HỆ THỐNG ĐỊNH vị TOÀN cầu GPS,ỨNG DỤNG TRONG đo vẽ TRẮC địa, địa HÌNH - Pdf 31

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ

BÀI TIỂU LUẬN : HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ
TOÀN CẦU GPS,ỨNG DỤNG TRONG
ĐO VẼ TRẮC ĐỊA, ĐỊA HÌNH

Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Quang Tuấn
Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Thị Hồng Quyên

Đà Nẵng, 2015


Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TOÀN CẦU GPS
1.1Các thành phần cơ bản của hệ thống
1.1.1 Phần không gian ( Space Segment)
1.1.2 Đoạn điều khiển (Control segement)
1.1.3 Đoạn sử dụng ( User Segment)
1.2 Các phương pháp đo trong GPS
1.2.1 Phương pháp đo tuyệt đối
1.2.2 Đo vi phân
1.2.3 Phương pháp đo tương đối
a. Nguyên lý đo GPS tương đối
b. Đo tĩnh
c. Đo động

những bước phát triển vượt bậc với những thành tựu to lớn, đã và đang được ứng dụng để
đáp ứng nhu cầu của con người. Với sự phát triển như vũ bão của các lĩnh vực khoa học
công nghệ mũi nhọn như công nghệ vũ trụ, công nghệ nano, công nghệ sinh học,…mở ra
một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên con người tiến tới chế ngự và làm chủ thiên nhiên.
Những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại cho phép con người biến những ý tưởng
sáng tạo nhất thành hiện thực. Hình ảnh vật thể trên bề mặt trái đất được ghi nhận từ vệ
tinh cách xa hàng trăm km và được số hóa phục vụ trong công tác thành lập bản đồ cũng
như giám sát các đối tượng trong công tác điều tra cơ bản và phát triển kinh tế xã hội
ngày càng được ứng dụng rộng rãi.
Ở Việt Nam, các thiết bị thu tín hiệu vệ tinh đã được sử dụng và ứng dụng từ khá lâu. Hệ
thống định vị toàn cầu GPS là hệ thống dẫn đường và định vị chính xác dựa trên các vệ
tinh VAVSTAR được bộ quốc phòng Mỹ thiết kế, triển khai từ năm 1973 và hiện đang
được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Ban đầu, hệ thống này được dùng cho mục đích quân
sự nhưng sau đó đã được thương mại hóa. Ngày nay, công nghệ GPS chiếm vai trò chủ
đạo trong các ứng dụng dân sự và đã thay thế công nghệ truyền thống trong việc xây dựng
lưới tọa độ, đồng thời mở ra nhiều các lĩnh vực khác nhau vì nó đạt được nhiều tính ưu
việt hơn hẳn các phương pháp cũ như độ chính xác cao, thời gian đo nhanh, ít tốn kém và
hầu hết thực hiện được trong mọi điều kiện thời tiết. Công nghệ GPS đã mang lại nhiều
hiệu quả khoa học như định vị được với độ chính xác tới milimet, khoảng cách đo được
lên tới hàng nghìn km, có thể định vị các đối tượng chuyển động tạo cơ sở khoa học mới
cho xây dựng các hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia, quan trắc dịch chuyển lục địa, quan
trắc biến động vỏ trái đất, dự báo động đất…
Trong những năm gần đây công nghệ GPS đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất trắc
địa – địa hình, đây là công nghệ đo đạc tiên tiến, rất thuận lợi trong công tác xây dựng các
mạng lưới khống chế trắc địa. Với ngành trắc địa bản đồ thì đây là cuộc cách mạng thực
sự về cả kỹ thuật, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế trên phạm vi toàn thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng.
Với mục đích tìm hiểu rõ hơn về công nghệ này, cùng với ứng dụng của nó trong ngành
trắc địa, đo vẽ bản đồ, em tiến hành nghiên cứu về đề tài “Hệ thống định vị toàn cầu
GPS”. Tuy nhiên về trình độ và thời gian có hạn, bài tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh

