Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan các số liệu của bản luận văn này đợc lấy trung thực,
chính xác và cha từng đợc công bố bởi bất kỳ tác giả nào. Những tài liệu trích
dẫn có nguồn gốc rõ ràng. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số
liệu đã nêu ra.
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2011
Nguời làm luận văn
Đinh Thị Thu Hơng
môc lôc
Các chữ viết tắt trong luận văn
ACCP
: American College of Chest Physican
ARDS
: Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
BN
: Bệnh nhân
BTS
NSMP
: Nội soi màng phổi
ÔDLMP
: ống dẫn lu màng phổi
O2
: Khí oxy
TB
: TB
TDMP
: Tràn dịch màng phổi
TH
: Trờng hợp
TKMP
: Tràn khí màng phổi
TKMPTP
hàng đầu gây tràn khí màng phổi tự phát thứ phát. Tần suất gặp biến chứng
này tăng theo mức độ nặng của bệnh. Tràn khí màng phổi ở bệnh nhân COPD
thờng nặng và nguy cơ đe dọa đến tính mạng cao nếu không đựợc chẩn đoán
và xử trí kịp thời [33], [47], [57]. Tỷ lệ tái phát của bệnh rất cao từ 43 -80 %
và tỷ lệ tử vong cao gấp 3,5-4 lần ở các bệnh nhân COPD có TKMP tái phát
[34],[52],[67],[72],[73]. Vì vậy Hội lồng ngực Hoa Kỳ (ACCP) và nhiều tác
giả khác khuyến cáo điều trị chống tái phát cho những bệnh nhân CODP ở lần
đầu tiên bị TKMP [21], [33], [47], [52], [54], [72].
Trên thế giới đã có nhiều phơng pháp điều trị và ngăn ngừa TKMP nh
gõy dính màng phổi bằng hóa chất, qua nội soi lồng ngực hoặc bằng phẫu
thuật nh cắt màng phổi từng phần hay toàn bộ hoặc chà sát màng phổi chủ
động.. Bệnh nhân COPD thờng là những bệnh nhân lớn tuổi, thể trạng gày,
suy hô hấp mạn tính không cho phép phẫu thuật nội soi màng phổi hoặc phẫu
thuật mở lồng ngực. Chính vì vậy gây dính màng phổi bằng hóa chất qua ống
dẫn lu màng phổi là phơng pháp đợc lựa chọn đầu tiên [6][40][55]. Ngoài ra
2
phơng pháp này rất đơn giản, ít tốn kém và c bit có thể thực hiện ở các
tuyến cơ sở có khả năng dẫn lu màng phổi. Trong số các hóa chất đợc sử dụng
để gây dính màng phổi thì bột talc đợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nớc trên thế
giới trong đó có Việt Nam vì có u điểm hiệu quả cao, giá thành rẻ, an toàn và
rất ít biến chứng [1],[13],[34],[50][52,][66],[72],[73].
ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về bệnh TKMP nói chung cũng nh
các phơng pháp điều trị tránh tái phát nhng cha có nghiên cứu nào về hiệu
quả và tính an toàn của phơng pháp gây dính màng phổi bằng bột talc qua ống
dẫn lu trong điều trị TKMP ở BN COPD. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này nhằm hai mục tiêu :
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của tràn khí màng phổi
bệnh nhân COPD.
do MP thành, nhờ có mạng bạch huyết lu thông thẳng với khoang MP. Bình
4
thờng quá trình bài tiết dịch thấm và tái hấp thu dịch ở MP đợc cân bằng để
đảm bảo cân bằng động thể tích và thành phần dịch MP.
1.2. Tổng quan về tràn khí màng phổi ở bệnh nhân COPD
1.2.1. Định nghĩa và phân loại tràn khí màng phổi
* Tràn khí màng phổi là sự xuất hiện khí ở trong khoang MP. Đợc phân
loại nh sau [2],[9][23][26]:
Tràn khí màng phổi tự phát (TKMPTP): xảy ra không do chấn thơng
hoặc nguyên nhân nào khác trớc đó.
TKMPTP nguyên phát: xảy ra ở ngời khoẻ mạnh, không có bệnh lý về
phổi.
TKMPTP thứ phát: là biến chứng của một bệnh phổi khác hay gặp
nhất là COPD, tiếp đến là hen phế quản, xơ phổi, viêm phổi kẽ, bệnh bụi phổi,
lao phổi, viêm phổi do Pneumocystis carinii, ung th phổi, ung th di căn màng
phổi...
