữa TCTD và người có quyền) . Hai hợp đồng này có mối quan hệ nhân quả với
nhau, theo đó hợp đồng dịch vụ bảo lãnh là căn cứ để hình thành cam kết bảo lãnh,
còn cam kết bảo lãnh là bằng chứng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ bảo lãnh.
Tuy nhiên chúng vẫn hoàn toàn độc lập với nhau về phương diện chủ thể cũng như
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Tính độc lập thể hiện ở chỗ hợp đồng này vô
hiệu không thể kéo theo hợp đồng kia vô hiệu. Đồng thời, việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này không bị phụ thuộc vào việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kia.
Thứ tư, giao dịch bảo lãnh ngân hàng là giao dịch “kép” bởi như đã nói ở
trên khi giao dịch, TCTD phải tiến hành kí kết hợp đồng dịch vụ bảo lãnh trước rồi
sau đó phát hành cam kết bảo lãnh. Hai hành vi này tuy đều do một chủ thể là
TCTD thực hiện nhưng vẫn là hai hành vi độc lập.
Thứ năm, bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa
trên chứng từ. Tính chất chứng từ thể hiện ở chỗ khi TCTD phát hành cam kết bảo
lãnh hay khi thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, cũng như khi người nhận bảo
lãnh thực hiện quyền yêu cầu, các chủ thể đều bắt buộc phải thiết lập bằng văn bản.
Những văn bản đó sau này là bằng chứng chứng minh quyền,nghĩa vụ của các bên,
tạo cơ sở pháp lí để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với bên kia.
Thứ sáu, bảo lãnh ngân hàng mang tính vô điều kiện, độc lập. Tính chất vô
điều kiện của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở nguyên tắc TCTD bảo lãnh phải thực
hiện nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh khi người này yêu cầu, ngay sau khi họ

lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh thường là các chủ thể kinh doanh bao gồm các
3
4

Điều 98, 108 Luật các tổ chức tín dụng 2010
Điều 7 Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN


5

tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Sau khi xem xét các điều kiện bảo lãnh quy
đinh tại Điều 8 Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế bảo lãnh ngân
hàng do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành, TCTD còn phải lưu ý đến
những đối tượng sau đây không được bảo lãnh:
- Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc),
Phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của TCTD;
- Cán bộ, nhân viên của TCTD đó thực hiện thẩm định, quyết định bảo lãnh;
- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của TCTD; nếu là
bố, mẹ, vợ, chồng, con của giám đốc, phó giám đốc chi nhánh của TCTD thì việc
chấp nhận bảo lãnh hay không sẽ do TCTD xem xét quyết định.
3.3.Bên nhận bảo lãnh
Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ
hưởng bảo lãnh của TCTD. Tuy pháp luật không quy định cụ thể nhưng về nguyên
tắc, khi tham gia quan hệ bảo lãnh ngân hàng, bên nhận bảo lãnh phải thỏa mãn
một số điều kiện nhất định như có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
có các giấy tờ, tài liệu hay bằng chứng khác chứng minh quyền chủ nợ của mình.
Các điều kiện cụ thể thường do bên bảo lãnh đưa ra.
4. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng
Trong bảo lãnh ngân hàng, do TCTD phải giao kết cả hai loại hợp đồng với hai

hàng cung cấp các tài
liệu, thông tin có liên
quan đến việc thẩm định
bảo lãnh và tài sản bảo
đảm (nếu có).

Quyền đề nghị TCTD cấp bảo
lãnh cho mình

Nghĩa vụ cung cấp đầy đủ,
chính xác và trung thực các
tài liệu và các thông tin theo
yêu cầu của TCTD. Quy định
này nhằm bảo đảm quyền lợi
cho TCTD, đồng thời đảm
bảo sự an toàn cho hoạt động
kinh doanh ngân hàng và
nâng cao ý thức trách nhiệm
hợp đồng cho bên khách
hàng.
Quyền yêu cầu khách Nghĩa vụ thực hiện các cam
hàng có các biện pháp kết về tài sản bảo đảm.
bảo đảm cho nghĩa vụ
được bảo lãnh. Quyền xử
lí tài sản bảo đảm của
khách hàng theo thỏa
thuận và pháp luật.Quy
định này cũng nhằm mục
đích bảo đảm quyền và
lợi ích chính đáng cho

bảo lãnh.
Quyền khởi kiện theo Khởi kiện theo quy định của
quy định của pháp luật pháp luật khi TCTD vi phạm
khi khách hàng vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết.
các nghĩa vụ đã cam kết.
Quyền chuyển nhượng Quyền chuyển nhượng quyền,
quyền, nghĩa vụ của nghĩa vụ nếu được các bên có
mình cho tổ chức tín liên quan chấp thuận bằng
dụng khác nếu được các văn bản.
bên có liên quan chấp
thuận bằng văn bản.
Quyền từ chối thực hiện
nghĩa vụ của người bảo
lãnh nếu việc đòi tiền là
không có cơ sở pháp lí
và không phù hợp với
các điều kiện thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh như đã
cam kết.

