Khảo sát khả năng hấp thụ kim loại Đồng trên tảo Spirulina platensis - Pdf 31

TÓM TẮT
Kim loại nặng là một trong những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm
trọng nhất hiện nay, việc loại bỏ các kim loại này ra khỏi môi trường nước bằng các
biện pháp thông thường như hóa học, vật lý, hóa lý không mang lại hiệu quả cao. Tuy
nhiên, có thể sử dụng tảo Spirulina platensis để loại bỏ kim loại nặng ra khỏi môi
trường nước một cách triệt để. Khảo sát trên môi trường nước có nồng độ tảo 0.2, 0.4,
0.6g/l và nồng độ kim loại nặng (Cu2+) 160, 320, 640mg/l trên hai loại sinh khối tảo
(sống và chết) trong thời gian 4 giờ để tìm ra nồng độ tối ưu để đạt được tỷ lệ loại bỏ
cao nhất, và ảnh hưởng của các yếu tố lên khả năng hấp thụ của tảo Spirulina platensis.
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG
3
DANH MỤC HÌNH
4
MỞ ĐẦU
Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững. Đó là việc vừa
phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, tình
trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang hoành hành ở khắp mọi nơi trên hành tinh xanh mà
nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm môi trường chính là do ý thức của con người. Trong
vài thập kỷ gần đây, mặc dù con người đã nhìn thấy được những tác động của ô nhiễm
môi trường và đã có những chiến lược và biện pháp cụ thể để bảo vệ môi trường, nhưng
do tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, kéo theo quá trình đô thị hóa với tốc độ chóng
mặt, đồng thời ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận lớn con người trên thế giới
còn thấp nên hiện tượng ô nhiễm môi trường vẫn chưa được kiểm soát và ngăn chặn, mà
còn có dấu hiệu ngày càng nghiêm trọng hơn.
Vấn đề đặt ra hiện nay cho toàn thế giới là vừa phải xử lý môi trường đã ô nhiễm
một cách nhanh chóng, rộng khắp và hiệu quả nhất; đồng thời phải kiểm soát quá trình
tái ô nhiễm môi trường. Quá trình ngăn chặn tái ô nhiễm môi trường phụ thuộc rất lớn
vào cơ cấu quản lý của các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế, đồng thời phải

thiếu đối với đời sống của con người cũng như các loài sinh vật. Do đó, ô nhiễm không
khí sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất. Hàng năm con người khai thác và sử dụng
hàng tỉ tấn than đá, khí đốt, dầu mỏ để sử dụng trong công nghiệp, vận tải, sinh hoạt…
kéo theo hàng triệu tấn khí thải được thải thẳng vào môi trường không qua xử lý. Hàm
lượng các loại khí độc trong không khí vượt qua mức cho phép hàng chục đến hàng
trăm lần ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. Một loạt hiện tượng như
thủng tầng ozon, hiệu ứng nhà kính, mưa axit… là những minh chứng rõ rệt cho môi
trường không khí bị ô nhiễm nặng nề.
6
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1.3. Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh
học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên
độc hại với con người và sinh vật. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Bảng 1. Nguyên nhân gây ô nhiễm trên các loại môi trường khác nhau và hậu quả của

Loại môi trường ô nhiễm Nguyên nhân Hậu quả
Môi trường nước
Do nhiễm bẩn từ nước thải khu
công nghiệp, khu đô thị…
Bệnh truyền nhiễm
Do kim loại nặng
(As), (Cd) Gây ung thư
huyết áp cao, đau thận phá
huỷ các mô và tế bào máu;
Pb rất độc ảnh hưởng tới
thận và thần kinh, Hg gây
vô sinh
Các chất thải độc hại như thuốc