Tràn khí màng phổi do chấn thơng ngực, do các thủ thuật chẩn đoán và
điều trị xâm lấn gây nên.
1.2.2. COPD định nghĩa, chẩn đoán, phân loại và cơ chế sinh lý bệnh liên quan
1.2.2.1. Định nghĩa COPD :
Theo GOLD 2006 [40]: BPTNMT là một bệnh có thể dự phòng và điều
trị đợc với những ảnh hởng ngoài phổi đáng kể có thể góp phần vào mức độ
nặng của bệnh. Biểu hiện đặc trng ở phổi là tắc nghẽn luồng khí thở ra không
hồi phục hoàn toàn thờng tiến triển nặng dần và liên quan đến đáp ứng viêm
bất thờng của phổi với khí và hạt độc hại. Rối loạn thông khí tắc nghẽn của
COPD là do hỗn hợp của bệnh các đờng thở nhỏ (viêm tiểu phế quản tắc
nghẽn) và phá hủy nhu mô phổi (giãn phế nang) với mức độ khác nhau tùy
từng ngời.
Giai đoạn IV: rất nặng: FEV1/FVC < 70 %; FEV1 < 30 % TSLT hoặc
FEV1 < 50 % TSLT nhng có kèm theo triệu chứng suy hô hấp mạn. Triệu
6
chứng suy hô hấp mạn tính khi Pa02< 60 mmHg kèm theo hoặc không
PaC02>50 mmHg; dấu hiệu của suy tim phải. Chất lợng cuộc sống bị ảnh hởng nặng, các đợt cấp có thể đe dọa tử vong
1.2.2.3 .Sinh lý bệnh của COPD liên quan đến tràn khí màng phổi [41] [73]
Tình trạng viêm mạn tính, phá hủy nhu mô, phá hủy thành phế nang tạo
các bóng khí, kén khí, giảm sự đàn hồi của phổi sẽ gây ra TKMP. COPD thờng vỡ các bóng khí dới màng phổi do áp lực phế nang vợt quá áp lực mô kẽ
của phổi từ đó không khí sẽ tràn vào KMP. Thành các phế nang ở đỉnh thờng
có lực căng lớn nhất. Lực căng này tăng theo thời gian.. Mặt khác độ chênh
lệch áp suất giữa KMP và phế nang lớn nhất ở vùng đỉnh. Vì thế vỡ các bóng
khí thờng xảy ra ở đỉnh phổi. Một nguyên nhân khác là vỡ màng phổi tạng do
tình trạng viêm nhiễm nhu mô, thoái hóa các mạch máu phế quản kèm theo vỡ
các bóng khí trong quá trình phát triển của bệnh hay vỡ một nang nhiễm
trùng gây TKMP.
1.2.2.4. Hậu quả sinh lý của TKMP ở bệnh nhân COPD [16]
KMP bình thờng không có khí. Bình thờng áp suất trong KMP âm tính,
khi khí tràn trong KMP làm cho áp suất trong KMP ngày càng tăng dần cho
đến một thời điểm áp suất trong KMP bằng hoặc lớn hơn áp suất trong phổi sẽ
đè ép nhu mô phổi gây xẹp một phần hay toàn phần nhu mô phổi
* ảnh hởng đến hô hấp: khi hít vào khí không thể vào đợc các phế nang
ở phần phổi xẹp, đồng thời các phế nang ở phần phổi không bị xẹp cũng bị
dồn nén, khí không thể thoát ra ngoài trong động tác thở ra, khí cặn tồn d
trong phổi rất lớn, có thông khí nhng không có sự trao đổi khí. Nếu toàn bộ
phổi bên bị tràn khí bị xẹp, khả năng hô hấp của bên đó bị mất hoàn toàn. Nếu
phổi chỉ bị xẹp một phần thì khả năng hô hấp của bên đó bị mất đi một phần,
phần đó không chỉ tơng ứng với thể tích phổi bị suy giảm mà còn lớn hơn rất
nhiều vì phần hoạt động thông khí của phần phổi còn lại không bị xẹp cũng bị
8
đến tận năm 1803 tác giả Etard mới là ngời đầu tiên dùng thuật ngữ TKMP
tiên phát. Các triệu chứng lâm sàng đợc Laennec mô tả vào năm 1819 [41],
[63]. Trong một thời gian khá dài nhiều nhà khoa học vẫn cho rằng chỉ có
bệnh lao phổi là nguyên nhân duy nhất gây TKMPTP. Phải đến năm 1932 bác
sỹ Kjaergard mới tìm ra nhiều nguyên nhân khác gây nên tình trạng bệnh này
trong đó đáng kể nhất là bệnh COPD.