hiệu chỉnh cho các đồng hồ vệ tinh. Các số liệu này được truyền từ trạm điều khiển trung
tâm tới các trạm quan sát, từ đó truyền tiếp lên các vệ tinh cùng với các lệnh điều khiển
khác. Việc chính xác hóa thông tin được tiến hành 3 lần trong một ngày. Ngoài ra, trạm
trung tâm còn điều khiển hiệu chỉnh quỹ đạo, khởi động vệ tinh dự phòng khi cần thiết
thay thế vệ tinh đã ngừng hoạt động.
1.1.3 Đoạn sử dụng ( User Segment)
Đoạn này bao gồm tất cả các máy móc, thiết bị thu nhận thông tin từ vệ tinh để khai thác
sử dụng cho các mục đích và yêu cầu khác nhau. Đó có thể là một máy thu riêng biệt,
hoạt động độc lập (trường hợp định vị tuyệt đối) hay một nhóm từ hai máy thu trở lên
hoạt động đồng thời theo một lịch trình nhất định (trường hợp định vị tương đối) hoặc


hoạt động theo chế độ một máy thu đóng vai trò máy chủ phát tín hiệu vô tuyến hiệu
chỉnh cho các máy thu khác (định vị vi phân).
1.2 Các phương pháp đo trong GPS
1.2.1 Phương pháp đo tuyệt đối
Đo GPS tuyệt đối là trường hợp sử dụng máy thu GPS để xác định tọa độ của điểm quan
sát trong hệ thống tọa độ WGS-84. Đó có thể là các thành phần vuông góc không gian (X,
Y, Z) hoặc thành phần tọa độ mặt cầu (B, L, H). Hệ thống tọa độ WGS-84 là hệ thống tọa
độ cơ sở của hệ thống GPS; tọa độ của vệ tinh cũng như của điểm quan sát đều được lấy
theo hệ thống tọa độ này.
Việc đo GPS tuyệt đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đại lượng đo là khoảng cách giả
từ vệ tinh đến máy thu theo nguyên tắc giao hội không gian từ các điểm có tọa độ đã biết
là các vệ tinh.
Nếu biết chính xác khoảng thời gian lan truyền tín hiệu code tựa ngẫu nhiên từ vệ tinh đến
máy thu. Ta sẽ tính được khoảng cách chính xác giữa vệ tinh và máy thu. Khi đó 3 khoảng
cách được xác định đồng thời từ 3 vệ tinh đến máy thu sẽ cho ta vị trí không gian đơn vị
của máy thu. Song trên thực tế cả đồng hồ máy thu và đồng hồ vệ tinh đều có sai số, nên
các khoảng cách được đo không phải là khoảng cách chính xác. Kết quả là chúng không
thể khắc phục tình trạng này, cần sử dụng thêm một đại lượng đo nữa, đó là khoảng cách


Hình 2 : Định vị GPS vi phân
1.2.3 Phương pháp đo tương đối
a. Nguyên lý đo GPS tương đối
Đo GPS tương đối là trường hợp sử dụng hai máy thu GPS đặt tại hai điểm quan sát khác
nhau để xác định ra hiệu tọa độ vuông góc không gian ( ∆X, ∆Y, ∆Z ) hay hiệu tọa độ mặt
cầu ( ∆B, ∆L, ∆H ) giữa chúng trong hệ tọa độ WGS – 84.
Nguyên lý đo GPS tương đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đại lượng đo là pha của
sóng tải. Để đạt được độ chính xác cao và rất cao cho kết quả xác định hiệu tọa độ (hay vị
trí tương hỗ) giữa hai điểm xét người ta đã tạo và sử dụng các sai phân khác nhau cho pha
tải nhằm làm giảm ảnh hưởng của các nguồn sai số khác nhau như : sai số đồng hồ vệ tinh
cũng như trên máy thu, sai số tọa độ vệ tinh, sai số nguyên đa trị…
Số vệ tinh GPS xuất hiện trên bầu trời thường nhiều hơn 4, có khi lên tới 10 vệ tinh. Bằng
cách tổ hợp theo từng cặp vệ tinh ta sẽ có rất nhiều trị đo. Không những thế khi đo tương
đối các vệ tinh lại được quan sát trong một khoảng thời gian tương đối dài, thường từ nửa
giờ đến vài ba giờ. Do vậy trên thực tế số lượng trị đo để xác định ra hiệu tọa độ giữa hai
điểm quan sát sẽ là rất lớn và khi đó số liệu đo sẽ được xử lý theo nguyên tắc bình
phương nhỏ nhất.