lưu huỳnh [40]
Hình 1. Không khí ô nhiễm từ sản xuất vũ khí chiến tranh thế giới II ở Alabama (Hoa
Kỳ)[40]
Trong đề tài báo cáo này, chỉ chú trọng vào ô nhiễm môi trường nước bởi vì biện
pháp sử dụng tảo Spirulina để hấp thụ kim loại Đồng (Cu
2+
) chỉ áp dụng được khi xử lý
trong môi trường nước.
1.2. Tình hình ô nhiễm môi trường nước
1.2.1. Trên thế giới
Ô nhiễm nước là một vấn đề lớn trong bối cảnh toàn cầu. Người ta cho rằng đây là
nguyên nhân chính của tử vong và bệnh tật trên toàn cầu và nó là gây ra cái chết của hơn
14.000 người mỗi ngày.
Theo ước tính hiện nay, có khoảng 700 triệu người Ấn Độ không được sử dụng
nhà vệ sinh đủ tiêu chuẩn, và hơn 1000 trẻ em ở Ấn Độ chết vì bệnh tiêu chảy mỗi ngày.
Khoảng 90% các thành phố ở Trung Quốc bị ô nhiễm nước theo nhiều mức độ khác
nhau, và gần 500 triệu người thiếu nước sạch để uống. Ngoài các vấn đề ô nhiễm ở các
nước đang phát triển, các nước công nghiệp cũng phải liên tục đấu tranh chống lại vấn
8
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
đề ô nhiễm. Trong báo cáo quốc gia gần đây nhất về chất lượng nước tại Hoa Kỳ, 45%
diện tích sông suối, 47% diện tích các hồ và 32% các vịnh, cửa sông được xếp vào loại
ô nhiễm [40].
Ở Anh Quốc: Đầu thế kỷ 19, nước sông Thames rất sạch. Nó trở thành ống cống
lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người
ta đưa ra các biện pháp xử lý và bảo vệ nghiêm ngặt. Nước Pháp: kỹ nghệ phân tán và
nhiều sông lớn nhưng vấn đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước
sông Seine đến cuối thế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều
nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5000 km sông của Pháp bị ô nhiễm
mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người,

/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên,
nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim
màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên
chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và
hàm lượng NH
4
là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó
chịu…. Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc
Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m
3
/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm
nguồn nước và môi trường trong khu vực. Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ
nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải
sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông,
hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần
lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải
rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô
nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là
rất nghiêm trọng và đáng báo động [41].
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 -
400.000 m
3
/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm
25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác
thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m
3
/ngày đang xả vào các khu đất ven
các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH
4
, NO

số vùng ven biển Việt Nam [42].
1.2.3. Các biện pháp khắc phục, xử lý
Trong thành phần nước ô nhiễm có chứa nhiều loại tạp chất nhiễm bẩn có tính chất
khác nhau: từ các loại chất không tan, đến các chất ít tan và những hợp chất tan trong
nước. Xử lý nước ô nhiễm là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch nước và có thể đưa nước
đổ vào nguồn hoặc đưa vào tái sử dụng. Để đạt được những mục đích đó chúng ta
thường dựa vào đặc điểm của từng loại tạp chất để lựa chọn phương pháp xử lý thích
hợp.
Thông thường có các phương pháp xử lý sau [43] :
 Xử lý bằng phương pháp hóa học.
 Xử lý bằng phương pháp hóa lý.
 Xử lý bằng phương pháp sinh học.
11
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
Bảng 1. Các phương pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước
Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm Cách thực hiện Kết quả
Hóa học Dùng để xử lí
các chất hòa tan
trong hệ thống
cấp nước khép
kín
Chi phí cao, là
phương pháp
hỗ trợ cho
phương pháp
sinh học
Sử dụng các tác
nhân hóa học
để xử lí bằng
các phản ứng

ngược, siêu lọc,
thẩm tách, điện
thẩm tách…
Loại ra khỏi
nước thải các
hạt phân tán lơ
lửng (rắn và
lỏng), các khí
tan, chất vô cơ
và hữu cơ hòa
tan, độ màu, độ
đục, COD,
BOD của nước
thải.
Sinh học Chi phí thấp, dễ
thực hiện, thân
thiện với môi
trường.
Sử dụng ao
sinh học hiếu
khí, cánh đồng
tưới, lọc sinh
học, Aerotank,
mương oxy
hóa, UASB, kỵ
khí tiếp xúc…
Làm sạch nước
có chứa các
chất hữu cơ hòa
tan hoặc các

