ĐỒ ÁN MÔN HỌC..............................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................................2
TỔNG QUAN......................................................................................................................................3
KẾT LUẬN.........................................................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................................38
1
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
Đề tài : Tổng quan về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Bạch
Trinh Biển (Hymenocallis litoralis) thuộc họ Thủy Tiên ( Amaryllidaceae)
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam ở vào vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cho nên thiên
nhiên đã ban tặng cho chúng ta một thảm thực vật phong phú trong đó có hơn
3.800 loài cây có thể dùng làm thuốc để chữa bệnh phục vụ sức khỏe nhân
dân. Trong đó 200 loài đã bào chế thành thuốc đang được các thầy thuốc
Đông y dùng chữa bệnh. Khoảng 400 loài trong nhân dân dùng mà chúng ta
gọi là thuốc Nam. Còn hơn 3000 loài chỉ trong các cộng đồng dân tộc thiểu số
biết và sử dụng một ít để chữa bệnh, còn lại chưa có điều kiện nghiên cứu đầy
đủ.
Thực vật họ Thủy Tiên với sự đa dạng về chủng loài là nguồn nguyên liệu
lớn các hợp chất tự nhiên. Dịch chiết của chúng thường có hoạt tính sinh học
cao. Vì vậy từ lâu, thực vật họ Thủy Tiên đã được dùng làm thuốc chữa bệnh
[1]. Ở Việt Nam, một số loài trong họ thực vật Thủy Tiên đã được nghiên cứu
và phân lập các hoạt tính sinh học. Trong thời gian gần đây, hầu hết mọi
người đều biết đến cây Trinh nữ hoàng cung với tác dụng điều trị các bệnh về
ung bướu, u xơ rất có hiệu quả.
Cây Bạc trinh biển cũng là một loài thuộc họ Thủy Tiên di thực vào nước
ta, thường được trồng làm cảnh và gần đây cũng được nghiên cứu các hợp
chất có hoạt tính chống ung thư, gây độc tế bào, ngăn chặn sự sao chép của
Lớp : liliopsida
Phân lớp : liliiae
Order : liliales
Họ : Amaryllidaceae
- thực vật
- thực vật bậc cao
- hạt kín
- cây có hoa
- một lá mầm
- thủy tiên
3
2.1.2. Đặc điểm hình thái chung của các cây thuộc chi
Hoa lớn, mùi thơm, hoa hình miệng núi lửa phù hợp để loài sâu bướm thụ
phấn.
Củ hình tròn hoặc thuôn, được bao phủ trong 1 cái vỏ, rễ dày màu trắng. Củ
này có thể lên đến 15cm trong những loài lớn của chi nhưng nhỏ hơn ở loài
Ismene và Leptochiton. Ismene và Leptochiton rụng lá sớm.
Hymenocallis ở vùng nhiệt đới lá thường xanh trong khi ở vùng khô cằn
thường sớm rụng lá. Các lá khác nhau về số lượng và chiều dài và thường sắp
xếp theo hàng tuy nhiên H. eucharidifolia có sự sắp xếp theo hình hoa thị. Lá
thường rộng khoảng 5-7mm, không cuống, thẳng hàng và có màu lục lam. Riêng
H.graminifolia lá rộng 15cm, có cuống, cây H.speciosa lá hình mũi mác và màu
xanh lá tươi sáng. Trong Ismene gốc lá hình gì ý, cao lên đến 50cm.
Hoa có thể có 1 hoặc nhiều bông mọc trên thân cây nổi lên từ bên trong lá.
Thân cây bị kẹp giữa hai viền lá vững chắc, chúng được sinh ra vào đầu mùa
sinh trưởng hoặc sớm hơn.
Hymenocallis eucharidifolia là có
nguồn gốc từ Mexico. Một bông
hoa xinh đẹp trên một cây đẹp. Nở
rộ cùng một lúc như H. sonorensis.
(hình 2.3.4)
Hình 2.3.4: Hymenocallis eucharidifolia
Hymenocallis durangoensis là một loài từ Mexico. (hình 2.3.5).
Hình 2.3.5: Hymenocallis durangoensis
Hymenocallis harrisiana là một loài
rụng lá từ Mexico. Các lá hình dải có
màu lục lam, vì nó xuất phát từ một khu
vực khô cằn. Hoa có một vầng hào
quang nhỏ có mùi thơm (vương
miện).Mỗi hoa chỉ nở trong thời gian
một đêm (hình 2.3.6).
