Hoàn thiện quy định về hình phạt Tử hình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam - Pdf 31

Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
MỤC LỤC

GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

1


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng Hình sự

ECOSOC

Hội đồng kinh tế – xã hội Liên hợp quốc

EU


TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TNHS :

Trách nhiệm hình sự

TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

TP:

Thành phố

UB:

Ủy ban

UNODC

Cơ quan Liên hiệp quốc phòng chống ma túy và tội ác

VKSND:



SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

4


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cũng như các ngành luật khác, ngành luật hình sự được xây dựng trên cơ sở những
nguyên tắc nhất định, trong đó có các nguyên tắc có tính chất chung cho cả hệ thống pháp
luật và có những nguyên tắc đặc thù của riêng ngành luật hình sự. Và nguyên tắc được nhiều
người biết đến trong pháp luật Việt Nam là nguyên tắc nhân đạo.
Từ khi xã hội phân chia giai cấp, nhà nước và pháp luật ra đời cũng như những giá trị
công bằng, dân chủ, nhân đạo... luôn là niềm khát vọng, mục tiêu tranh đấu của con người.
Gần đây, nhân đạo trở thành vấn đề được cập nhật nhiều, được nhiều người quan tâm, tìm
hiểu, nó đang dần phát triển và trở thành mục tiêu mang định hướng toàn cầu. Nhân đạo trở
thành tiêu chí đánh giá các vấn đề “phát triển bền vững” và “tiến bộ xã hội”. Nhân đạo luôn
được thể hiện trong đời sống xã hội, trong pháp luật cũng như toàn bộ đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước ta.
Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự đã thiện rõ một nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân. Tuy nhiên, trong luật hình sự hiện nay vẫn còn tồn tại hình phạt tử hình mặc
dù Bộ luật Hình sự đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung khiến cho rất nhiều người hoài nghi về
tính toàn diện của nguyên tắc nhân đạo, bên cạnh đó là những tranh cãi và khuynh hướng
khác nhau xoay quanh vấn đề này.
Hiện nay, xu hướng chung trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước phát triển ở Châu
Âu đều muốn hạn chế và tiến tới một nền pháp luật không còn hình phạt tử hình. Hơn nữa,
đứng trước xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, việc Việt Nam tham gia vào các cam kết quốc
tế, điều ước quốc tế chúng ta buộc phải có những bước chuyển mình trong pháp luật để phù

có sự tương thích pháp luật làm lập luận cho quan điểm của mình. Nhìn nhận về vấn đề này,
đã có nhiều luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học được công bố; nhiều tờ báo, tạp chí cũng
tham gia bàn luận về những điểm mới trong hình phạt tử hình và thi hành án tử hình. Đây là
vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi, cũ mà luôn mới. Có thể kể tới các đề tài như “Hình phạt
tử hình trong luật hình sự Việt Nam” (Phạm Văn Beo_Viện NN&PL 2006); Luận văn Thạc
sĩ, Trần Thu Huyền “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt tử hình trong bộ luật
Hình sự Việt nam” Đại học Quốc gia Hà Nội 2006; Cần nghiên cứu thu hẹp phạm vi tội danh
có quy định hình phạt tử hình trong bộ luật hình sự (Đỗ Mạnh Quang,Tạp chí Kiểm sát số
4/2013); Nguyên lý của việc bỏ hay giữ hình phạt tử hình (Bùi Ngọc Sơn, Nghiên cứu lập
pháp. Văn phòng Quốc hội, Số 19/2008)...
Những bài viết trên thường xoay quanh vấn đề bình luận, phân tích nguyên nhân, thực
trạng và đưa ra hướng giải quyết vấn đề áp dụng hình thức phạt tử hình với các loại tội phạm
nói chung. Và điều đáng nói là các ý kiến đều xoay quanh vấn đề duy trì hoặc không duy trì
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