hưởng xấu đến môi trường sinh thái và sức khoẻ con người. Việc nhận biết nước bị ô
nhiễm có thể căn cứ vào trạng thái hoá học, vật lý, hoá lý, sinh học của nước.
Hình 1. Các tác hại của kim loại nặng
Số lượng ngày càng tăng của kim loại nặng trong môi trường là nguyên nhân gây
nhiễm độc đối với đất, không khí và nước. Việc loại trừ các thành phần chứa kim loại
nặng độc ra khỏi các nguồn nước, đặc biệt là nước thải công nghiệp là mục tiêu môi
trường quan trọng bậc nhất phải giải quyết hiện nay.
1.3.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm kim loại nặng trong nước
Sự tập trung công nghiệp và đô thị hoá cao độ gây tác động lớn đối với môi
trường, trong đó có môi trường nước. Các dòng xả nước thải gây ô nhiễm môi trường
nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất. Các nguồn nước thải chính ở các đô thị và khu
công nghiệp hiện nay là:
Nước thải từ các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, đều chưa qua xử lý hoặc chỉ
xử lý sơ bộ. Các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp rất đa dạng, có cả chất hữu
cơ, dầu mỡ, kim loại nặng,... Nồng độ COD, BOD, DO, tổng coliform đều không đảm
bảo tiêu chuẩn cho phép đối với nước thải xả ra nguồn. Nước mưa chảy tràn, đặc biệt là
nước mưa đợt đầu.
Tình trạng ô nhiễm nước rõ ràng nhất là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Huế, Nam Định, Hải Dương và các thành phố, thị xã lớn. Tại Hà Nội,
hầu như các chất thải sinh hoạt và công nghiệp đều không được xử lý.
Trong số 82 khu công nghiệp mới, chỉ khoảng 20 khu công nghiệp có trạm xử lý
nước thải tập trung. Đó là các trạm xử lý nước thải tại Khu Công nghiệp Bắc Thăng
Long, Khu Công nghiệp Nội Bài ở Hà Nội; Khu Công nghiệp Nomura ở Hải Phòng,
Khu Công nghiệp Việt Nam - Xingapo ở Bình Dương,... Số khu công nghiệp còn lại vẫn
chưa có trạm xử lý nước thải tập trung. Trong số các doanh nghiệp đã khảo sát, năm
14
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
2002, có tới 90% số doanh nghiệp không đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng dòng xả
nước thải xả ra môi trường. 73% số doanh nghiệp xả nước thải không đạt tiêu chuẩn, do
không có các công trình và thiết bị xử lý nước thải. Có 60% số công trình xử lý nước