Hình 3 : Nguyên lý định vị tương đối
b. Đo tĩnh
Phương pháp đo tĩnh được sử dụng để xác định hiệu tọa độ (hay vị trí tương hỗ) giữa hai
điểm xét với độ chính xác cao, thường là nhằm đáp ứng yêu cầu công tác trắc địa – địa
hình. Trong trường hợp này cần hai máy thu, một máy đặt ở điểm đã biết tọa độ, còn máy
kia đặt ở điểm cần xác định. Cả hai máy phải đồng thời thu tín hiệu từ một số vệ tinh
chung liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một đến hai ba tiếng đồng
hồ. Số vệ tinh chung tối thiểu cho cả hai trạm quan sát là ba, nhưng thường được lấy là 4
để đề phòng trường hợp thu tín hiệu gián đoạn. Khoảng thời gian quan sát phải kéo dài là
đủ cho đồ hình phân bố vệ tinh thay đổi mà từ đó ta có thể xác định được số nguyên đa trị

hợp này thì phải tiến hành khởi đo lại tại cạnh đáy xuất phát hoặc sử dụng một cạnh đáy
khác được thiết lập dự phòng trên tuyến đo. Cạnh đáy có thể dài từ 2m đến 5km.


Phương pháp đo động cho phép đạt độ chính xác định vị tương đối không thua kém so với
phương pháp đo tĩnh. Song nó lại đòi hỏi khá ngặt nghèo về thiết bị và tổ chức đo để đảm
bảo yêu cầu về đồ hình phân bố cũng như tín hiệu của vệ tinh.

Hình 5 : Khởi đo bằng hoán đổi vị trí

Hình 6 : Đo GPS theo thời gian thực


Hình 7: Đo GPS dừng động và đi
d. Đo giả động
Phương pháp đo giả động cũng cho phép xác định vị trí của hàng loạt điểm so với điểm
đã biết trong khoảng thời gian đo khá nhanh, nhưng độ chính xác định vị không cao bằng
phương pháp đo động. Trong phương pháp này không cần thủ tục khởi đo, tức là không
cần sử dụng cạnh đáy đã biết. Máy cố định cũng phải thu tín hiệu liên tục trong suốt chu
kỳ đo, còn máy di động được chuyển đến từng điểm đo, tại mỗi điểm thu tín hiệu trong 5
– 10 phút.
Sau khi đo hết lượt máy di động quay về điểm xuất phát (điểm đo đầu tiên) và do lặp lại
tất cả các điểm theo đúng trình tự đó nhưng phải đảm bảo sao cho khoảng thời gian dãn
cách giữa hai lần đo tại mỗi điểm không ít hơn một tiếng đồng hồ. Chính trong khoảng
thời gian này đồ hình phân bố vệ tinh thay đổi đủ để xác định được số nguyên đa trị, còn
hai lần đo, mỗi lần đo kéo dài 5 – 10 phút và giãn cách dài trong một tiếng. Yêu cầu nhất
thiết trong phương pháp này là phải có ít nhất 3 vệ tinh chung cho cả hai lần đo tại mỗi
điểm quan sát.
Điều đáng chú ý là máy di động không nhất thiết phải thu tín hiệu vệ tinh liên tục trong
suốt chu kỳ đo mà chỉ cần thu trong vòng 5 – 10 phút tại mỗi điểm đo, nghĩa là có thể tắt



1.3 Các nguồn gây sai số

Hình 8 : minh họa các nguồn gây sai số

1.3.1
a.

