NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH LIÊN KẾT ĐẦU TƯ HAHANAM - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH
LIÊN KẾT ĐẦU TƯ HAHANAM

HÀ NỘI – 2011


2
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nền kinh tế quốc dân nói
chung, từng ngành, từng địa phương nói riêng và đặc biệt là các doanh nghiệp đã,
đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với thách thức từ sự cạnh tranh khốc liệt trên thị
trường. Do đó, việc không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là yếu tố sống còn quyết định
sự phát triển hay suy yếu không chỉ của riêng từng doanh nghiệp mà còn của cả
nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp
phải phát huy hết các ưu thế, tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh
tranh. Doanh nghiệp phải tự giới thiệu, quảng cáo làm cho người tiêu dùng biết
đến sản phẩm của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là qui luật tất yếu tồn tại ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế,
trong đó có ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Những năm gần
đây chứng kiến sự gia tăng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng của các
doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Các doanh nghiệp này ra đời để đáp
ứng nhu cầu thức ăn ngày càng cao của ngành chăn nuôi. Mỗi năm, ngành
chăn nuôi cần khoảng 17-18 triệu tấn thức ăn, nhưng sản lượng thức ăn chăn
nuôi công nghiệp mới đạt 50%, còn lại người chăn nuôi phải sử dụng thức ăn


- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh;
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ của Công ty;
- Phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty;
- Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty;
1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Cạnh tranh là gì?
Năng lực cạnh tranh là gì?
Tình hình sản xuất và chế biến thức ăn chăn nuôi trên thế giới và ở Việt
Nam?
Tình hình sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ của Công ty như thế nào?
Năng lực cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã sản phẩm của Công ty
hiện nay?
Năng lực cạnh tranh về giá cả sản phẩm của Công ty hiện nay?
Năng lực cạnh tranh về các chiến lược xúc tiến tiêu thụ của Công ty
hiện nay?
Công ty đã thực hiện những biện pháp, chiến lược nào để nâng cao
năng lực cạnh tranh?

-3-

3


4

Những giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp?

Mỗi học giả thì lại có những quan niệm về cạnh tranh khác nhau. Sau
đây là một số quan niệm về cạnh tranh của các học giả:
Theo Các Mác (1978): “cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự
đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận

-4-

4


5

lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch” [9]. Theo
quan niệm này, thì cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu. Cạnh tranh
được xem là sự lấn áp, chèn ép lẫn nhau để tồn tại.
Theo P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus: “cạnh tranh là sự kình địch
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng”. Hai tác giả
này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo [9].
PGS. Lê Hồng Tiệm: “cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể sản
xuất kinh doanh nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất
ra sản phẩm, trong tiêu thụ hàng hóa, trong hoạt động dịch vụ để đảm bảo
thực hiện lợi ích tốt nhất của mình” [16].
Tóm lại: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế
ganh đua, đấu tranh gay gắt quyết liệt, thôn tính lẫn nhau, các chủ thể kinh tế
tìm mọi biện pháp, thủ thuật kể cả thủ đoạn để tranh giành khách hàng, chiếm
lĩnh thị trường thông qua đó để tiêu thụ được nhiều hàng hóa, thu được lợi
nhuận cao, giảm chi phí và nâng cao được vị thế của mình trên thị trường.




 Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu.
 Cạnh tranh cho phép sử dụng tài nguyên tối ưu.
 Cạnh tranh khuyến khích áp dụng khoa học – kỹ thuật.
 Cạnh tranh thỏa mãn ngày càng tốt hơn thỏa mãn nhu cầu của người
tiêu dùng.
 Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao
động và hiệu quả kinh tế.
2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh
• Khái niệm
Khái niệm về năng lực cạnh tranh được nêu ra lần đầu tiên ở Mỹ vào
đầu năm 1980 của Aldington Report “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội
và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế. Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của
doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ
doanh nghiệp” [9].
Theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng
lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp
khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như
vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.
Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng
lực cạnh tranh. Tuy nhiên, quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các
mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp [7].
Các nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam thì cho rằng: năng lực cạnh
tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, TS.
Vũ Trọng Lâm (2006): “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở khả
năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng và đạt được các mục
-6-


năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức
tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các
đặc trưng kinh tế khác”.