6


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
hình phạt tử hình mà chưa đưa ra được định hướng cụ thể đối với việc bỏ hình phạt tử hình
với những tội danh nào và duy trì hình phạt tử hình đối với những tội danh nào, nguyên nhân
tại sao. Nhìn chung vẫn chưa xác định được hướng đi cụ thể, các phương án để hoàn thiện
quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Có ý kiến cho rằng nên duy
trì hình phạt tử hình để đảm bảo tình nghiêm khắc của pháp luật đối với những kẻ phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng hoặc theo lối suy nghĩ xưa: “Lấy mạng đền mạng”. Nhưng cũng có
những ý kiến ủng hộ việc bỏ hình phạt tử hình để đảm bảo tính nhân đạo tuyệt đối trong pháp
luật Việt Nam. Nhưng đề tài này sẽ hướng đi khác và quan điểm khác, mở ra một hướng
nghiên cứu mới. Không chỉ đứng dưới phương diện bình luận giữa bỏ hay không bỏ hình

trong pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn tới_Hội nhập và phát triển, qua đó hoàn
thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.

5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nêu bật được quan điểm pháp luật có hay không duy trì hình phạt tử hình trong pháp
luật Việt Nam hiện nay. Đồng thời đề ra phương hướng hoàn thiện các quy định liên quan
đến hình phạt tử hình trong tương lai. Phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hình
phạt tử hình nói chung như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và bản chất của hình phạt tử hình.
Phân tích thực trạng và hiệu quả của việc áp dụng hình phạt tử hình với các tội phạm ở Việt
Nam và một số quốc gia trên thế giới. Đưa ra những nhận xét khách quan nhất về vấn đề
giảm, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong giai đoạn hội nhập thế giới.
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt
tử hình, đồng thời có sự đối chiếu với pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới.
Nghiên cứu những quy định của pháp luật hình sự và thực trạng áp dụng hình phạt tử hình
thông qua các phiên tòa và các bản án của Tòa án trong những năm gần đây.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong bối cảnh của tình hình nghiên cứu và thực tiễn của việc áp dụng hình phạt tử
hình với các tội phạm trong luật Hình sự Việt Nam việc nghiên cứu đề tài này rất có ý nghĩa
trong việc làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến thực trạng và hiệu quả thực sự của việc áp
dụng hình phạt tử hình với tội phạm. Hơn nữa, với xu hướng hội nhập ngày càng sâu vào nền
kinh tế thế giới của chúng ta hiện nay, ý nghĩa quan trọng nhất của chính là việc làm sáng tỏ
các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề hạn chế và thay thế việc áp dụng hình phạt tử
hình với các tội phạm ở Việt Nam.

GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

8

suốt toàn bộ hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở chỗ tất cả hệ thông pháp luật phải thấm nhuần sự quan
tâm đối với con người. Con người là trung tâm của mọi đường lối chính sách và pháp luật.
Nó không chỉ là phương tiện đảm bảo tính mạng, sức khỏe của con người mà còn tạo ra mọi
điều kiện để mỗi người tự mình xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Khi truy cứu trách
nhiệm pháp lí, pháp luật không có mục đích gây đau khổ về mặt thể xác hoặc hạ thấp danh dự
cá nhân, mà mong muốn giáo dục con người trở về với cuộc sống lương thiện.
Nguyên tắc nhân đạo thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân của Nhà
nước Việt Nam. Thể hiện tư tưởng vì con người của định hướng đi lên nhà nước XHCN.
Nguyên tắc này là sự thể chế hóa điều 71 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992: ”Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của
Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp
phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ phải đúng với pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức
truy bức, nhục hình, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.
Trong ngành luật Hình sự, nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc chung và là nguyên tắc
được chú ý đặc biệt vì hậu quả mà người phạm tội phải chịu theo ngành luật này là hình phạt
–“biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền,
lợi ích của người phạm tội.“ (Điều 26 BLHS).
Theo Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa được sửa đổi, bổ sung thì trong tổng số 267 điều
luật có 30 điều có quy định hình phạt tử hình, chính sách hình sự về hình phạt tử hình đối với
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

10


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
người chưa thành niên, phụ nữ có thai phạm tội tiếp tục được kế thừa. Bộ luật Hình sự năm