Sai số do vệ tinh
Sai số quỹ đạo vệ tinh

Chuyển động của vệ tinh xung quanh trái đất tuân theo các định luật cơ học cổ điển và
định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Chuyển động này được mô tả bởi 3 định luật
chuyển động của Kepler và được xác định bởi 16 thông số quỹ đạo. Ngoài chịu lực hấp
dẫn của trường trọng lực trái đất vệ tinh GPS còn chịu sự tác động của bức xạ mặt trời,
lực hấp dẫn của mặt trời, mặt trăng, và các thiên thể khác. Như vậy, chúng ta cần xác định
và sử dụng vị trí tức thời của vệ tinh được xác định ra trên cơ sở sử dụng đoạn không gian
và đương nhiên tọa độ của vệ tinh có chứa sai số. Bản tọa độ vệ tinh ứng với từng thời
điểm cụ thể gọi là Ephemeris (lịch vệ tinh), có hai loại Ephemeris là Ephemeris chính xác
và Ephemeris đại trà.
Ephemeris chính xác chỉ được cung cấp khi chính phủ Mỹ cho phép và đảm bảo định vị
tuyệt đối tốt nhất là 1m.


Ephemeris đại trà được cung cấp cho khách hàng qua tín hiệu vệ tinh phát đi. Ephemeris
loại này cho phép định vị tuyệt đối cỡ 30m, nhưng nó còn bị nhiễu cố ý cho nên độ chính
xác định vị tuyệt đối thực tế cỡ 100m. Sai số vị trí của vệ tinh ảnh hưởng hầu như trọn
vẹn đến sai số xác định tọa độ của điểm quan sát đơn riêng biệt. Để khắc phục sai số này
các nhà nghiên cứu đã đưa ra phương án định vị tương đối và khi dùng phương án này sai


1.3.2 Các sai số phát sinh từ môi trường lan truyền tín hiệu vô tuyến.
a. Trễ tầng điện ly
Tín hiệu sóng điện từ khi đi qua tầng điện ly thì tốc độ truyền bị thay đổi gây ra sai số hệ
thống với kết quả đo và được gọi là hiện tượng tán xạ tầng điện ly. Độ lớn của tán xạ phụ
thuộc vào điều kiện bên ngoài và tầng số của tín hiệu.
Tầng điện ly ở vào độ cao khoảng 60 km đến 4000 km, Đặc điểm của tầng này là do tác
động của các bức xạ mặt trời như tia cực tím, bức xạ, X, các tia vũ trụ mà cá phân tử
không khí bị phân hủy thành các ion và các electron tự do. Tính chất của tầng này thay
đổi rất nhiều theo thời gian trong ngày cũng như theo mùa.
Cũng giống như bất kỳ một tín hiệu điện từ nào truyền qua môi trường ion hóa, các tín
hiệu GPS cũng chịu ảnh hưởng của tính chất khuếch tán phi tuyến của môi trường này.
Tín hiệu vệ tinh lan truyền trong tầng điện ly làm dao động các electron tự do, chính sự
dao động này sinh ra một trường điện từ biến thiên của electron và đến lượt nó tương tác
trở lại với tín hiệu vệ tinh. Các electron trong qua trình dao động nếu va chạm với các
phân tử không khí hoặc ion sẽ làm suy giảm năng lượng của tín hiệu vệ tinh.
Trong phạm vi tần số GPS, ảnh hưởng của tầng điện ly đối với cự ly thay đổi từ khoảng
lớn hơn 150m (khi vệ tinh gần chân trời, giữ trưa, trong thời kì vệt đen trên mặt trời cực
đại) tới khoảng nhỏ hơn 5m (khi vệ tinh gần thiên đỉnh, ban đêm, trong thời kì vệt đen
trên mặt trời cực tiểu).
Hiệu chỉnh ảnh hưởng của tầng ion đối với trị đo của máy thu tần số L1 phải dựa vào các
tham số mô hình phát đi trong thông báo vệ tinh, tuy nhiên chỉ giảm được khoảng 50%
ảnh hưởng của tầng ion.
b. Trễ trên tầng đối lưu
Tầng đối lưu gồm các thành phần chính 78% Nitơ 21% Oxi và cả hơi nước ở vào độ cao
từ 0 đến 70km. Khúc xạ của tầng khí quyển trung tính này hoàn toàn độc lập với các tầng
số thuộc phổ sóng vô tuyến. Không giống tầng điện ly, tầng khí quyển không khuếch tán
các tần số thấp hơn 30GHz, vì vậy các trị thời trễ nhóm hay pha đều như nhau. Để thuận
tiện, người ta phân tích khúc xạ tầng khí quyển trung tính làm 2 phần : khô và ướt. Ba
nhân tố chính của tầng đối lưu ảnh hưởng tới tín hiệu vệ tinh là : mật độ không khí, nhiệt