Hình 2.3.6: Hymenocallis harrisiana
6
Hymenocallis liriosme phát triển trong trung tâm Lady Bird Johnson
Wildflower. Nó có nguồn gốc Texas cũng như một số các tiểu bang khác phía
Nam. Ảnh của cây nở hoa được chụp vào tháng 4 năm 2004 bởi Lee Poulsen.
Thêm một hình ảnh củ của cây này và hạt giống (hình 2.3.7b) Texas. Hai trong
số những hạt giống đã nảy mầm (hình 2.3.7a).
Hình 2.3.10 : Hymenocallis occidentalis
Hymenocallis riparia có nguồn gốc từ Mexico. Đó là một cây nhỏ với tán lá hẹp
(hình 2.3.11).
Hình 2.3.11: Hymenocallis occidentalis
9
Hymenocallis Sister of Tropical Giant có tán lá rộng và xám màu xanh thay vì
màu xanh đậm (hình 2.3.12).
Hình 2.3.12: Hymenocallis Sister
Hymenocallis sonorensis được tìm thấy ở ven suối và khắp thung lũng
Sonora, Mexico. Bức ảnh đầu tiên chụp tháng chín năm 2003, nhưng các cây
này đã tăng trưởng thậm chí còn lớn hơn và có vài cánh hoa vào tháng Chín năm
2004 (hình 2.3.13).
Hình 2.3.13: Hymenocallis sonorensis
Hymenocallis traubii là một loài nở hoa vào mùa xuân có nguồn gốc từ
Florida. Nó là một cây nhỏ với những bông hoa lớn (hình 2.3.14).
10
Hình 2.3.14: Hymenocallis traubii
-
Hymenocallis 'Tropical Giant' có lá rộng, bóng, cứng, màu xanh đậm và hoa
độc đáo cân đối (hình 2.3.15).
Bộ
: Asparagales
Bạch trinh biển (H. littoralis) (hình 2.4) là cây cỏ nhiều năm, thân hành,
hình cầu, đường kính khoảng 5-10cm, có áo bao mỏng bên ngoài.
Lá xếp 2 hàng ở gốc, không cuống. Phiến lá hình dải hoặc hình kiếm,kích
thước khoảng 60cm x 4cm. Lá dày,màu xanh đậm, láng bong, gân giữa mặt trên
lõm thành hình máng, mặt dưới lồi lên thành gờ rộng, có nhiều gân dọc song
song không rõ.Chóp lá nhọn, gốc ôm lấy nhau.
Cụm hoa tán,gồm 7-15 hoa,trên một cuống hoa chung,dài 60-80cm màu
xanh,thẳng đứng,dẹp và đặc.Lá bắc tổng bao dạng mo,kích thước 5-8cm x 34cm, màu xanh mỏng, 2 chiếc tồn tại.Hoa đều, lưỡng tính, màu trắng, thơm. Gốc
mỗi hoa có một lá bấc nhỏ màu trắng xanh, mỏng, cuống ngắn. Bao hoa 6 mảnh,
dạng tràng, phần dưới dính vào nhau thành ống, dài 8-12cm. Phần trên 6 thùy
hình dải, gần bằng nhau, xếp 2 vòng.Các thùy vòng ngoài dạng mũ nhọn.
Nhị 6, gốc chỉ nhị dính cào nhau thành dạng phễu. Phía dưới màu xanh cao
2,5-4cm, mỏng, mếp các răng nhọn xen kẽ,đính ở họng ống bao hoa. Phần trên
dạng sợi màu xanh dài 4-5cm, rời nhau. Bao phấn đính gốc, dài, hướng trong và
mở bằng khe dọc. Bầu hạ dài cỡ 1cm,gồm 3 ô, mỗi ô một noãn đính ở gần đáy ô,
vòi nhụy dài từ 10-11cm dạng sợi mảnh phía dưới màu trắng phía trên màu
xanh.
Quả mọng đường kính 1,2-1,5cm nứt ở bên,có 1 hạt.Hạt to vỏ rất dày, xốp,nội
nhũ nạc bao lấy phôi nhỏ.
12
Hình 2.4: Hymenocallis litorallis
Vài nét cơ bản về đặc điểm sinh thái,phân bố và giá trị sử dụng
Bạch trinh biển ra hoa vào mùa hè, ra quả vào mùa thu, mùa đông, là loài mọc
3.3.
