Phân tích cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thực trạng bảo lãnh ngân hàng tại tổ chức tín dụng. - Pdf 24

0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
2005
2006
2007
Doanh số
BL
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
90000
100000
2005
2006
2007
BL trong nước
BL nước ngoài
Bài tập học kỳ Môn luật Ngân Hàng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động không thể thiếu đối với các ngân hàng

trách nhiệm nếu con nợ không trả được nợ.
Trong pháp luật Dân sự nước ta khái niệm bảo lãnh được nêu trong Điều 361 Bộ
luật Dân sự: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam
kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ
thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời
hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ
khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.
Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì: Bảo lãnh ngân hàng được
hiểu là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận
bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã
cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa
thuận.
Trong quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN
ngày 26/6/2006 của thống đốc ngân hàng Nhà nước, tại Điều 2 khoản 1 có quy
2
Bài tập học kỳ Môn luật Ngân Hàng
định: “Bảo lãnh ngân hàng”: Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách
hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
1.2 Sự cần thiết phải ban hành pháp luật về bảo lãnh ngân hàng.
Thứ nhất: Xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế
Với chính sách mở cửa xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nhanh
chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Nhà nước ta từng bước cho
phép các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại để
nhằm thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn hợp tác đầu tư, ứng dụng công nghệ và
tiếp thu trình độ khoa học tiên tiến của nước ngoài vào sản xuất kinh doanh.

dựng hành lang pháp lý chung điều chỉnh là một trong những yêu cầu nhiệm vụ
trọng tâm đặt ra hiện nay.
2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Hoạt động bảo lãnh ngân hàng hiện nay được điều chỉnh bởi Luật ngân hàng,
Luật các tổ chức tín dụng 2010, Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo
quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 và một số văn bản pháp luật
có liên quan khác….
Điều chỉnh pháp lý đối với nghiệp vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng là một
vẫn đề phức tạp vừa mang tính kỹ thuật pháp lý vừa mang tính kỹ thuật nghiệp
vụ, bao gồm việc xác định chủ thể, hình thức và nội dung sự bảo lãnh, trình tự
thủ tục bảo lãnh và các loại hình bảo lãnh.
a Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng
4
Bài tập học kỳ Môn luật Ngân Hàng
Nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng vốn mang bản chất là hoạt động thương
mại nên có cấu trúc pháp lý khá đặc thù bao gồm sự gắn kết giữa hai loại hợp
đồng: Hợp đồng bảo lãnh được ký kết giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh
và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được ký kết giữa bên bảo lãnh với bên được bảo
lãnh.
Cấu trúc tham gia hoạt động bảo lãnh ngân hàng gồm:
- Bên bảo lãnh
- Bên được bảo lãnh
- Bên nhận bảo lãnh
Bên bảo lãnh: là tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đó là Các tổ
chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và Các ngân
hàng được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động thanh toán quốc tế được
thực hiện các loại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân nước
ngoài.
Xét về điều kiện chủ thể, một tổ chức tín dụng chỉ được quyền thực hiện nghiệp
vụ bảo lãnh đối với khách hàng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

trong thời hạn cam kết;
4. Trường hợp khách hàng là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì ngoài các điều
kiện nêu trên phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam.
6
Bài tập học kỳ Môn luật Ngân Hàng
Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ
hưởng bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
Khi tham gia hợp đồng bảo lãnh với các tổ chức tín dụng bên nhận bảo lãnh phải
thỏa mãn những điều kiện chủ thể do pháp luật quy định nhằm góp phần đảm
bảo sự hữu hiệu của hợp đồng. Các điều kiện đó bao gồm:
- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với người bảo lãnh
là một tổ chức thì tổ chức đó phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng
lực và thẩm quyền.
- Có các giấy tờ tài liệu hay bằng chứng khác chứng minh quyền chủ nợ
trong một nghĩa vụ cần bảo đảm
b Phạm vi bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng
Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng, phạm vi bảo lãnh
được hiểu là giới hạn của nghĩa vụ tài sản mà bên bảo lãnh( tổ chức tín dụng)
cam kết sẽ thực hiện thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh) đối với bên có
quyền.
Theo quy định tại Điều 6 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo quyết
định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo
lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ sau đây:
1. Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay;
2. Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản
chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án đầu tư, phương án
sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ đời sống;
3. Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà
nước;
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status