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

11


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Ngoài ra, nguyên tắc nhân đạo còn được thể hiện ở nhiều điều luật khác quy định về
hình phạt, về TNHS của người chưa thành niên, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (án
treo), về miễn chấp hành hình phạt, về xóa án tích..vv...
Như vậy, nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc quan trọng của pháp luật hình sự, nhằm
đảm bảo tính nhân văn, bảo vệ những quyền tối thiểu của con người dù trong bất kì hoàn
cảnh nào.
1.1.2. Quyền con người
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trích dẫn lại những câu được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776
của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791:
“- Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc.
- Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình
đẳng về quyền lợi.”
Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và
khẳng định: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy
định trong Hiến pháp và luật”. Cùng với khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên
quan khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập
trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước. Điều đó cũng
đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức: Từ sự đồng nhất một cách ấu trĩ khái niệm quyền
con người, như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị, mà
các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước XHCN đến cách

Nhằm bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, chính trị của công dân, bên cạnh Hiến
pháp năm 1992, chỉ tính trong giai đoạn 1996 -2001, Quốc hội đã thông qua 40 đạo luật, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 40 Pháp lệnh có liên quan đến vấn đề này, tiêu biểu là
Bộ Luật Hình sự; Bộ Luật Tố tụng hình sự; Bộ Luật Dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình;
Luật Quốc tịch Việt Nam; Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Báo chí; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội
đồng nhân dân; Pháp lệnh Xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam.
Gần đây nhất, ngày 27/5/2004, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Tố tụng Dân sự đầu tiên ở
Việt Nam, bổ sung một công cụ pháp lý quan trọng để bảo đảm các quyền dân sự.
Theo Hiến pháp năm 2013, Khoản 1, Điều 14: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

13


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” Tại cuộc Hội thảo
“Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 - Rà soát pháp luật, bảo đảm các quy định của Hiến
pháp về quyền con người” do Bộ Tư pháp tổ chức gần đây, nhiều chuyên gia đã khẳng định,
phân tích rất rõ tiến bộ vượt bậc của các hiến định về quyền con người trong Hiến pháp. Ông
Nguyễn Khánh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định: “Hiến pháp mới có một bước tiến
rất xa so với các bản Hiến pháp trước đây về quyền con người, thể hiện sâu sắc chủ trương,
đường lối của Đảng ta, Nhà nước ta. Toàn bộ tinh thần của Hiến pháp 2013 là Hiến pháp của
con người, vì con người, phục vụ con người. Cách tiếp cận mới rất mạnh mẽ, hiện đại. Hiến
pháp đã khẳng định quyền con người là quyền đương nhiên và chỉ có thể bị hạn chế bởi 4 lý
do: An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đạo đức, sức khoẻ cộng đồng. Tất cả những
vấn đề liên quan đều phải nâng cấp, điều chỉnh bằng luật chứ không dừng ở pháp lệnh. Hiện

hình cũng là một hình thức cướp đoạt đi quyền sống của con người. Tuy nhiên theo một khía
cạnh nhất định, sự tồn tại của hình thức phạt tử hình không gây ra quá nhiều bất đồng giữa
nguyên tắc nhân đạo và hình phạt. Luật Hình sự Việt Nam đã hạn chế áp dụng hình phạt tử
hình trong nhiều tội, xóa bỏ một số tội không còn hình thức phạt này nữa. Đấy là do sự ảnh
hưởng của nguyên tắc nhân đạo, của xu hướng phát triển chung của thế giới tiến đến việc xóa
bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình trong tương lai và thay vào đó là những hình phạt khác. Khi
còn tồn tại hình phạt tử hình, thì nguyên tắc nhân đạo không còn được hiểu theo một nghĩa
trọn vẹn. Thử hình dung:
NHÂN ĐẠO