Thành phần hóa học của cây
Nghiên cứu thực vật học của củ và hoa của cây Bạch trinh biển ở Ai Cập đã
được thực hiện cho kết quả chiết tách với 4 nhóm alkaloid: lycorine (1),
hippeastrine (2), 11-hydroxyvittaine (3), và (+)-8-O-demethylaritidine (4); và 2
chất flavonoids: quercetin 3’-O-glucoside (5), và rutin (6). Các thành phần dễ
bay hơi của cây hoa đã được phân tích lần đầu tiên bằng GC/MS cho thấy có 26
hợp chất đã biết (Bảng 1). Từ đó, hoạt tính kháng vi sinh vật trong dịch chiết của
hoa cây Bạch trinh biển đã được phát hiện. [7]
14
O
9
OH
OH
10a
H
O
6a
N
H20
2
Farnesene
O2
C15
20
Cyclohexanone
H24
C6H
4
98
5
6-Methylhept-5-en-2-
O
C8H
12
6
15
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Methyl 4-
O
C11
27
H34
0
O2
C18
28
H36
4
O2
C16
25
H32
6
O2
C19
29
H34
H46
C15
0
22
H26
2
O
C21
32
Methyl palmitate
Ethyl palmitate
Palmitic acid
Methyl linoleate
Ethyl linoleate
Linoleic acid
3-Methylbutyl
16
O
C23
32
Tetracosane
H48
C24
4
33
Pentacosane
H50
C25
8
35
Hexacosane
H52
C26
2
36
Các chất trên được chia thành 3 lớp chất lớn, trong đó monoterpene chiếm
9.12%, sesquiterpene chiếm 2.08%, diterpene alcohol chiếm 0.8%, hợp chất
benzene chiếm 0.19%, acid hoặc chất béo no bão hòa chiếm 13.08%, acid hoặc
chất béo no không bão hòa chiếm 21.35%, hydrocacbon mạch thẳng chiếm
29.7% và các chất khác chiếm 2.18%. Các thành phần chính như tricosane
chiếm 12.16%, pentacosane chiếm 10.64%, methyl linoleate chiếm 8.45%,
palmitic acid chiếm 8.3%, citronellal chiếm 7.12% và linoleic acid chiếm 7.1%.
Bảng 2: Các lớp chất chính và các thành phần chính trong dịch chiết hoa
cây Bạch trinh biển
Lớp chất
Hàm
Chất chính
Hàm
17
1. Monotetpene
hydrocarbon
Alcohol
Aldehyde
Ketone
Tổng
2. Sesquiterpene
Hydrocarbon
Alcohol
Aldehyde
Ketone
Farnesol 2
Farnesyl acetone C
0.32
0.22
1.27
Geranyl linalool
Methyl 4-
0.8
0.19
methoxycinnamte
n-tricosane
Palmitic acid
Methyl linoleate
12.16
8.3
8.45
Palmitone
1.53
5. Chuỗi hydrocarbon
6. Acid/este no bão hòa
7. Acid/este no không bão
Bạch trinh biển (Hymenocallis litoralis)
4.1. Hoạt tính của họ Thủy tiên
4.1.1. Hoạt tính chung
Các cây thuộc họ Thủy Tiên có củ chứa rất nhiều alkaloid. Những
alkaloid này có cả những chất có lợi và có hại cho con người. Các chất chiết suất
từ họ thực vật này ở Nam Phi có chữa những chất alkaloid độc, khi uống vào cơ
thể gây ảo giác, thậm trí dùng quá liều 1 lượng nhỏ cũng có thể gây ra tử vong.
Những cây thuộc họ Thủy Tiên đã được sử dụng làm thuốc từ hàng nghìn
năm, những người Hy Lạp cổ đại đã biết giá trị chữa bệnh của chúng. Các chất
chiết suất từ củ của cây họ này đã được nghiên cứu hoạt tính khoảng gần 200
năm. Lycorine là alkaloid đầu tiên được cô lập và đã được nghiên cứu với hoạt
tính chống ung thư.
20
Trong hai thập kỷ qua thì các hợp chất lycoricidine (2), narciclasine (3),
pancratistatin (5), và 7-deoxypancratistatin (4) đã được phân lập kiểm chứng
thấy hoạt động chống ung thư và tổng hợp bởi một nhóm nghiên cứu. Cấu trúc
hóa học, hoạt tính sinh học, cũng như phương thức tổng hợp các ankaloid của
họ Amaryllidaceae đã từng được nghiên cứu nhiều. Cho tới nay thì các alkaloid
này chỉ có sẵn trong tự nhiên với số lượng nhỏ, tương lai nó sẽ đóng vai trò là
nguồn chủ yếu chữa ung thư. Cô lập với số lượng lớn các alkaloid này là không
thực tế.