Tỷ lệ mắc nói chung của TKMP là 8 -12/100.000 dân mỗi năm. Tỷ lệ
mắc của TKMPTP thứ phát ở nam là 6,3/100.000 dân mỗi năm và 2/100.000
dân đối với nữ. Tỷ lệ nam/nữ là 3,2/1 [36],[52]. Bệnh gặp nhiều nhất ở lứa tuổi
60 - 65 và ở những ngời bị bệnh COPD. Có một số nghiên cứu công bố tỷ lệ
mắc TKMP là 26 ca/100 000 bệnh nhân mắc COPD mỗi năm [65]. Tần suất
gặp TKMP tăng theo mức độ nặng của bệnh COPD [56], [72]. TKMP/COPD
thờng dai dẳng dù đợc dẫn lu màng phổi, trung bình là 5 - 7 ngày so với
TKMP tự phát nguyên phát là 1-2 ngày [9], [72], [77].
Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân COPD có TKMP thay đổi 1-17 % [36], [56],
[65]. Theo một số nghiên cứu có đến 5 % số bệnh nhân bị suy hô hấp và tử
vong khi cha đến kịp phòng cấp cứu [33],[56].
Tỷ lệ tái phát của bệnh rất cao từ 43 - 80 % [34], [47], [52], [67], [68],
[72], [76]. Tỷ lệ tử vong cao gấp 3,5 - 4 lần ở bệnh nhân COPD có TKMP tái
phát [33],[47],[56]. Nguy cơ tái phát ở bệnh nhân COPD gồm tình trạng giãn
phế nang, tuổi, số lần TKMP.
Tuy nhiên TKMP là một nguyên nhân có thể đảo ngợc hoàn toàn của suy
hô hấp ở bệnh nhân COPD và nên đợc loại trừ ở tất cả các bệnh nhân bằng
phim XQ phổi. Tất cả các bệnh nhân đều phải nhập viên và phần lớn phải đặt
ống dẫn lu khí
Videm V nghiên cứu các biến chứng, tỷ lệ tái phát TKMP của hơn 300
bệnh nhân COPD bị TKMP trong 10 năm từ 1970 -1980 thì thấy tỷ lệ biến
Mạch l/phút
HA
Lời nói
Tím
Vã mồ hôi
PH
Pa02 mm Hg
PaC02 mm Hg
Trung bình
15
25-30
100-120
Nặng
13-15
30-40
120-140
Rất nặng
40 hoăc 140 hoặc
Bình thờng
Câu dài
Tăng
Câu ngắn, từng
Khó thở là chủ yếu. Khó thở tăng lên không giải thích đợc nguyên
nhân. Khó thở thờng ở mức độ nặng. Hầu hết các bệnh nhân COPD có triệu
chứng khó thở với bất kể số lợng khí trong khoang màng phổi
Khám thấy tam chứng Galliard bên phổi bị tràn khí. Các triệu chứng
khác của COPD nh lồng ngực hình thùng, xơng sờn nằm ngang, ngón tay dùi
trống, phổi có nhiều ran rít, ran ngáy, ran ẩm, rì rào phế nang giảm hoặc mất.
Triệu chứng của tâm phế mạn nh gan to, tĩnh mạch cổ nổi, phù ngoại biên,
tiểu ít....
11
Toàn thân: sốt, rối loạn ý thức, mạch nhanh, huyết áp tụt...
Những dấu hiêu nặng của bệnh là : Khó thở với nhịp thở 25l/ phút,
tím mệt, giảm huyết áp, nhịp tím nhanh >120 lần phút hoặc 60 lần/phút,
Sp02 < 90 %, TKMP 2 bên [33], [73]
Tuy nhiên do triệu chứng của đợt cấp COPD do nguyên nhân khác
cũng là khó thở tăng và tức ngực. Ngoài ra tam chứng Garlliard khó phát hiện
ở BN có giãn phế nang nặng nên triệu chứng TKMP rất dễ bị bỏ sót [54],[65],
[76]
b) Cận lâm sàng
Xquang phổi là chỉ định đầu tiên đợc dùng để đánh giá TKMP vì
những u điểm nh: đơn giản, không đắt tiền, nhanh chóng và không xâm lấn.
