LỢI ÍCH VÀ ĐỘC TÍNH CẤP CỦA HÓA - XẠ TRỊ ĐỒNG THỜI
VỚI CISPLATIN MỖI TUẦN TRONG UNG THƯ VÒM HẦU
GIAI ĐOẠN TIẾN XA TẠI CHỖ TẠI VÙNG
Đặng Huy Quốc Thịnh*
TÓM TẮT
Mục đích: Đánh giá lợi ích và độc tính cấp của xạ trị đồng thời với cisplatin
mỗi tuần trong ung thư vòm hầu tiến xa tại chỗ tại vùng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 121 bệnh nhân ung thư vòm hầu
giai đoạn III, IVA hoặc IVB được điều trị bằng phác đồ cisplatin 30 mg/m2 da
tuần x 6 tuần phối hợp xạ trị ngoài vào bướu nguyên phát và hạch 66 - 70 Gy,
phân liều 2 Gy, 5 phân liều/tuần.
Kết quả: 85,1% trường hợp hoàn tất 6 chu kỳ cisplatin mỗi tuần với liều 30
mg/m2. Độc tính huyết học độ 3 là 2,5%. Độc tính không huyết học chủ yếu độ 1
- 2, riêng độ 3 chủ yếu là viêm niêm mạc miệng (24,8%), viêm da (18,2%) và
sụt cân (19,8%). Không có trường hợp nào độ 4 và tử vong. Tỷ lệ đáp ứng hoàn
toàn đạt 81,8%.
Kết luận: Xạ trị đồng thời với cisplatin 30 mg/m2 mỗi tuần trong 6 chu kỳ
cho thấy khả năng dung nạp tốt và có lợi ích về mặt lâm sàng.
Từ khóa: Ung thư vòm hầu, hóa-xạ trị, Cisplatin, độc tính.
ABSTRACT
ACUTE TOXICITIES AND FEASIBILITY OF WEEKLY LOW DOSE
CISPLATIN CONCURRENT CHEMORADIOTHERAPY FOR LOCALLY
ADVANCED NASOPHARYNGEAL CARCINOMAS
Dang Huy Quoc Thinh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh – Vol.14 - Supplement of No
4 – 2010 : 167 - 173
Purpose: To evaluate acute toxicities and feasibility of concurrent
chemoradiotherapy using weekly low dose cisplatin in patients with locally
advanced nasopharyngeal carcinomas (NPC).
Materials and methods: A prospective study was perfomed to enroll 121
theo kiểu cách phối hợp hóa-xạ: Đồng thời xen kẽ hay đồng thời liên tục mỗi
tuần, phối hợp hóa trị đơn chất hoặc đa chất, hóa chất liều thấp hay liều cao…
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, do đặc điểm về thể chất cũng
như điều kiện chung khó khăn về kinh tế và hạn chế hiểu biết của phần lớn
người bệnh, cùng với sự khó khăn trong theo dõi, chăm sóc và xử trí các độc
tính liên quan điều trị thì việc tìm ra một phác đồ hóa-xạ trị đồng thời vừa có
hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh vừa có thể kiểm soát an toàn các độc tính là
rất cần thiết.
Vì vậy mục đích của nghiên cứu này là đánh giá lợi ích cũng như độc tính
cấp của hóa xạ trị đồng thời với cisplatin mỗi tuần trong ung thư vòm hầu tiến
xa tại chỗ tại vùng, đồng thời nhằm đưa ra khuyến cáo liều cisplatin nên sử
dụng trong điều kiện VN.
ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP
Bệnh nhân
121 bệnh nhân ung thư vòm hầu giai đoạn III - IV được chẩn đoán và điều
tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM. Bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu
thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh: Mô học được xác định là carcinôm vòm hầu,
giai đoạn III, IVA và IVB (UICC-TNM 2002, tái bản lần thứ 6), tuổi từ 20 đến
70, tổng trạng (PS) 0 - 2, không suy chức năng tủy, gan, thận (bạch cầu ≥
3000/mm3, Hb ≥ 10 g/dl, tiểu cầu ≥ 100.000/mm3, bilirubin toàn phần ≤ 1,5
mg/dl, AST/ALT ≤ 2 lần giới hạn trên bình thường, creatinin huyết thanh ≤ 1,5
mg/dl), phải viết cam kết nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ có xạ trị hoặc hóa trị trước đó, có thai hoặc cho con bú,
hoặc có các bệnh lý nặng đi kèm.