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
Hấp thụ sinh học, trong đó sử dụng các loại sinh khối khác nhau hay các hợp chất
có nguồn gốc tự nhiên đóng vai trò là chất hấp thụ, được xem là một phương pháp thay
thế hấp dẫn cho các phương pháp hóa lý truyền thống nhằm loại bỏ kim loại nặng từ
môi trường đất và môi trường nước [9,10,11,12,13,14]. Loại bỏ kim loại bằng chất hấp
thụ sinh học có thể xem là một phương pháp tương đối mới, nó có thể được áp dụng để
xử lý trong các khu vực nước cạn (1-5m) và có nồng độ kim loại thấp (1-20mg/l) [15].
Một số nguyên liệu sinh học đã cho thấy khả năng loại bỏ kim loại nặng rất hiệu quả,
nhưng chi phí lại thấp so với công suất đạt được và có thể được áp dụng trên một quy
mô rộng lớn và toàn diện [16,17].
Nhiều loại sinh khối chết cho hiệu suất hấp thu kim loại rất cao, trong đó có vi
khuẩn [18], tảo [19], nấm men [20] và nấm mốc [21]. Trong số này, sinh khối tảo được
sử dụng như một nguyên liệu hấp thụ vì nhiều lý do: tảo có sẵn với số lượng lớn, đặc
biệt là tảo biển, tảo được trồng trên toàn thế giới, và giá thành tương đối rẻ.
Các nghiên cứu gần đây về hấp thụ sinh học kim loại trên tảo biển cho thấy một
tiềm năng hấp thụ thú vị của một số loại tảo như Ascophyllum nodosum, Sargassum
bacularia [22,23,24], Ecklonia radiata [25], Scenedesmus abundans [26], Sargassum
fluitans [27]. Thành tế bào của các chất hấp thụ sinh học bao gồm chất béo,
polysaccharide và protein. Các polyme sinh học được cấu tạo từ những nhóm chức khác
nhau như –COOH, -OH, -CO
3
, -PO
4
, phenol, imidazol… có thể tạo thành các phức chất
kết hợp với các ion kim loại [11,12,13,14,28] , khả năng kết hợp phụ thuộc vào số lượng
các phối tử, sự phân bố các nhóm chức trên thành tế bào và ái lực của chúng đối với các
ion kim loại. Đặc điểm của thành tế bào các loài vi tảo là xốp và cho phép các phân tử
và ion kim loại tự do có thể bám vào. Các thành phần của tế bào còn cung cấp các nhóm
chức có khả năng liên kết trực tiếp với ion kim loại nặng. Những tế bào này có thể được
sử dụng ở trạng thái sống hoặc chết [11]. Tuy nhiên, trong ứng dụng thực tế, việc sử

bào, xoắn kiểu lò xo và không đều nhau, ở hai đầu xoắn thường hẹp. Những sợi tảo di
chuyển bằng cách trượt dài dọc theo trục.
Tùy thuộc vào từng sợi tảo, hoặc từng giai đoạn phát triển mà có kích thước khác
nhau. Đối với Spirulina platensis thì kích thước sợi tảo là 60µm/1 vòng xoắn, chiều
rộng của sợi là 6 – 8µm. Trong điều kiện nuôi cấy tối ưu tảo có thể dài đến 20mm.
17
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN

Hình 1. Hình thái tảo Spirulina platensis quan sát dưới kính hiển vi
1.4.3. Cấu tạo
Bằng lát cắt cực mỏng khi quan sát dưới kính hiển vi, thành tế bào của Spirulina
có 4 lớp:
 Lớp ngoài cùng: gọi là lớp thứ IV được sắp xếp đều nhau, song song với trục
chính. Lớp này được xem như là thành tế bào của vi khuẩn gram âm.
 Lớp thứ III: được tạo thành từ những sợi protein bao quanh cơ thể.
 Lớp thứ II: chứa peptidoglycan, được xếp gấp lại hướng vào trong của sợi tảo.
 Lớp thứ I: nằm sát vào lớp thứ II.
Vách tế bào được ví như cái đĩa mỏng, bao lấy phân bên trong cơ thể và được cấu
tạo chủ yếu bằng peptidoglycan nên nhạy cảm với lysozyme và dễ dàng tiêu hóa trong
ống tiêu hóa của người và động vật. Nhưng khi phân tích các hoạt chất muốn chiết xuất
thì nhất thiết phải phá vỡ màng tế bào.
Tế bào có dạng hình trụ, liên kết lại thành chuỗi. Giữa các tế bào có vách ngăn,
những vách ở đầu sợi thường dày hơn. Vì vậy, đây là cơ thể đa bào, mỗi sợi có khoảng
100 tế bào.
Các tế bào riêng rẽ thường có kích thước khoảng 5µm, rộng khoảng 2µm. Tế bào
chưa có nhân điển hình, vùng nhân không rõ ràng.
Trong tế bào chất có chứa các túi không bào khí, có đường kính khoảng 0.065µm,
dài khoảng 1µm. Nhờ các túi khí này mà tế bào nổi được trên mặt nước, tạo điều kiện
thuận lợi cho thu vớt sinh khối.
1.4.4. Đặc điểm sinh sản