-7-

7


8

Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng
một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các
nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững.
Năng lực cạnh tranh của một hàng hóa là khả năng duy trì và cải thiện
vị trí của một hàng hóa của doanh nghiệp này so với hàng hóa khác cùng loại
của một doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài nhằm tạo sự hấp
dẫn và thu hút khách hàng.
Năng lực cạnh tranh hàng hóa được phản ánh qua các tiêu chí: giá cả,
chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng cũng như sự độc đáo, quen dùng, phù hợp với
thị yếu tiêu dùng của khách hàng.
Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng,
tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn các sản phẩm
cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại được định đoạt bởi
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh
của sản phẩm cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh sản phẩm đó thấp.
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là hai phạm trù khác nhau nhưng có

quy luật này. Trên thực tế, lao động không đồng nhất và còn nhiều yếu tố
khác như đất, vốn, khoa học công nghệ…quyết định hàng hoá, dịch vụ.
Quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh: khi xem xét lợi thế so sánh các nhà
kinh tế học hiện đại đề cập tới lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so sánh động.
Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế đang có. Những lợi thế có được mà
không cần phải đầu tư lớn về vốn và tri thức. Nếu sử dụng thuật ngữ của
M.Porter thì đây là những lợi thế “trời cho”, hay lợi thế “cấp thấp”. Những lợi
thế này thường không vững chắc mà chỉ mang tính ngắn hạn và trung hạn;
nếu các điều kiện sản xuất hiện có không được cải tạo liên tục và phát triển ở
mức độ cao hơn thì có thể lợi thế cạnh tranh của hàng hóa giảm xuống [10].
Lợi thế so sánh động là lợi thế “cấp cao”, lợi thế phải có đầu tư lớn về
vốn và tri thức mới có (như đầu tư vào trình độ kỹ thuật và tri thức khoa học,
cơ sở hạ tầng hiện đại….). Muốn có lợi thế này, ngoài việc tận dụng triệt để
các nguồn lực tự nhiên và sử dụng chúng có hiệu quả, Quốc gia/doanh nghiệp
còn phải đầu tư không ngừng cho quá trình tiếp cận cái mới, cải thiện môi
trường kinh tế, môi trường đầu tư mới tạo ra lợi thế tiềm năng làm cơ sở cho
-9-

9


10

sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Có như thế dưới một số điều kiện
nhất định lợi thế so sánh động mới biến được thành lợi thế so sánh trong
tương lai [10].
•Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là tập hợp những lợi thế so sánh tạo nên sức cạnh
tranh của chủ thể.
Lợi thế cạnh tranh trước hết là sự biểu hiện tính trội của mặt hàng nào

nâng cao năng lực cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệp
hoạt động trong cơ chế thị trường. Cơ sở của nâng cao năng lực cạnh tranh
bởi cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường
kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm
cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp
với thị yếu nhu cầu của người tiêu dùng. Doanh nghiệp càng đáp ứng nhu cầu
khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại.
- Cạnh tranh để phát triển: Cạnh tranh là để kích thích kinh doanh, động
lực cho sản xuất, hàng hóa ngày càng nhiều và số lượng nhà cung cấp ngày
càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Kết quả của cạnh tranh là loại
bỏ những Công ty làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp thúc đẩy
những công ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao. Do vậy muốn tồn tại và
phát triển thì doanh nghiệp phải cạnh tranh nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình để đáp ứng nhu cầu thị hiếu về hàng hóa có chất lượng cao giá cả phù
hợp.
- Cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu: bất kỳ một doanh nghiệp nào
dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có những mục tiêu
nhất định. Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà
doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau. Trong giai đoạn đầu
khi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là khai
thác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giai
đoạn này doanh nghiệp thu hút càng nhiều khách hàng càng tốt. còn ở giai
đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh
thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được coi là không
cần thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tin
của khách hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất. Đến giai đoạn bão hòa thì
mục tiêu là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện
- 11 -