Đánh giá trước điều trị gồm khám thực thể vùng đầu cổ, soi tai mũi họng và
sinh thiết, chụp CT vòm hầu, X quang phổi, siêu âm bụng, xạ hình xương, công
thức máu và sinh hóa máu.
Xạ trị
KẾT QUẢ
Đặc điểm bệnh nhân
Có tổng cộng 121 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung vị là 48.
Có 45 trường hợp được điều trị bằng máy gia tốc mức năng lượng 6MV, 76
trường hợp được xạ trị bằng máy cobalt. Đặc điểm bệnh nhân được mô tả qua
bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân
Đặc điểm
Giới
Tuổi
PS
Yếu tố – T
Yếu tố – N
Giai đoạn
Mô học
Số trường hợp (%)
Nam
79 (65%)
Nữ
42 (35%)
26 (21,5%)
2
76 (62,8%)
3
45 (37,2%)
III
50 (41,3%)
IVA
26 (21,5%)
IVB
45 (37,2%)
Type 1
23 (19%)
Type 2
34 (28,1%)
3
4
5
6
nhân
50
84
0
0
0
1
7
76
60
37
1
2
3
4
52
5
0
0
45
5
0
0
Thiếu máu
60
2
0
Thiếu máu
26
7
1
0
Giảm tiểu cầu
10
2
0
0
Giảm bạch cầu
Nhóm 50mg/tuần (n=84) Giảm bạch cầu hạt
Nhóm 60mg/tuần (n=37) Giảm bạch cầu hạt
Bảng 4. Độc tính không huyết học
Cisplatin
32
40
12
0
Nôn
10
9
1
0
Sụt ký
30
40
14
0
Viêm da
3
0
0
Sụt ký
8
19
10
0
Nhóm 50mg/tuần,(n = 84) Khô miệng
Nhóm 60mg/tuần,(n = 37) Khô miệng
Kiểm soát bướu
Trong suốt liệu trình điều trị không có ca nào tử vong do độc tính của điều
trị. 100% bệnh nhân được đánh giá vào thời điểm 06 tháng sau điều trị. Việc
đánh giá chủ yếu dựa vào khám lâm sàng, CT scan vòm hầu và soi vòm hầu
kiểm tra. Đếm tế bào máu, xquang phổi, siêu âm bụng chậu hoặc vùng cổ khi
lâm sàng nghi ngờ. Kết quả cho thấy có 99 trường hợp (81,8%) đáp ứng hoàn
toàn, 6 trường hợp còn bướu, 8 trường hợp còn hạch, 3 trường hợp vừa bướu
vừa hạch, 5 trường hợp có di căn xa. Với trung vị thời gian theo dõi là 32 tháng,
tiện cho pha chế thuốc. Sau khi tính toán liều cisplatin dựa trên diện tích da thực
tế, nếu liều cisplatin mỗi tuần dưới 55 mg, chúng tôi làm tròn thành 50 mg, nếu
liều cisplatin/tuần > 55 mg chúng tôi làm tròn thành 60 mg. Ở nhóm bệnh nhân
sử dụng liều cisplatin/tuần là 50 mg có 90,5% (76/84) trường hợp hoàn tất đủ 6
chu kỳ cisplatin trong suốt quá trình xạ trị và các độc tính có thể kiểm soát được.
Khi sử dụng liều cisplatin/tuần là 60 mg có 73% (27/37) hoàn tất 6 chu kỳ hóa
trị. Tỷ lệ này là khá cao so với sự hoàn tất phác đồ hóa trị trong nghiên cứu của
Chan. Sự khác biệt có thể ở chỗ Chan sử dụng liều 40mg/m2 da và thực hiện đến
8 chu kỳ cisplatin. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhìn chung các độc tính
huyết học và không huyết học đều ở mức độ thấp, chủ yếu là độ 1 - 2, độ 3 xảy
ra thường xuyên hơn đối với độc tính cấp trên da và niêm mạc, điều này ảnh
hưởng đến tình trạng dinh dưỡng, ăn uống của người bệnh, vì vậy sụt cân cũng
khá phổ biện. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này cho thấy không có trường hợp
nào độc tính huyết học và không huyết học độ 4 trở lên.