Ngoài ra cũng có trường hợp cho việc tổng hợp hoặc bán tổng hợp các
alkaloid này, dẫn xuất của chúng và các tiền chất tiềm năng. Một số alkaloid
độc cũng thể hiện khả năng chống glycosidic (kháng virut) do có sự giống nhau
giữa hợp chất oxi hóa của chúng với các loại đường tự nhiên. Sau đây là quá
trình tổng hợp narciclasine, ent-7-deoxypancratistatin bằng ba phương pháp tiếp
cận khác nhau. Tất cả đều tổng hợp bắt đầu từ các biooxidation của một hợp
khả năng kìm hãm sự sao chép nghịch đảo của HIV, Lycorine 7 và
Haemanthamine 9 có khả năng gây độc tế bào [16].
22
7 Lycorine
10 Tazettine.
8 Littoraline
9 Haemanthamine
23 dẫn xuất Lycorine và các hợp chất tự nhiên có cấu trúc liên quan đến
Lycorine đã được kiểm tra về khả năng của chúng trong việc hạn chế sinh tổng
hợp vitamin C ( acid ascorbic) trong của khoai tây [17].
Lycorine 7 được nói là kìm hãm quá trình tổng hợp protein và DNA ở tế
bào của chuột và trong thí nghiệm phát triển cấy ghép khối u xưng cổ trướng ở
chuôt. Trong thí nghiệm Lycorine có khả năng làm giảm tế bào ung thư.
Lycorine- 1- O- glucoside có khả năng là một tác nhân kích thích miễn dịch.
Lycorine có tác dụng kìm hãm sự phát triển và phân chia tế bào ở thực vật bậc
cao, tảo và men. Lycorine-1-O-glucoside còn có khả năng kích thích rễ cây phát
triển. Lycorine có khả năng chấm dứt sự tổng hợp các virut bại liệt, tiền thân của
virut bại liệt và men polipepted và có khả năng chống virut. Lycorine còn kìm
hãm sự tổng hợp protein trong tế bào nhân điển hình bằng cách cản trở tạo thành
liên kết peptid. Các alkaloid cũng có hoạt tính tương tự là Dihydrolycorine,
Pseudolycorine, Narciclasin, Haemanthamine và Pretazettine. Các Alkaloid này
làm ngừng sự phát triển của tế bào Hela, ngăn chặn sự tổng hợp của tế bào cổ
trướng, làm chậm sự tổng hợp DNA [18].
trọng trọng của sự ảnh hưởng tới huyết áp của các Amaryllidaceae alkaloid.
Tuy nhiên , (+)- narwedine, galanthamine, epi- galanthamine có tác dụng lên
hiệu quả làm giảm huyết áp ở chuột. Điều thú vị là người ta còn chỉ ra khả năng
kháng emzym cholinesteraza của galanthamine, nó có khả năng khuếch đại hệ
thần kinh tốt hơn epi- galanthamine là một chất khác có tác dụng dược lý rất
đáng chú ý [18].
Quercetin- 3- O- glucoside 6 là một flavonoid được phân lập từ họ Thủy
tiên có khả năng gây độc tế bào, gây độc thực vật, chống vi trùng và tác dụng
chống oxy hóa [19].
Các hợp chất Narciclasine 13, Lycoricidine 14, Pancratistatine là các
Isocarbostyril Alkaloids của loài Narcissus có tiềm năng gây độc tế bào ung thư
và có hoạt tính chống ung thư in vivo với chuột M-5076 và bệnh bạch cầu P388
[20].
24
13 Narciclasine
14 Lycoricidine
4.2. Hoạt tính của cây Bạch trinh biển
4.2.1. Hoạt tính chung
Chi Bạch trinh được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1920 và cho kết quả là
phân lập được hợp chất lycorine. Mặc dù có một loạt các tác động sinh học kèm
theo các ankaloid của chi này nhưng nó vẫn chưa được khoa học quan tâm cho
đến năm 1993 khi Pancratium littorale Jacq phân lập được ankaloid
pancratistatin có hoạt tính chống ung thư.
Từ lâu,trong dân gian, dịch chiết từ lá cây Trinh nữ hoàng cung (Crinum
latifolium ) –một loài thuộc họ Amaryllidaceae với Bạch trinh biển- đã được sư