QUYỀN CON NGƯỜI

TỬ HÌNH

QUYỀN CON NGƯỜI

Hình phạt tử hình không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án, như vậy nó
tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ. Hơn nữa tử hình có tính chất không thể
thay đổi, làm mất đi khả năng khắc phục sai lầm tư pháp.
Tuy nhiên như vậy cũng không thể khẳng định rằng duy trì hình phạt tử hình là không
nhân đạo mà tính nhân đạo được thể hiện ở việc trừng trị người phạm tội (số ít) để bảo vệ
tính mạng và những lợi ích của số đông (tất cả mọi người) trong xã hội là việc làm nhân đạo
cần thiết và tính nhân đạo còn thể hiện ở việc thi hành hình phạt tử hình làm sao cho tử tội
được ra đi nhẹ nhàng nhất, cũng như không mang tính khủng bố tinh thần đối với người khác.
Chúng ta phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân của người phạm tội. Pháp
luật quốc tế cũng không cấm hình phạt tử hình, mà chỉ khuyến khích các nước nên giảm và
tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình. Việc áp dụng hình phạt tử hình nên duy trì, mọi người đều
được pháp luật bảo vệ và đều bình đẳng trước pháp luật. Ngoài ra với tình hình phạm tội gần
đây ở nước ta hiện nay không duy trì hình phạt tử hình sẽ không ngăn chặn được những tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm hại đến lợi ích chung của xã hội, những quyền tự nhiên, cơ

để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó. Tội phạm đe dọa
sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứng một cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội.
Hình phạt tử hình còn mang tính lịch sử, tính giai cấp. Sự tồn tại và phát triển của nó
gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người. Nó là sản phẩm của xã hội phát triển đến một
giai đoạn nhất định mà ở đó xuất hiện nhà nước và pháp luật. Nó là công cụ mà Nhà nước sử
dụng để bảo vệ và củng cố địa vị thống trị của mình.
Như vậy, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước đi quyền được sống của người
phạm tội. Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành hình phạt tử hình đều phải hết sức
thận trọng, không được phép sai sót. Chính vì vậy pháp luật quy định rất chặt chẽ các trình tự
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

16


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
đặc biệt về hình phạt tử hình. Bộ luật tố tụng hình sự quy định thành một chương (chương
XXVI Thi hành hình phạt tử hình). Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng dành mục II trong
Nghị quyết 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 để hướng dẫn áp dụng thống nhất Chương
XXVI-BLTTHS "Thi hành hình phạt tử hình". Hướng dẫn của TANDTC rất cụ thể, rõ ràng
về việc kháng cáo, kháng nghị hoặc xét đơn xin ân giảm... [1.1 Đ1 Mục II 02/2007/NQHĐTPTANDTC). Luật Thi hành án Hình sự 2010 cũng quy định chi tiết về thi hành án tử
hình ở chương IV.
Trong Bộ luật Hình Sự Việt Nam hiện nay (đã sửa đổi bổ sung năm 2009) vẫn còn tồn
tại hình thức phạt tử hình mặc dù đã có những cắt bỏ hình phạt đó ở các Điều
111,139,153,180,197,221,289 và 334. Sở dĩ các nhà làm luật vẫn giữ nguyên hình phạt tử
hình ở một số điều luật vì quan niệm rằng sự tồn tại của hình phạt tử hình đảm bảo cho công
tác đấu tranh, chống loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm hại nghiêm trọng đến các quan
hệ xã hội được luật này bảo vệ được nghiêm khắc hơn. Ngoại trừ hình phạt tử hình ra không
còn hình phạt nào có thể đảm bảo công bằng xã hội, trong trường hợp các hình phạt khác