Đối với các thiết bị độ chính xác thấp, người ta có thể giả thuyết nhưng độ lệch này là
không đáng kể và bỏ qua tất cả các độ lệch đó. Nói cách khác, nếu được cung cấp đầy đủ
các vệ tinh, người ta có thể lựa chọn để cùng với việc giải tọa độ người ta giải luôn cả
tham số độ lệch đồng hồ đặt ngoài máy thu một cách đơn giản. Đây chính là phương pháp
thông dụng vẫn được dùng trong hàng hải GPS; độ lệch ở đây được giả thuyết là độc lập
tại mỗi thời điểm đo. Phương pháp này có số lượng giả thuyết về tình trạng đồng hồ ít
nhất. Một mô hình đa thức của đồng hồ tương tự đối với các đồng hồ vệ tinh có thể được
sử dụng, các hệ số của đa thức được xác định như là một phần của quá trình ước lượng
các tham số. Điều này có liên quan đến các giả thuyết về tình trạng của đồng hồ.
b. Sai số do sự dịch chuyển tâm pha anten

Tâm pha là một điểm nằm bên trong anten, là nơi tín hiệu GPS biến đổi thành tín hiệu
trong mạch điện tử, các trị đo khoảng cách được tính vào điểm này. Điều này có ý nghĩa
quan trọng, ở nhà máy chế tạo anten đã được kiểm định sao cho tâm pha trùng với tâm
hình học của nó, tuy nhiên tâm pha thay đổi vị trí phụ thuộc vào đồ hình vệ tinh, ảnh
hưởng này có thể kiểm định trược khi đo hoặc sử dụng mô hình tâm pha ở giai đoạn tính
xử lý. Quy định cần phải tuân theo là khi đặt anten cần dóng theo cùng một hướng và tốt
nhất là sử dụng cùng một loại anten cho cùng một ca đo.


Hình 10 : Sai số do tâm pha dịch chuyển
Ngoài các nguồn sai số chủ yếu trên đây còn có các nguồn sai số khác như sai số do ảnh
hưởng xoay của Trái đất, do hiệu ứng của thuyết tương đối, do triều tịch của trái đất, do
sai số vị trí máy thu, sai số do người đo…Trong định vị chính xác cao cần phải xem xét
và tìm biện pháp giảm ảnh hưởng của các nguồn sai số.
Bảng 1 : Thống kê nguồn lỗi khi đo GPS và biện pháp khắc phục
Nguồn lỗi
1. Phụ thuộc vệ tinh
- Ephemeris
- Đồng hồ vệ tinh