“Thị trường hiện tại (hiện có) là tập hợp những khách hàng có quan
tâm, có thu nhập và có khả năng tiếp cận một sản phẩm nhất định của thị
trường” [3]. Ta có thể hiểu đó là tập hợp những khách hàng hiện có của doanh
nghiệp. Để giữ vững và phát triển thị trường hiện tại thì doanh nghiệp cần nghiên
cứu nhu cầu của khách hàng, cơ hội trên thị trường hiện tại của doanh nghiệp
thường xuất hiện khi có những nhu cầu của khách hàng còn chưa được đáp ứng
hoặc đáp ứng chưa tốt, hoặc doanh nghiệp có khả năng tăng thị phần nhờ lợi thế
chung nào đó hoặc sự suy yếu của đối thủ cạnh tranh.
* Chiến lược tiếp cận và xâm nhập thị trường mới
Việc nghiên cứu chiến lược tiếp cận và xâm nhập thị trường mới nhằm
mục tiêu tăng trưởng thường xuyên và củng cố vị thế của doanh nghiệp trên
thị trường. Doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường mới để xác định thị
trường trọng điểm từ đó có cách ứng xử phù hợp với thị trường.
* Chiến lược phát triển thị trường mục tiêu
Việc lựa chọn thị trường mục tiêu và chiến lược phát triển thị trường
mục tiêu là rất quan trọng của doanh nghiệp
* Các chiến lược Marketing hỗn hợp
Các chiến lược Marketing hỗn hợp hay được gọi là 4P: Product (sản
phẩm), Price (giá cả), Promotion (quảng cáo giới thiệu), Place (địa điểm).

- 13 -

13


14

Product khi thực hiện các chiến lược này thì tùy thuộc vào đặc điểm thị
trường và sản phẩm mà ta áp dụng các chiến lược: Thứ nhất, chiến lược mở
rộng thị trường là việc giới thiệu sản phẩm với các thị trường mà không thay


15

Hội chợ triển lãm và phòng trưng bày với mục địch giới thiệu sản phẩm
và quan sát đối thủ cạnh tranh, khách hàng, xu thế của thị trường nhằm đưa ra
những sản phẩm phù hợp.
Place là những quyết định gắn liền với việc lựa chọn, phát triển và kiểm
soát các thành viên trong kênh để đáp ứng các điều kiện và mục tiêu thị
trường [11].
2.1.3.2 Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô lớn sẽ tạo thế cạnh tranh với các đổi thủ khác và ngược lại.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng
huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong
doanh nghiệp. Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản
xuất cơ bản và là một đầu vào của doanh nghiệp. Do đó, sử dụng vốn có hiệu
quả, quay vòng vốn nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí
vốn, giảm giá thành sản phẩm. Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu
tố sản xuất khác.
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê
nhân công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy,
năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu
đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh
doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát
triển nguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức. Đồng
thời, điều quan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn
vốn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, với
ngân hàng và những người cho vay vốn.


thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối
với sản phẩm của doanh nghiệp. Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất
của doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh
nghiệp.
2.1.3.7 Chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ lao động

Hệ thống cán bộ quản lí năng động, có kinh nghiệm, khả năng đánh giá
thì họ sẽ đem lại lợi ích lâu dài cho Công ty. Năng lực tổ chức, quản lý doanh
nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng. Đội ngũ cán
bộ quản lí không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn am hiểu về nhiều
- 16 -

16


17

lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật
trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng…đến kiến thức về xã hội, nhân
văn. Ngoài ra họ phải có trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở
việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng,
nhiệm vụ của các bộ phận, hoạch định chiến lược. Việc hình thành tổ chức bộ
máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu quả cao có ý
nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra quyết định
nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của
doanh nghiệp. Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng
trực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ. Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ

 Cạnh tranh bằng chiến lược sản phẩm
“Sản phẩm là bất cứ cái gì – những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm tổ chức và
ý tưởng – có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng tiêu dùng nhằm
thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn” [3]. Chiến lược sản phẩm là vũ khí sắc bén nhất
trong cạnh tranh trên thị trường đồng thời là phương pháp có hiệu quả tạo ra nhu cầu mới,
để nghiên cứu thực hiện chiến lược sản phẩm một cách tốt nhất, sản phẩm có vị thế trên thị
trường cần quan tâm đến các yếu tố cấu thành nên sản phẩm:
Các doanh nghiệp cần xác định cho mình một danh mục sản phẩm phù hợp. Danh
mục sản phẩm dựa trên bốn yếu tố: chiều rộng (có bao nhiêu loại sản phẩm), chiều dài
(tổng số mặt hàng có trong tất cả các loại sản phẩm), chiều sâu (số lượng những mặt hàng
có trong từng nhãn hiệu của từng loại sản phẩm của danh mục sản phẩm) và tính thống
nhất (mức độ quan hệ giữa các sản phẩm xét theo cách sử dụng cuối cùng, công nghệ sản
xuất, hệ thống phân phối, giá cả…) [3].
“Nhãn hiệu là một sự hứa hẹn của người bán bảo đảm cung cấp cho người mua
một tập hợp nhất định những tính chất, lợi ích và dịch vụ. Những nhãn hiệu danh tiếng
bao hàm một sự đảm bảo về chất lượng, sự trung thành của khách hàng [2].
Chiến lược nhãn hiệu của doanh nghiệp được thực hiện theo bốn hướng: mở rộng
loại sản phẩm, mở rộng nhãn hiệu, sử dụng nhiều nhãn hiệu trong cùng một loại sản phẩm
và nhãn hiệu mới cho loại sản phẩm mới. Do thay đổi trong nhu cầu thị yếu của người tiêu
dùng và hành vi ứng xử của các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp cần tái định vị nhãn
hiệu bằng cách khai thác sự thừa nhận đối với nhãn hiệu hiện có hay thay đổi cả sản phẩm
lẫn hình ảnh của nó, hoặc chỉ thay đổi hình ảnh của sản phẩm.
Bao bì là một yếu tố của chiến lược sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết kế để nó
không chỉ làm nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ sản phẩm, mà còn giới thiệu một kiểu phân phối
mới, gợi ra những phẩm chất của sản phẩm, giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết sản
phẩm và nhãn hiệu, tạo ra cho họ sự tin tưởng và an tâm khi lựa chọn sản phẩm và nhãn
hiệu của doanh nghiệp.
Với những thay đổi nhanh chóng của thị hiếu người tiêu dùng, khoa học công nghệ
và cạnh tranh thị trường. Các doanh nghiệp cần có chương trình phát triển sản phẩm mới.
Doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm mới bằng hai cách: thông qua việc mua lại

hay sử dụng hàng háo dịch vụ đó. Còn đối với người mua thì giá cả luôn là chỉ
số đầu tiên đánh giá phần được với chi phí mà họ bỏ ra để có được quyền sở hữu
hay sử dụng hàng hóa đó. Nói một cách khác là lợi ích của hàng hóa và dịch vụ
phải tương ứng với khoản tiền mà họ bỏ ra để mua chúng.
Khi triển khai một sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm mới hay đưa một
sản phẩm hiện có vào kênh phân phối mới, một thị trường mới thì doanh
nghiệp cần tiến hành định vị sản phẩm. Các doanh nghiệp thường tiến hành

- 19 -

19


20

định vị theo mối qua hệ giữa giá cả và chất lượng, với chín chiến lược có thể
là: chất lượng cao – giá cao, chất lượng cao – giá trung bình, chất lượng cao –
giá thấp, chất lượng trung bình – giá cao, chất lượng trung bình – giá trung
bình, chất lượng trung bình – giá thấp, chất lượng thấp – giá cao, chất lượng
thấp – giá trung bình, chất lượng thấp – giá thấp [3].
Đối với mỗi sản phẩm doanh nghiệp cần xác định mức giá bán ban đầu
và sau đó sẽ tiến hành điều chỉnh giá trong quá trình sản xuất kinh doanh, tức
là xây dựng được một cơ cấu giá phản ánh được những thay đổi về nhu cầu và
chi phí theo địa lý, những yêu cầu khác nhau của các phân đoạn thị trường,
thời vụ mua sắm, quy mô đặt hàng và các yếu tố khác. Trong quá trình triển
khai các cơ cấu và chiến lược về giá, các doanh nghiệp sẽ phải thay đổi giá
bán của họ.
Doanh nghiệp chủ động giảm giá khi: muốn tận dụng sản xuất năng lực
dư thừa, bảo vệ thị phần đang giảm dần, hay chi phối thị trường thông qua giá
thành thấp hơn do khối lượng sản xuất thấp hơn và tích lũy được nhiều kinh