vulgaris [35], Scenedesmus abundans [26], Chlamydomonas reinhardtii [34]… kết hợp
với nhiều kim loại nặng khác nhau như Cd, Zn, Cu
2+
, Ni, Pb. Và khả năng hấp thụ của
các loại tảo này đều không ít hơn 60%, đây thực sự là những kết quả triển vọng để có
thể áp dụng phương pháp này rộng khắp trên toàn thế giới.
Tóm lại, kim loại nặng là một mối nguy lớn có trong nước. Tác hại của kim loại
nặng không chỉ làm mất đi một số tính chất hóa lý đặc biệt, gây nhiễm độc đối với nước
mà còn có thể gây nhiều bệnh tật lên con người và sinh vật tiếp xúc với nguồn nước đó.
19
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới và ngay tại Việt nam, người dân vẫn chưa có nước
sạch để sinh hoạt hàng ngày, trong khi đó một lượng nước lớn vẫn bị nhiễm độc và lãng
phí. Do đó, việc loại bỏ kim loại nặng ra khỏi nước là một vấn đề hết sức cấp thiết và
đầy ý nghĩa hiện nay.
Hầu hết các kim loại nặng như Pb, Hg, Cd, As, Cu
2+
, Zn, Fe, Cr, Co, Mn, Se, Mo...
tồn tại trong nước ở dạng ion với kích thước rất nhỏ, với số lượng rất lớn. Chúng phát
sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là từ các hoạt động công nghiệp. Khác
với các chất thải hữu cơ có thể tự phân hủy trong đa số trường hợp, các kim loại nặng
khi đã phóng thích vào môi trường thì sẽ tồn tại lâu dài và không phân hủy. Chúng tích
tụ vào các mô sống qua chuỗi thức ăn mà ở đó con người là mắt xích cuối cùng. Nước
sau khi được xử lý bằng các phương pháp hóa lý hay hóa học vẫn còn lại một lượng kim
loại nhất định và có thể tích tụ theo thời gian. Do vậy không thể sử dụng các phương
pháp này để loại bỏ kim loại nặng.
Mặc dù phương pháp sinh học sử dụng thực vật thủy sinh hay vật liệu sinh học vẫn
có khả năng hấp thụ kim loại nặng thành công, nhưng hiệu quả khi sử dụng vi tảo là
vượt trội so với những nguyên liệu khác. Một số ưu thế đặc biệt khi sử dụng vi tảo so
với tất cả các phương pháp khác:

tốt nhất, đồng thời khả năng sinh sản của loại vi tảo này chính là những ưu điểm khiến
Spirulina platensis được chọn để thực hiện đề tài này.
Nhiệm vụ của báo cáo đề tài luận văn bao gồm:
 Trình bày rõ phương pháp xử lý (hấp thụ) kim loại nặng trong nước bằng
cách sử dụng vi tảo (Spirulina platensis).
 Khảo sát khả năng hấp thụ kim loại nặng (Cu
2+
) tại nhiều nồng độ khác
nhau, ứng với các nồng độ tảo khác nhau. So sánh khả năng hấp thụ của tảo
sống và tảo chết (đã sấy khô).
 Tìm ra nồng độ tối ưu của mỗi loại sinh khối mà tại đó hiệu suất hấp thụ
đạt mức tối đa.
21
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.1. Nguyên liệu
2.1.1. Chủng giống nghiên cứu
Giống vi sinh vật sử dụng trong đề tài nghiên cứu này là tảo Spirulina platensis,
được cung cấp bởi Bộ môn Công nghệ sinh học – Khoa Kỹ thuật Hóa học – Trường Đại
học Bách Khoa.
2.1.2. Môi trường sử dụng
Tảo Spirulina platensis được nuôi trong hai loại môi trường khác nhau:
• Môi trường 1: môi trường Zarrouk [2]
• Môi trường 2: môi trường SSM (Synthentic Spirulina Medium).
Lý do sử dụng 2 môi trường nuôi tảo Spirulina platensis khác nhau: nhằm tìm
được môi trường phát triển tối ưu của tảo Spirulina platensis và phù hợp với các bước
trong tiến trình thí nghiệm, từ đó có thể thu nhận sinh khối với số lượng lớn trong thời
gian ngắn nhất, đồng thời có thể thực hiện các bước thí nghiệm theo cách dễ dàng và
hiệu quả nhất.
2.2. Tiến trình thí nghiệm