-

Chiều dài cạnh

Bố trí cạnh ngắn

CHƯƠNG 2 : ỨNG DỤNG TRONG ĐO VẼ TRẮC ĐỊA, ĐỊA HÌNH
2.1 Tình hình ứng dụng GPS trong thu thập dữ liệu không gian
2.1.1 Tình hình ứng dụng GPS trên thế giới
Xây dựng mạng lưới khống chế mặt bằng. Ngay từ những năm 1980, bằng công nghệ
GPS mạng lưới trắc địa đã được xây dựng ở Eifel (Đức), ở Pensylvania (Mỹ) và ở rất
nhiều nước khác trên thế giới.
Trong nghiên cứu địa động lực: đo các tham số chuyển dịch có tính toàn cầu và đo lưới
khống chế trắc địa liên lục địa, thiết lập các trạm quan trắc dịch chuyển lục địa, quan trắc
trạng thái vận động khối lục địa, thu nhận các thông số thông tin địa chấn.
Trong trắc địa ảnh: ứng dụng công nghệ GPS vào công tác đo nối khống chế ảnh, dẫn
đường bay trong công tác bay chụp ảnh, xác định toạ độ tâm ảnh trong quá trình bay chụp
đang được áp dụng có hiệu quả trong công tác tăng dày khống chế ảnh.
Trong trắc địa biển: đo các điểm khống chế trắc địa được đặt dưới đáy biển, đo nối toạ độ
tàu thuyền với các cơ sở trắc địa trên đất liền, đo vẽ địa hình đáy biển.
Trong công tác thành lập bản đồ: công nghệ GPS cũng được ứng dụng rộng rãi trong công
tác đo vẽ chi tiết như thành lập lưới khống chế cơ sở, lưới khống chế đo vẽ và đo vẽ chi
tiết địa hình.
Trong trắc địa công trình: tiến hành thiết kế, thi công, nghiệm thu và theo dõi các công
trình kiến trúc sử dụng công nghệ định vị toàn cầu. Các cuộc quan trắc thí nghiệm ở Châu
Âu, vùng Viễn Đông, Châu Úc, vùng Nam Mỹ, và toàn bộ khu vực Bắc Mỹ đã chứng tỏ
rằng kỹ thuật định vị GPS trong trắc địa công trình có khả năng ứng dụng rất lớn.
2.1.2 Tình hình ứng dụng GPS ở Việt Nam
Ở Việt Nam, phương pháp định vị vệ tinh đã được ứng dụng từ những năm đầu thập kỷ
90. Với 5 máy thu vệ tinh loại 4000ST, 4000SST ban đầu sau một thời gian ngắn đã lập

và ảnh hưởng của sai số định tâm đến độ chính xác của lưới do ta phải định tâm nhiều lần
trên một điểm. Số lượng của máy thu được khuyến cáo nên dùng là 3 -6 chiếc. Lúc đó
công việc tổ chức thi công cũng không phức tạp, tăng được tiến độ thi công và độ chính
xác so với việc sử dụng số lượng máy thu tối thiểu.
Ưu điểm chủ yếu và quan trọng nhất của công nghệ GPS là có thể xác định được các
vector cạnh giữa các điểm trắc địa với độ chính xác cao mà không đòi hỏi tầm thông
hướng giữa các điểm đó. Ngay từ những năm 1990, khi hiểu biết hết lợi thế của GPS,


người ta đã nói rằng, GPS đã đưa các phương pháp xây dựng lưới trắc địa truyền thống
thành “những con khủng long thời tiền sử” . Cho đến nay nhiều nước đã coi đo GPS là
phương pháp chủ yếu trong xây dựng các mạng lưới trắc địa.
Quy trình đo đạc lưới khống chế thường được tiến hành theo các bước sau :
Công tác lập lịch đo dựa trên kinh vĩ độ của khu vực đo và các tiêu chuẩn đo của
người lựa chọn, gồm :
+ Số vệ tinh tối thiểu trong thời gian quan sát
+ Thời gian tối thiểu thu tín hiệu cho một ca đo
+ Cường độ đồ hình vệ tinh PDOP ( hệ số suy giảm độ chính xác mặt bằng ).
Thông thường chọn số vệ tinh tối thiểu là 5 với số vệ tinh hiện nay điều kiện này
gần như lúc nào cũng có thể thỏa mãn.
- Thời gian đo theo lý lịch máy từ 45’ đến 1h theo chế độ Static phù hợp với cạnh đo
có chiều dài nhỏ hơn 10km. Song đây là điều kiện tiêu chuẩn khi các điểm đo
không bị che khuất, các tín hiệu nhiễu không ảnh hưởng đến tín hiệu đo. Trên thực
tế, rất khó chọn được các điểm thu tín hiệu như thế. Do đó trong thực tế ta cần
chọn thời gian thu tín hiệu tối thiểu như sau : 30-45’ cho các lưới tương đương
đường truyền cấp 1, cấp 2, từ 1h đến 1h30 cho những lưới có độ chính xác cao như
lưới tam giác hạng IV, và từ 2h30 cho những lưới thi công và quan trắc biến dạng.
- Cường độ đồ hình vệ tinh PDOP : giá trị của PDOP càng nhỏ thì độ chính xác định
vị càng cao nhưng khoảng thời gian thỏa mãn trong ngày càng nhỏ. Đây là thông
số ảnh hưởng đến cả chất lượng thu tín hiệu và tiến độ thi công. Thông thường