Trong quá trình phân phối, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra,
giám sát hoạt động của kênh, phân tích lợi ích trong chuỗi giá trị để từ đó đưa
ra các quyết định tốt nhất để kênh hoạt động có hiệu quả tăng lợi ích cho các
tác nhân trong kênh.
 Cạnh tranh bằng công cụ quảng cáo, khuyến mãi
Quảng cáo là một trong năm công cụ chủ yếu để hướng thông tin thuyết
phục vào người mua và công chúng mục tiêu. Quảng cáo được thực hiện bởi
bộ phận marketing của doanh nghiệp hay thuê các hãng quảng cáo. Việc xây
dựng các chương trình quảng cáo phải phù hợp với thị trường mục tiêu và
động cơ của người mua. Doanh nghiệp phải đưa ra quyết định về mục tiêu
quảng cáo, ngân sách quảng cáo, thông điệp quảng cáo, phương tiện truyền
thông và đánh giá kết quả [3].
Khuyến mãi gồm những công cụ kích thích khách hàng (tặng hàng
mẫu, phiếu thưởng, trả lại tiền, bán đại hạ giá…, kích thích thương mại (trợ
cấp mua, quà miễn phí, thi đua doanh số các đại lý…, và kích thích nhân viên
bán hàng (tiền thưởng, thi đua, so sánh doanh số). Những quyết định chủ yếu
về khuyến mãi là xác định mục tiêu, lựa chọn công cụ, xây dựng chương
trình, thử nghiệm trước, tiến hành, kiểm tra hoạt động và đánh giá kết quả.
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh

- 21 -

21


22

2.1.5.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
 Các nhân tố kinh tế
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu ảnh hưởng bởi GDP


23

hàng hoá sẽ thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước
khác sản xuất. Tỷ giá thay đổi làm đội giá thành thức ăn thành phẩm.
Yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá của
doanh nghiệp. Một quốc gia có mức lạm phát cao sẽ làm tăng giá cả các yếu
tố đầu vào dẫn đến tăng giá thành và tăng giá bán. Điều đó làm cho hàng hoá
của doanh nghiệp khó cạnh tranh hơn về giá so với các đối thủ cạnh tranh
khác. Trong năm 2008, 2009 với sự gia tăng chóng mặt của giá cả hàng hóa
làm cho người tiêu dùng giảm lượng mua hàng hóa so với trước điều này ảnh
hưởng không ít tới sản xuất của các doanh nghiệp [19].
Lãi suất cho vay của những ngân hàng có ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp đặc biệt là năng lực tài chính. Vốn vay trong cơ cấu
vốn của doanh nghiệp là không thể thiếu. Mặt khác khi lãi suất cho vay của
các ngân hàng cao dẫn đến giá thành sản phẩm cao kéo theo sức mua hàng
hóa giảm.
Thuế xuất nhập khẩu cũng là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới
năng lực cạnh tranh của Công ty. Đối với các doanh nghiệp chế biến thức ăn
chăn nuôi thì thuế nhập khẩu các loại ngô, đỗ tương làm tăng chi phí sản xuất
của sản phẩm đã gây khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường.
Vậy muốn nâng cao được năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp cần
thường xuyên quan tâm nắm bắt tới các nhân tố kinh tế để có các chiến lược,
quyết định trước những sự biến động của các yếu tố kinh tế.
 Các nhân tố về thể chế chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh
nghiệp. Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các
biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa,
dịch vụ, ngành nghề, địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính
sách về đầu tư, tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các

về các yếu tố đó và đáp ứng được hàng hóa phù hợp với nhu cầu khách hàng
thì cũng là lúc doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường và nâng cao năng
lực cạnh tranh của Công ty.
 Các nhân tố về tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên tạo ra những điều kiện thuận lợi và khó khăn ban
đầu cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nếu tài nguyên thiên nhiên
phong phú, điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi, vị trí của doanh nghiệp thuận

- 24 -

24


25

lợi thì cũng coi như là một lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp giúp doanh
nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.
2.1.5.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
 Khách hàng
Khách hàng là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới kinh doanh, vì thế
thực chất khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, số lượng, kết cấu khách
hàng, quy mô nhu cầu, động cơ mua hàng, thị hiếu, yêu cầu của họ…Khách
hàng có ý nghĩa sống còn đối với việc kinh doanh, nếu chúng ta không cung
cấp cho khách hàng thứ mà họ cần với giá phải chăng họ sẽ tìm chỗ khác để
mua hàng và ngược lại nếu ta đáp ứng tốt được các nhu cầu của khách hàng
chúng ta sẽ tăng được được doanh số và lợi luận.
Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của
khách hàng ngày càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn. Một doanh
nghiệp không thể thoả mãn được tất cả nhu cầu của mọi khách hàng nên
doanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau. Trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status