Tuy nhiên, hiệu quả kém hơn CLVT ngực trong chẩn đoán TKMP ít cũng nh
phát hiện các kén khí.
Xquang phổi chuẩn giúp chẩn đoán xác định TKMP với 5 triệu chứng:
Phổi sáng ở vùng có tràn khí.
Mất vân phổi, nhu mô phổi co rúm về phía rốn phổi.
Tim, trung thất bị đẩy sang bên đối diện.
Khoang liên sờn giãn.
Cơ hoành hạ thấp
Trục phải >110 độ; R/S ở V5,V6 2,5mm ở DII; T đảo ngợc ở V1 tới V4 hoặc
V2-V3 [3]
1.2.5. Mức độ tràn khí màng phổi
Hiệp hội lồng ngực Anh (BTS) năm 2003 phân chia TKMP thành 2
loại [49]: TKMP ít: khoảng cách từ MP tạng đến bờ trong của thành ngực
2 cm ở mức rốn phổi [31]. Theo
ACCP (2001) [33] khoảng cách này đợc tính ở đỉnh phổi. Cách phân loại này
hiện đợc áp dung rộng rãi vì u điểm thuận tiện và giúp đa ra hớng điều trị hợp
lý đối với từng mức độ TKMP. Theo BTS khoảng cách từ MP tạng đến bờ
trong của thành ngực 2cm tơng đơng với 49% thể tích nửa lồng ngực bị tràn
khí. Tuy nhiên BTS cũng khuyến cáo mức độ TKMP không quan trọng bằng
biểu hiện trên lâm sàng của bệnh nhân.
1.2.6. Các phơng pháp điều trị TKMP ở bệnh nhân COPD
Điều trị TKMP nhằm mục đích là lấy hết khí ra khỏi khoang MP và giảm
khả năng tái phát.
T KMP tự p hát t hứ phát
kh ôn g
K h ó t h ở + t u ổi > 50 + l i ề m kh ôn g
kh í > 2 c m t r ê n p hi m p h ổi
k hô ng
có
D ẫ n l ư u kh í
H ội c hẩ n s ớm v ớ i
p hẫ u t hu ậ t v i ê n s a u 3 n gà y
Biểu 1.1: Khuyến cáo của BTS (2003) điều trị TKMPTP thứ phát [49]
1.2.6.1. Chọc hút khí bằng kim
Phơng pháp này chỉ định khi TKMP lần đầu mức độ ít (50 tuổi:19-31%
1.2.6.2. Đặt ống dẫn lu khoang màng phổi
Chỉ định: TKMPTP thứ phát khó thở, có rối loạn huyết động; Mọi
TKMP nhiều 2cm đặc biệt ở BN > 50 tuổi có nguy cơ thất bại với chọc hút
khí đơn thuần và có tỷ lệ tái phát cao đều có chỉ định mở MP dẫn lu.
Theo hớng dẫn của BTS 2010 và ACCP khuyến cáo rằng nên đặt ống dẫn
lu màng phổi cho tất cả bệnh nhân TKMPTP thứ phát [31],[33]. Kỹ thuật này
thành công trong khoảng 70% các trờng hợp và có tỷ lệ tái phát cao 35%.
Theo Sahn tỷ lệ thành công của phơng pháp này đối với TKMPTP thứ phát sau
7 ngày và 15 ngày là 61 % và 79% [65]
1.2.6.3. Gây dính màng phổi
a) Chỉ định: Trờng hợp dẫn lu khí thất bại và TKMP tái phát phải gây
dính MP, trờng hợp có bóng kén khí trên phim chụp XQ hoặc CLVT [5][25].