≤ 10
≤ 10

≤2
≤5
≤ 10
≤ 10
≤ 10

Sai số TP
tương đối cạnh
yếu nhất
1 : 120.000
1 : 80.000
1: 45.000
1 : 20.000
1 : 10.000


Trong quy trình trên còn quy định một số yêu cầu trong đo lưới GPS như sau :
Bảng 3 : Quy định đo GPS
Hạng II Hạng
III
Góc ngưỡng ( độ)
Đo tĩnh ≥ 15
≥ 15
nhanh
Số lượng vệ tinh hiệu Tĩnh
≥4
≥4

≥ 45
≥ 15
10 ÷ 60

≥4
≥5
≥ 1.6
≥ 1.6
≥ 45
≥ 15
10 ÷ 60

≥ 15

Cấp
2
≥ 15
≥4
≥5
≥ 1.6
≥ 1.6
≥ 45
≥ 15
10 ÷
60

2.2.2 Ứng dụng công nghệ GPS thành lập bản đồ địa chính
a.
Xây dựng cá mạng lưới địa chính
Công nghệ GPS được ứng dụng rộng rãi trong công tác đo đạc địa chính. Trước hết là xây

các yếu tố địa danh và thuộc tính của thửa đất trên nền ảnh
Trong đo đạc chi tiết, đặc biệt trong đo đạc bổ sung điểm đo, đo điều vẽ, tang dày, khống
chế ảnh… công nghệ đo GPS động đang được nghiên cứu hoàn thiện và áp dụng thành
công. Giải pháp công nghệ này cho phép rút ngắn thời gian đo, độ chính xác cao, phạm vi
sử dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng đo đạc. Các giải pháp đề xuất là :
-

-

Sử dụng công nghệ DGPS động cải chính phân sai trị đo code : Đây là công nghệ
khá mới đang được áp dụng trong sản xuất đo đạc bản đồ. Nguyên lý cơ bản của
GPS động sử dụng trị đo phase là xử lý chính xác các baseline giữa trạm cố định
cơ sở Base và trạm di động Rower.
Sử dụng công nghệ GPS động sử dụng tram tham chiếu ảo VRT: công nghệ này
cho phép áp dụng trên phạm vi rộng lớn, cung cấp một hệ thống dữ liệu thống nhất
phục vụ đa ngành, đa mục đích.

Ưu điểm của phương pháp là thời gian đo rất nhanh, độ chính xác xác định tọa độ và độ
cao vị trí điểm di động cao và cho kết quả thuần nhất trên phạm vi rộng lớn. Nếu thiết lập
hệ thống máy chủ và nối mạng internet thì hoàn toàn có thể cập nhập thông tin tức thời
cho hệ thống GIS phục vụ đa ngành, đa mục đích. Trong đó chúng ta hoàn toàn có thể tích
hợp với cá loại dữ liệu viễn thám, dữ liệu bản đồ để thành lập cá loại bản đồ chuyên đề tỷ
lệ lớn, trong đó kể cả bản đồ ĐCCS.


PHẦN KẾT LUẬN
Có thể nói công nghệ GPS hiện nay ở Việt Nam phát triển vô cùng mạnh mẽ, từ chỗ chỉ
có một vài đơn vị lơn của Nhà nước được trang bị công nghệ GPS ban đầu ở những năm
1990, cho đến nay hầu hết các đơn vị đo đạc khảo sát các ngành, các tỉnh ở Việt Nam đã
được trang bị, ứng dụng công nghệ GPS. Số lượng máy thu GPS cho mục đích đo đạc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status