được nhân giống sang bình nhựa 5 lít. Thời gian nhân giống có thể kéo dài từ 1 tuần đến
2 tuần. Tảo Spirulina platensis chỉ phát triển trên bề mặt môi trường, nơi có nhiều ánh
sáng để chúng phát triển. Quan sát bề mặt môi trường trong bình, khi thấy khối sinh
khối tảo Spirulina platensis (vì cấu tạo dạng xoắn và di chuyển được) có màu xanh lục
đậm và phủ kín bề mặt trên cùng thí tiến hành nhân giống sang bình khác.
2.3.2. Thu sinh khối khô
Tảo chết được thu từ cả hai môi trường nuôi cấy trên, và thu theo 2 phương pháp:
 Lọc bằng máy hút và giấy lọc. Sau đó cạo tảo ra đĩa petri. Sấy tảo qua đêm ở 50
o
C
và thu được tảo chết.
 Lọc bằng vợt lưới (vì tảo có dạng sợi) cho vào đĩa petri và sấy như trên.
Qua quá trình ly tâm và cảm nhận bằng tay, nhận thấy độ nhớt của môi trường 2
cao hơn nhiều so với môi trường 1: môi trường 2 tiến hành ly tâm 15ml trong vòng 40
phút, tốc độ 6000 vòng/phút nhưng không có kết quả, trong khi đó môi trường 1 đã thu
được dung dịch sạch tảo khi ly tâm 6000 vòng, trong 5 phút. Do đó chỉ tiến hành thu
nhận tảo nuôi bằng môi trường 1 bằng phương pháp ly tâm. Đối với tảo nuôi bằng môi
trường 2, đã thử thu nhận bằng phương pháp lọc sử dụng giấy lọc hoặc vợt lưới nhưng
thời gian thực hiện lâu và hiệu suất thu nhận không cao (dịch sau lọc vẫn còn lẫn nhiều
tảo).
Ngoài ra, đồng thời tiếp tục nuôi cấy tăng sinh khối tảo nhằm có đủ lượng tảo sống
đang trong thời kỳ tăng trưởng mạnh để tiến hành thí nghiệm.
2.3.3. Phương pháp khảo sát khả năng hấp thụ kim loại Cu
2+
:
23
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
Để đảm bảo số lượng tế bào tảo sống và tảo chết trong mỗi thí nghiệm tương tự
nhau, đầu tiên cân chính xác khối lượng của tảo khô (tảo chết) ứng với các nồng độ xác
định 0.2, 0.4, 0.6 g/l. Sau đó, đặt dung dịch lên bếp khuấy từ, tiến hành khuấy từ 3 đến 6

Bromocresol lục và 4 giọt chỉ thị P.A.N, rồi chuẩn độ bằng EDTA 0,01M. Dịch mẫu ban
đầu có màu tím, khi chuẩn độ xong có màu vàng chanh. Ghi nhận các thể tích EDTA.
2.3.3.3. Tính kết quả
• Nồng độ CuSO
4
còn lại được tính như sau:
24
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
1000160
)(10
)(01.0
4
××
×
=
×
=
ml
mlV
V
VC
C
EDTA
CuSO
EDTAEDTA
cl
Cu
(2.1)
• Hiệu suất hấp thụ đồng:
%100×


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status