Nghĩa vụ phát hành thư
bảo lãnh hoặc kí hợp
đồng bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh vì quyền
lợi của khách hàng được
bảo lãnh. Chỉ khi nào tổ
chức tín dụng đã thực

Quyền yêu cầu TCTD phải
phát hành thư bảo lãnh hoặc

được bảo lãnh và người nhận
bảo lãnh, đồng thời đề cao
tinh thần kỉ luật hợp đồng cho
các bên giao dịch
Nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ Quyền yêu cầu TCTD hoàn
tài sản bảo đảm và các trả đầy đủ tài sản bảo đảm và
giấy tờ có liên quan cho các giấy tờ có liên quan cho
khách hàng khi thanh lí khách hàng khi thanh lí hợp
hợp đồng dịch vụ bảo đồng dịch vụ bảo lãnh.
lãnh.

Quyền yêu cầu tổ chức
tín dụng bảo lãnh thực
hiện nghĩa vụ thay cho
người được bảo lãnh
khi người này không
thực hiện đúng nghĩa
vụ của họ đối với mình.

5. Hình thức và nội dung của giao dịch bảo lãnh ngân hàng
5.1.Hình thức
Việc bảo lãnh của TCTD đối với khách hàng phải được lập thành văn bản có
thể công chứng, chứng thực nếu các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Trong
giao dịch bảo lãnh ngân hàng có hai loại văn bản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của
các bên đó là giấy đề nghị bảo lãnh và cam kết bảo lãnh. Giấy đề nghị bảo lãnh là
văn bản do tổ chức, cá nhân có nhu cầu lập theo mẫu và gửi cho TCTD. Hành vi
này có thể coi như hành vi đề nghị giao kết hợp đồng. Sau đó TCTD và khách hàng
sẽ ký kết với nhau hợp đồng dịch vụ bảo lãnh hay hợp đồng cấp bảo lãnh. Cam kết
bảo lãnh là văn bản do TCTD lập theo thể thức luật định. Văn bản bảo lãnh có thể
là cam kết đơn phương của TCTD đối với bên nhận bảo lãnh (gọi là thư bảo lãnh)


Điều 5 Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN


10

-

Bảo lãnh vay vốn;
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng;
Bảo lãnh thanh toán;
Bảo lãnh dự thầu;
Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm;
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước;
Bảo lãnh đối ứng;
Xác nhận bảo lãnh;
Các loại bảo lãnh khác mà pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ
quốc tế.

II.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI TỔ

CHỨC TÍN DỤNG
1. Những kết quả đạt được khi áp dụng các quy định của pháp luật vào thực
tiễn hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại các tổ chức tín dụng
Trong thời gian vừa qua, với việc áp dụng các quy định hiện hành, hoạt động
bảo lãnh ngân hàng đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, trong đó có thể kể ra
các thành tựu như:
- Số lượng và chất lượng các giao dịch bảo lãnh ngày càng tăng. Điều này

đối tác (đối với bảo lãnh tiền ứng trước) hoặc từ các tổ chứac tín dụng khác (bảo
lãnh vay vốn) lúc đó sẽ giúp các doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính để thực
hiện hợp đồng, tham gia giao dịch và ký kết hợp đồng
2. Những bất cập còn tồn tại trong thực tiễn hoạt động bảo lãnh ngân hàng
tại các tổ chức tín dụng
Bên cạnh những kết quả đạt được thì thực trạng bảo lãnh ngân hàng vẫn còn
một số tồn tại sau:
- Thủ tục bảo lãnh ngân hàng và giải tỏa bảo lãnh vẫn còn khá phức tạp, gây
khó khăn cho nhiều doanh nghiệp khiến cho nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận
được với bảo lãnh ngân hàng, làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà
ngân hàng cũng mất đi hiệu quả kinh doanh từ nghiệp vụ bảo lãnh.
- Hoạt động bảo lãnh tập trung chủ yếu vào một số ngân hàng quốc doanh. Hiện
nay, ngoài các ngân hàng quốc doanh còn có các ngân hàng thương mại cổ phần,


12

ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài..,nhưng tỉ trọng bảo lãnh chủ yếu lại
nghiêng về các ngân hàng quốc doanh.
- Các loại hình bảo lãnh chưa được phong phú và đa dạng. Mặc dù hệ thống
pháp luật đã thay đổi theo hướng mở rộng và tạo điều kiện khuyến khích các loại
hình bảo lãnh phát triển nhưng các TCTD ở Việt Nam hiện nay vẫn thiên về bảo
lãnh trong nước như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Còn các loại
bảo lãnh có liên quan đến yếu tố nước ngoài như bảo lãnh vay vốn nước ngoài, bảo
lãnh đối ứng vẫn chưa được phổ biến. Điều này có thể xuát phát từ tâm lí cẩn thẩn
của các TCTD nhưng cũng đồng thời do các quy định của pháp luật còn tương đối
phức tạp và chưa tương thích với pháp luật các quốc gia khác cũng như pháp luật
quốc tế, thông lệ và tập quán quốc tế trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài, gây
tâm lí e ngại cho các TCTD.
- Như đã nói, các quy định của pháp luật về bảo lãnh ngân hàng còn gây cản trở