Về tỷ lệ đáp ứng trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao, đáp ứng hoàn toàn
là 81,8%, cao hơn nghiên cứu của Lê Chính Đại và cộng sự(9) thực hiện theo
cùng phác đồ này là 79,5%.
Trong nghiên cứu này chúng tôi chưa phân tích sống còn, nghiên cứu
0099(1) cho thấy hóa-xạ trị đồng thời có cải thiện sống còn toàn bộ 3 năm là 31%
cao hơn so với xạ trị đơn thuần, dựa trên hóa-xạ trị đồng thời với cisplatin liều
cao mỗi 3 tuần một lần (100 mg/m2, trong 3 chu kỳ) theo sau bởi hóa trị hỗ trợ
bằng 5FU và cisplatin. Mặc dù phác đồ hóa trị kết hợp nào được coi là tiêu
chuẩn vẫn chưa được thống nhất tại các nước Châu Á, hiện tại cisplatin liều cao
vẫn chưa được áp dụng rộng rãi cho các bệnh nhân vì các nguyên nhân nhất
định nào đó. Thứ nhất là sự tuân thủ phác đồ chưa cao do liên quan đến độc tính.
Theo số liệu của nhiều nghiên cứu, chỉ có 43 - 71% trường hợp hoàn tất các chu
kỳ hóa trị đồng thời với xạ trị(11). Có thể có độc tính trầm trọng xảy ra làm bệnh
nhân từ chối hóa trị hỗ trợ. Thứ hai theo kinh nghiệm tại bệnh viện Siriraj Thái
Qua nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy hóa-xạ trị đồng thời với cisplatin
30mg/m2 mỗi tuần trong 6 chu kỳ cho khả năng dung nạp và lợi ích khá tốt. Các
độc tính cấp có thể chấp nhận được và tỷ lệ tuân thủ hoàn tất liệu trình điều trị
cao. Hơn nữa kết quả đáp ứng sơ bộ của bướu và hạch cho thấy đáng khích lệ.
Tuy nhiên, cần thêm thời gian để phân tích đánh giá lợi ích về mặt sống còn
cũng như các độc tính muộn của phương pháp này.g
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Al-Sarraf. M (1998). Chemotherapy versus Radiotherapy in patients with
advanced nasopharyngeal cancer: Phase III Randomized Intergroup Study
0099, in Journal of Clinical Oncoloogy, number 16, pp 1310 –
1317, Elsevier Science, USA.
2.
Beveridge. Roy A (2003). Cancer Chemotherapy Regimens and
associated adverse events, 4th edition, pp 1 – 4, Amgen, USA.
3.
Bonner. A. J. (2000). Interaction of Chemotherapy and Radiation, in
Gunderson. L. L and Tepper. EJ: Clinical Radiation Oncology, 1st edition,
chapter 6, pp 141 – 154; Churchill Livingstone, New York, USA.
4.
Bonner. A. J. (2000). Nasopharyngeal Carcinoma, in Gunderson. L. L
and Tepper. EJ: Clinical Radiation Oncology, 1st edition, chapter 24, pp 471
– 485; Churchill Livingstone, New York, USA.
Lê Chính Đại (2005) Kết quả bước đầu của việc sử dụng hóa trị liều thấp
phối hợp đồng thời với xạ trị bệnh ung thư vòm mũi họng giai đoạn III-IV
tại bệnh viện K Hà Nội (2002-2003). Y học thực hành, Hội thảo quốc gia về
phòng chống ung thư, số 489, trang 56-59.
10.
Lin. J. C (2003). Phase III study of concurrent chemoradiotherapy versus
Radiotherapy alone for advanced nasopharyngeal carcinoma: Positive effect
on Overall and Progression-free Survival, in Journal of Clinical Oncology,
vol 21, number 4, pp 631 – 637, ASCO, USA.
11.
Lin. J. C (2004). Another way to estimate outcome of advanced
nasopharyngeal carcinoma. Is concurrent chemoradiotherapy adequate?, in
International Journal of Radiation Oncology and Biology, vol 60, number 1,
pp 156 – 164, Elsevier, USA.
12.
Mazeron. J-J (1997). Effet tardifs des radiations ionisants sur les tissus de
la Sphère ORL, dans Cancer Radiothérapie, volume 1, numéro 6; Elsevier,
Paris.
13.
Mizowak. T (2003). Concurrent chemotherapy and radiotherapy with low