nội dung nêu trên của tuyên ngôn, đồng nghĩa với việc vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, thực
tế không có một đoạn văn nào của tuyên ngôn cụ thể hóa việc làm như thế nào là vi phạm
nhân quyền. Do đó, nếu dựa vào Điều 3 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, theo các quốc
gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, để khẳng định rằng việc sử dụng hình phạt tử hình là vi phạm
nhân quyền thì thật vô lý. Bởi vì, nếu tử hình một ai đó tức là vi phạm nhân quyền thì chúng
ta cũng phải xóa bỏ các trại giam, nhà tạm giữ, trại tạm giam vì khi giam một ai đó cũng vi
phạm quyền tự do. Bên cạnh đó dựa theo Điều 5 của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, các
quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình cho rằng hình phạt tử hình nên được xóa bỏ vì đó là một
hình phạt tàn khốc nhất, vô nhân đạo, hạ thấp phẩm giá con người. Đây là sự đánh giá mang
tính phiến diện, vì Điều 5 của Tuyên ngôn không có sự giải thích và áp dụng trong những
trường hợp cụ thể nào được coi là vô nhân đạo, hạ thấp phẩm giá con người. Rõ ràng, việc tử
hình một người phạm tội giết người hoặc gây ra những tội ác nghiêm trọng khác là phù hợp
với công lý, đền bù thích đáng nhất cho sự mất mát, khổ đau của những nạn nhân và gia đình
họ. Nếu việc áp dụng hình phạt tử hình bị coi là làm tổn hại phẩm giá, phi nhân đạo đối với
người người phạm tội thì việc không áp dụng hình phạt tử hình cũng có thể coi làm tổn hại
phẩm giá của người bị hại và phi nhân đạo đối với toàn xã hội. Hình phạt tử hình mang lại
cho tất cả chúng ta, đặc biết với nạn nhân của tội phạm sự yên bình và không còn bị tội phạm
tái xâm phạm. Chúng ta phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân của người
phạm tội. Do đó không thể giải thích là hình phạt tử hình hoàn toàn có nội dung tàn khốc và
hạ thấp phẩm giá con người.
Về mặt lý luận, hình phạt tử hình không trái với nguyên tắc nhân đạo. Hình phạt tử
hình là nghiêm khắc nhất, tước đi quyền sống của người phạm tội. Đây là hình phạt chỉ có tác
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

18


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam


SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

19


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
đồng đặt trong một tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Kể cả khi người phạm tội chấp hành xong
hình phạt (tù chung thân được giảm án), và một ngày họ sẽ được trở về. Khi đó những người
từng làm chứng chống lại họ, những đối thủ của họ, thậm chí cả những người đã từng xét xử
họ… sẽ không có được cuộc sống yên ổn vì lo âu, sợ hãi, sợ một ngày nào đó bị trả thù. Do
đó, hình phạt tử hình được xem là điều kiện tốt để mang lại một cuộc sống có chất lượng và
an ninh cho toàn xã hội. Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới cho thấy, khi các điều
kiện chưa cho phép thì không nên nghĩ đến việc xóa bỏ hình phạt tử hình. Bởi vì, sau khi xoá
bỏ hình phạt tử hình, họ phải khôi phục lại hình phạt tử hình nhằm trấn áp, răn đe tội phạm
vốn chưa được kiểm soát nay có điều kiện phát triển bởi không còn sợ nguy cơ bị xử phạt tử
hình. Ví dụ như Philippines, là quốc gia đầu tiên ở châu Á xóa bỏ hình phạt tử hình, nhưng
do tình hình tội phạm tăng lên nên năm 1993 quốc gia này đã phải khôi phục hình phạt này
và duy trì tới tháng 6 năm 2006 mới lại chính thức xóa bỏ. Ngoài ra hình phạt tử hình đảm
bảo mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm của hệ thống hình phạt. Hiện nay quan điểm bỏ
hình phạt tử hình cho rằng việc duy trì hình phạt tử hình không có tác dụng răn đe và phòng
ngừa tội phạm mà thậm chí còn làm tăng tội phạm. Chúng ta đều biết, tác dụng răn đe và
phòng ngừa tội phạm của hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng phụ thuộc vào
điều kiện của mỗi quốc gia như: Kinh tế, văn hóa, trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người
dân…Ở những quốc gia cho rằng hình phạt tử hình không làm giảm tội phạm đa số các quốc
gia có nền kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao, ý thức pháp luật cao. Do đó, việc họ còn
duy trì hay xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật đã không còn ý nghĩa đến sự tăng hay giảm tội
phạm. Trước khi xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật, đã có một thời gian dài họ không hề áp
dụng hình phạt tử hình trên thực tế. Chúng ta có thể quan tâm tới hình phạt tử hình của các
tiểu bang thuộc Hợp chúng quốc Hoa Kì, 5 năm qua, có thêm 6 tiểu bang áp dụng tử hình đã