ACCP và nhiều tác giả khác khuyến cáo nên gây dính màng phổi ở những lần
Đã có rất nhiều hóa chất đợc sử dụng kể từ lần gây dính màng phổi đầu
tiên vào năm 1935. Theo y văn có hơn 30 tác nhân đã đợc sử dụng để gây dính
màng phổi trong số đó có một số sản phẩm hay đợc sử dụng qua y văn: đó là
talc, tetracyclin, minocyclin, doxycyclin, quinacrine, bleomycin, silvernitrat
,Iodopovidone. Sự lựa chọn các tác nhân gây dính phụ thuộc vào nhiều yếu tố
bao gồm: kinh nghiệm của các nhà lâm sàng, hiệu quả, tác dụng phụ và tai
biến, giá thành, tính sẵn có của chất gây dính. Tuy có một số tác giả nghiên
cứu kết hợp các tác nhân gây dính nhng cha có kết luận chính xác hiệu quả
16
hơn so với dùng một tác nhân gây dính.
Trớc đây, tetracyclin tiếp theo là bột talc hay đợc sử dụng nh những lựa
chọn đầu tiên ở BN TKMP nguyên phát và thứ phát. Tuy nhiên, hiện nay
tetracylin không còn đợc sản xuất nữa, vì vậy bột talc là tác nhân đợc sử dụng
phổ biến nhất trên thế giới với u điểm rẻ, dễ sử dụng, hiệu quả cao, ít tác dụng
phụ [31], [33], [48], 50], [52], [60], [66],[67],[72].
Talc đợc sử dụng để gây dính màng phổi ở Việt Nam hơn một thập kỷ và
cũng đợc chứng mình là có hiệu quả cao và an toàn không có tai biến nghiêm
trọng nào xảy ra [1][12][14][19][21][25]. Gần đây, có một số tác giả sử dụng
Iodopovidone trong điều trị TKMP với u điểm tính sẵn có, rẻ hơn so vơi talc
[28]. Tuy nhiên iodopovidone thờng dùng cho bệnh nhân trẻ, tràn khí màng
phổi thể nguyên phát và tỷ lệ thành công thấp hơn so với bột talc trong điều trị
TKMPTP thứ phát và cha có nhiều nghiên cứu lớn chứng minh tính an toàn và
hiệu quả [28], [48], [53]. Vì vậy bột talc là tác nhân gây dính đợc chúng tôi sử
dụng trong nghiên cứu.
Bảng 1.2: Các tác nhân hóa học gây dính [53] và giá thành [trích từ 15]
Tác nhân
Tỷ lệ thành
Bột talc đợc sử dụng để gây dính màng phổi bằng hai phơng pháp: bơm
bột talc vào khoang MP qua ống dẫn lu MP hoặc phun mù qua NSMP. GDMP
bằng bột talc qua ống dẫn lu là một phơng pháp đợc nhiều tác giả trên thế giới
sử dụng vì tỷ lệ thành công cao tơng đơng gây dính qua nội soi màng phổi (85
- 97%), giá thành rẻ, dễ thực hiện, an toàn và ít tác dụng phụ [28], [31], [33],
[48], [52], [53], [61], [66], [67], [77]
17
Bệnh nhân COPD thờng là những bệnh nhân lớn tuổi, thể trạng gày yếu,
suy hô hấp mạn tính không cho phép phẫu thuật (NSMP) hoặc phẫu thuật mở
lồng ngực chính vì vậy gây dính màng phổi bằng talc qua ống dẫn lu màng
phổi là phơng pháp đợc lựa chọn đầu tiên.
Nghiên cứu của Lee (2004) áp dụng gây dính bằng bột talc qua NSMP
trên bệnh nhân COPD nhận thấy có tác dụng tốt và khoảng 5% bị tái phát, nhng có 4 BN tử vong trong vòng 30 ngày vì vậy tác giả khuyến cáo nên sử dụng
phơng pháp GDMP bằng bột talc qua ÔDLMP với BN COPD nặng đặc biêt
những BN có FEV1
nghiền thành bột. Bột talc thông thờng có trong các mỏ đá lộ thiên, các mỏ
này nằm rải rác khắp nơi trên thế giới. Bột talc ít khi tinh khiết và thờng lẫn
nhiều tạp chất. Các tạp chất thông thờng bao gồm: amiante, calcite, magnesite,
dolomite, chlorite, serpentine, quart và một số thành phần khác. Thành phần
bột talc thay đổi tuỳ theo từng mỏ đá. Trong quá trình sản xuất, thông thờng
bột talc đợc làm sạch, loại bỏ các tạp chất và những hạt bột talc có kích thớc
19
lớn, nhằm tạo ra đợc bột talc có kích thớc mịn, khá đồng đều, không lẫn tạp
chất để có thể dùng tronng nhiều lĩnh vực khác nhau. Bột talc dới dạng tinh
chất đợc sản xuất ở vùng Pyrénées của Pháp, vùng Vermont của Italia và
nhiều vùng của nớc Mỹ đợc sử dụng cho việc chế tạo mỹ phẩm và dợc liệu.