năng tài chính mạnh như TCTD
Nhìn chung, hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở nước ta thời gian qua đã có nhiều
bước phát triển, tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển các mối quan hệ
của nền kinh tế không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ của một quốc gia, mà còn mở
rộng ra các nước khác nhau. Vì vậy, để bắt kịp với tình hình kinh tế mạnh mẽ như
hiện nay thì các ngân hàng ở Việt Nam cần phải triển khai hoạt động bảo lãnh ngân
hàng mang tầm quốc tế để giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận được với
nguồn vốn của nước ngoài để đầu tư sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Một
hành lang pháp lí chặt chẽ và thông thoáng cũng sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt
động bảo lãnh ngân hàng phát triển.
3. Một số giải pháp khắc phục thực trạng về hoạt động bảo lãnh ngân hàng
tại các tổ chức tín dụng.
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định quy định của pháp luật về quyền lợi,
nghĩa vụ của các bên trong từng hợp đồng cụ thể: Như đã phân tích ở trên, hiện
nay Quy chế bảo lãnh ngân hàng cũng như Luật các tổ chức tín dụng chưa quy
định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo lãnh và hợp


14

đồng cấp bảo lãnh, đặc biệt là chưa có điều luật nào quy định trực tiếp địa vị pháp
lí của các tổ chức tín dụng trong mối quan hệ với bên nhận bảo lãnh. Vì vậy, khi
thực hiện các bên dễ gặp phải khó khăn vướng mắc dẫn đến khả năng xảy ra tranh
chấp là rất lớn. Để tránh gây bất lợi cho tất cả các bên tham gia, luật cần quy định
rõ quyền lợi và nghĩa vụ của bên bảo lãnh sao cho phù hợp với luật quốc gia cũng
như các thông lệ và tập quán quốc tế như: quy định trách nhiệm kiểm tra do người
thụ hưởng xuất trình phù hợp với những điều khoản và điều kiện của cam kết bảo
lãnh: trách nhiệm thanh toán khi các chứng từ đó là phù hợp hoặc quyền từ chối
thanh toán nếu phát hiện ra hành vi gian dối do sự lừa đảo về chứng từ của bên
bảo lãnh

cầu của bên nhận bảo lãnh đối với ngân hang bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh, đồng thời quy định rõ hậu quả pháp lí nếu bên nhận bảo lãnh không đưa
ra yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong thời hạn bảo lãnh. Các quy định về
thời hạn bảo lãnh cũng cần phải quy định rõ ràng hơn nữa.
Thứ tư, như đã nói, cần tạo sự thống nhất giữa các quy định của pháp luật
Việt Nam về bảo lãnh ngân hàng với các quy định của quốc tế. Tiếp thu, học hỏi
những quy định của các nước có nền kinh tế tiến bộ hơn chúng ta nhưng đồng thời
cũng phải chắt lọc sao cho phù hợp với tình hình phát triển trong nước. Có như
vậy mới thúc đẩy đầu tư nước ngoài phát triển mạnh, tăng cường hợp tác kinh tế
quốc tế.
Thứ năm, Quốc hội và Chính phủ cần quan tâm tới việc ban hành hệ thống các
văn bản quy định về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có tính pháp lí cao hơn, và
đồng bộ, thống nhất (Luật các tổ chức tín dụng 2010 nhưng Quyết định ban hành
Quy chế bảo lãnh ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng nhà nước lại ban hành từ
năm 2006). Bên cạnh đó, cần phải chú ý tới các quy định có liên quan đến nghiệp
vụ này như cầm cố, thế chấp, đăng kí giao dịch bảo đảm…nhằm tạo thành một hệ
thống pháp luật thống nhất và chặt chẽ, vừa khắc phục được những kẽ hở, hạn chế


16

trong quá trình thực hiện, đồng thời vừa tạo thuận lợi cho các bên khi tham gia
giao dịch.
Thực tế cho thấy một số loại bảo lãnh như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh
toán…là những loại bảo lãnh có mức độ rủi ro cao hơn các loại bảo lãnh khác như
bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo lãnh dự thầu. do vậy, trong trường
hợp khách hang có nhu cầu thực hiện nhiều loại bảo lãnh tại một số tổ chức tín
dụng, việc xác định khả năng rủi ro cho từng loại bảo lãnh để làm căn cứ xác định
mức bảo lãnh, mức phí bảo lãnh phù hợp cho từng loại bảo lãnh là rất cần thiết
nhưng hiện nay Quy chế bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam mới chưa quy định cụ

những hạn chế của Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN, đưa ra những quy định mới
tiến bộ hơn và phù hợp hơn với thực tiễn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.

Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam 2012 – Đại học Luật Hà Nội;
Bộ luật dân sự 2005;
Luật Thương mại 2005;
Luật các tổ chức tín dụng 2010;
Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng do

Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành;
6. Thông tư 28/2012/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ban hành, có hiệu lực vào 2/12/2012;
7. http://thuvienphapluat.vn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status