hiện và không được trái với những qui định của Công ước này và Công ước về ngăn ngừa và
trừng trị tội diệt chủng. Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực
pháp luật do một tòa án có thẩm quyền phán quyết”. Tuy rằng liên quan đến vấn đề này, vào
năm 1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị định thư tùy chọn thứ hai bổ sung
ICCPR trong đó qui định việc xóa bỏ hình phạt tử hình nhưng Nghị định thư này chỉ là
khuyến nghị tùy chọn nên không có giá trị pháp lý bắt buộc tất cả các thành viên mà chỉ
những thành viên nào tự nguyện tham gia Nghị định thư này mới có nghĩa vụ pháp lý quốc tế
về việc xóa bỏ hình phạt tử hình trong hệ thống pháp luật quốc gia mình. Tóm lại, đến thời
điểm hiện tại, xóa bỏ hình phạt tử hình không phải nghĩa vụ pháp lý quốc tế bắt buộc mọi
quốc gia phải tuân thủ.
Tất nhiên điều này không đồng nghĩa với việc các quốc gia vẫn đang duy trì hình phạt
tử hình có thể tùy tiện áp dụng hình phạt tử hình. Khoản 2 Điều 6 Công ước ICCPR thừa
nhận có thể áp dụng hình phạt tử hình nhưng cũng đặt ra ngay hạn chế “Chỉ được áp dụng
hình phạt tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất”. Thực tế các quốc gia chưa có quan
điểm thống nhất về khái niệm và các mức độ “nguy hiểm” của tội phạm. Nhưng vẫn có thể
xác định phạm vi “tội phạm nghiêm trọng nhất” thông qua phương pháp loại trừ. Cụ thể thì
bảo đảm thứ nhất trong văn kiện các bảo đảm về các quyền của những người bị kết án tử hình
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

21


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
do Hội đồng kinh tế - xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) thông qua năm 1984 đã qui định: “Ở
những quốc gia vẫn còn duy trì hình phạt tử hình, hình phạt này chỉ được áp dụng với những
tội phạm nghiêm trọng nhất, mà được hiểu là những tội phạm thực hiện do chủ ý, gây ra hậu
quả chết người hoặc những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”. Quan trọng hơn chính
những hạn chế của bảo đảm thứ nhất của văn kiện trên đã “loại trừ khả năng áp dụng hình

Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
các tội phạm đặc biệt như tội phạm chiến tranh, 35 quốc gia được xem như là đã xóa bỏ trên
thực tế. Những quốc gia này giữ lại hình phạt tử hình trên luật pháp, tuy nhiên đã không áp
dụng bất kỳ một hình phạt tử hình nào trên thực tế xét xử trong suốt 10 năm qua.
Tử hình là hình phạt tước đi quyền sống - quyền cơ bản, quan trọng nhất của con
người - tước bỏ cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và phục thiện của người bị kết án. Đặc biệt, sai
lầm (oan sai) trong áp dụng hình phạt tử hình là không thể khắc phục. Cho nên, xu hướng
chung của thế giới hiện nay là thu hẹp phạm vi áp dụng và bỏ hình phạt tử hình.
Thống kê của Bộ Tư pháp cho thấy cho đến nay có đến 162 quốc gia và vùng lãnh thổ
đã bãi bỏ hình phạt tử hình (trong đó 100 nước bãi bỏ hoàn toàn, 55 nước có quy định hình
phạt tử hình nhưng không áp dụng trên thực tế, 07 nước duy trì với một số tội theo luật quân
sự trong hoàn cảnh đặc biệt), chỉ có 37 nước và vùng lãnh thổ có hình phạt tử hình với tội
thông thường.
Ngay trong 10 nước ASEAN cũng có hai nước bãi bỏ hoàn toàn, ba nước có quy định
hình phạt tử hình nhưng không áp dụng. Nhưng trong báo cáo đánh giá tác động của dự án
Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ Tư pháp vẫn khẳng định, “thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình
trong nhiều thập kỷ qua đã đem lại tác dụng trong việc trừng trị những người phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật”.
Phần lớn các quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình trong những thập niên gần đây thuộc
Liên minh Châu Âu, vì theo quy chế của tổ chức này, việc xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật
hình sự là một trong những tiêu chí quan trọng để xét gia nhập. Duy trì hay xóa bỏ hình phạt
tử hình là vấn đề quan trọng nên thường được thực hiện bởi hình thức dân chủ trực tiếp trưng cầu ý dân. Trước khi qui định xóa bỏ hình phạt tử hình các quốc gia trong khối EU đã
đưa vấn đề này ra trưng cầu ý dân và đa số họ đã đồng ý. Hiện nay một trong những điều kiện
(bắt buộc) để gia nhập EU của quốc gia mới phải chấp thuận việc bãi bỏ hình phạt tử hình
trong hệ thống hình phạt của quốc gia mình và họ cũng phải trưng cầu ý dân về sự tồn tại của
hình phạt tử hình. Như vậy, việc bỏ hay duy trì hình phạt tử hình hoàn toàn phụ thuộc vào ý
chí của người dân trên cơ sở nhận thức và mong muốn của họ. Cũng theo xu hướng này, các
thiết chế tư pháp quốc tế trừng trị tội phạm quốc tế lập ra những năm gần đây đều không qui
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh


Nam đã áp dụng nhiều loại hình phạt để trừng trị tội phạm trong Bộ luật Hình sự của mình.
Mặc dù chính phủ đã cởi mở hơn trong việc cho phép tranh luận công khai về án tử hình,
nhưng trong năm 2014 đã không có tiến bộ đáng kể nào trong việc giảm áp dụng hình phạt
này tại Việt Nam. Án tử hình tiếp tục được tuyên và thi hành sau khi việc đình chỉ thi hành án
trên thực tế bị gỡ bỏ năm 2013.
Việt Nam là thành viên của công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị từ năm
1966. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 6 của công ước quy định: “Ở những quốc gia chưa xóa
GVHD: PGS.TS Cao Thị Oanh

SV: Nguyễn Thị Phương Thảo LQT 12_01

24


Hoàn thiện quy định về hình phạt tử hình trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam
bỏ hình phạt tử hình thì chỉ được phép áp dụng đối với những tội nghiêm trọng nhất…”. Điều
này cho thấy, công ước thừa nhận ở những quốc gia khác nhau, tùy theo điều kiện cụ thể của
mình có thể duy trì hình phạt tử hình. Nhưng hình phạt tử hình phải được áp dụng đối với
những người phạm tội nghiêm trọng nhất. Việt Nam đã thực hiện đúng cam kết này. Đối với
nghị định thư thứ hai về việc xóa bỏ hình phạt tử hình, thì cũng chỉ mang tính khuyến nghị
mà không có tính bắt buộc cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Như vậy việc tiếp tục duy trì
hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay là cần thiết và không trái pháp luật quốc tế.
Ở Việt Nam, biện pháp trừng trị đã được quy định trong hệ thống hình phạt, trong đó
biện pháp nghiêm khắc nhất là tước bỏ tính mạng (tử hình) người phạm tội, nhưng còn do
tình hình kinh tế - xã hội của đất nước nên Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ còn quy định 22 tội
có hình phạt tử hình, so với 44 tội có hình phạt này của Bộ luật Hình sự năm 1985. Bộ luật
Hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 đã bãi bỏ hình phạt tử hình ở các điều
111,139,153,180,197,221,289,334. Sửa đổi cụm từ “hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử
hình” thành cụm từ “hai mươi năm hoặc tù chung thân” tại khoảng 3 Điều 111, khoản 4 Điều
139, khoản 4 Điều 153, khoản 3 Điều 180, khoản 4 Điều 197, khoản 3 Điều 221, khoản 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status