Đây là dạng bột talc tinh khiết, có màu trắng và không chứa amiant. Dạng bột
talc này không gây ảnh hởng tới sức khoẻ của ngời sử dụng [50]
1.3.2.2. Cơ chế gây dính màng phổi của bột talc
Bột talc khi tiếp xúc với tế bào trung biểu mô MP, kéo bạch cầu đa nhân
trung tính vào khoang MP và bài tiết ra Interleukin 8 (IL-8). Đồng thời, bột
talc cũng gây tập trung nhiều đại thực bào vào khoang MP, kích thích đại thực
bào giải phóng ra IL-8, thêm vào đó đại thực bào sẽ gây hóa ứng động đối với
protein1. Hiện tợng bám dính của các phân tử này lên trên tế bào trung biểu
mô MP sẽ khuếch đại phản ứng viêm và cuối cùng sẽ dính chặt lá thành vào lá
tạng làm mất khoang MP [53],[58].
1.3.3 Chỉ định và chống chỉ định của phơng pháp GDMP qua ODLMP
a) Chỉ định [5][15][24][25][33][76]
TKMP tự phát tái phát
TKMPTP thứ phát sau các bệnh: COPD; lao phổi cũ, bệnh phổi mô kẽ
TKMP mà dẫn lu khí hút không hiệu quả
Tràn khí có hình ảnh bóng khí, kén khí trên phim chụp XQ hoặc CLVT
Bệnh nhân TKMP mà tình trạng bệnh lý không cho phép hoặc có yếu
đau ngực mạn tính, dày màng phổi, hình thành u bột talc trong khoang
màng phổi.
Những tác dụng phụ này thờng là nhỏ và không có biến chứng kéo dài
nào nghiêm trọng xảy ra nh ung th hóa, xơ phổi hay giảm chức năng phổi có
21
ý nghĩa [53], [61], [64], [66].
a) Đau ngực: hầu hết các hoá chất gây dính MP đều có thể gây đau
ngực. Theo nhiều tác giả thì nguyên nhân gây đau ngực có thể do phản ứng
gây viêm màng phổi của bột talc. Mức độ đau ngực khi gây dính MP bằng bột
talc từ không đau đến rất đau. Xử trí biến chứng đau ngực này có thể dùng
các thuốc giảm đau thông thờng nh acetaminophene hoặc các thuốc giảm đau
chống viêm không steroid, trờng hợp BN đau nhiều có thể phải dùng
Morphine.
b). Sốt: sốt sau gây dính MP là biến chứng thờng gặp với hầu hết các hoá
chất gây dính MP. Sốt có thể xảy ra sau gây dính MP cả với bột talc dạng nhũ
dịch và dạng phun mù. Xử trí sốt sau gây dính bằng bột talc bằng các thuốc hạ
sốt thông thờng nh acetaminophene.
c). Khó thở, suy hô hấp, ARDS: ARDS viêm phổi cấp và suy hô hấp cũng
đã đợc báo cáo xảy ra với cả bột talc sử dụng ở dạng phun mù và dạng nhũ
dịch xảy ra trong vòng 48h sau sử dụng bột talc. Nguy cơ có liên quan đến
những biến chứng nghiêm trọng này là: bột talc bị nhiễm khuẩn hay tạp chất,
kích thớc hạt bé, dùng với số lợng lớn, đáp ứng viêm hệ thống gây ra bởi bột
talc và cách thức đa bột talc vào cơ thể (dạng phun mù hơn là qua ống dẫn lu),
hay bệnh lý phổi trớc đó. Tuy nhiên những biến chứng này chỉ gặp ở những
nghiên cứu của tác giả ở Mỹ, Brasil, Newzealan. Những nghiên cứu lớn của
các tác giả ở Châu Âu và Isarel thì không có bất cứ một trờng hợp nào xảy ra
ARDS và tử vong [53], [58], [61], [64], [66]. Những nghiên cứu ở Việt Nam
cũng cha thấy có trờng hợp nào xuất hiện tai biến này [1], [14], [17], [18],