cảm hứng thế sự trong truyện ngắn phạm duy tốn - Pdf 31

Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN
----------

LÊ XUÂN TRANG

CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG
TRUYỆN NGẮN PHẠM DUY TỐN

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths. GVC. HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
Cần Thơ, 5/2011
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

CẢM HỨNG THẾ SỰ QUA NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN PHẠM DUY TỐN
2


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

2.1. Những vấn đề thế sự
2.1.1. Vấn đề đạo đức và lối sống
2.1.1.1. Các mối quan hệ gia đình ngày càng lỏng lẻo
2.1.1.2. Chuyện lường gạt phổ biến
2.1.1.3. Xã hội phổ biến lối sống ăn chơi
2.1.2. Hiện thực về giai cấp thống trị đương thời
2.1.2.1. Quan lại vô trách nhiệm
2.1.2.2. Quan lại bị tha hóa
2.1.3. Đời sống kinh tế nghèo nàn, lạc hậu

2.2. Quan điểm của nhà văn trước vấn đề thế sự
2.2.1. Những lý giải của nhà văn về vấn đề thế sự
2.2.2. Cách giải quyết cho vấn đề thế sự
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ

3.1. Ngôn ngữ
3.2. Nhân vật
3.3. Kết cấu truyện
3.4. Chi tiết nghệ thuật
3.5. Thời gian nghệ thuật
3.6. Không gian nghệ thuật
PHẦN KẾT LUẬN

thầy cô và các bạn sinh viên để luận văn này được hoàn chỉnh hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 04 tháng 05 năm 2011

Lê Xuân Trang

4


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài :
Trong sự vận động phát triển không ngừng của xã hội, tồn tại bên những mặt tích
cực, những điều tốt đẹp của cuộc sống, vẫn còn đó những mảnh đời, những câu chuyện éo
le, thương tâm, những chuyện đáng lên án, đáng chê trách diễn ra xung quanh, buộc ta
5


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

phải dừng lại để nghĩ suy, trăn trở. Vấn đề thế sự là một trong những vấn đề được người
đọc quan tâm nhiều nhất. Đặc biệt hơn cả là đối với người cầm bút, bởi họ là những người
luôn nhạy cảm trước thời cuộc. Và bởi vì một lẽ, để tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn
lao thì tác phẩm đó phải mang tính hiện thực xã hội, gần gũi với thực tế đời sống và phản

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

Mặt khác, do yêu thích thể loại truyện ngắn và đặc biệt quan tâm đến những vấn đề
thế sự của xã hội trong thời buổi đất nước đang có những biến đổi lớn cả về mặt đời sống
chính trị cũng như kinh tế, văn hóa, giáo dục… người viết chọn đề tài này mong muốn
tìm hiểu rõ hơn về những điều văn học và xã hội đã trải qua trong lịch sử.

2. Lịch sử vấn đề
Nhà văn Phạm Duy Tốn - một trong những tác giả được phong là “chiến sĩ tiên
phong trong địa hạt văn xuôi hiện đại” [27;7]. Ông đã có những đóng góp rất lớn trong
quá trình hiện đại hóa truyện ngắn dân tộc vào những năm đầu thế kỷ XX. Trong nhiều
tác phẩm của Phạm Duy Tốn, hiện thực xã hội được thể hiện một cách sinh động, đa dạng
và phong phú. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn cùng những tác phẩm của
ông.
Trước 1945, công trình nghiên cứu về văn học giai đoạn giao thời chưa nhiều, những
thành tựu của truyện ngắn thời kì này chưa được nhìn nhận đúng như những gì nó đã có.
Nên chỉ có những công trình nghiên cứu khái quát điểm qua một vài nội dung của tác
phẩm tiêu biểu chứ chưa đi sâu vào từng khía cạnh, nội dung phản ánh.
Nguyễn Văn Cổn trong công trình Thi nhân Việt Nam, trích lục và giảng giải [2] đã
đánh giá về tác phẩm Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn: “Bài này (Sống chết mặc
bay) so với các bài trên kia (của các tác giả khác, như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh
Của, Dương Bá Trạc, Phan Kế Bình…) đã tiến bộ rất nhiều và có thể được gọi là một bài
văn có giá trị” [2;224].
Đến năm 1960, trong Nhà văn hiện đại [23], Vũ Ngọc Phan đã nhận định về lối văn
của Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học, qua đó ông đánh giá cao về văn của Phạm Duy
Tốn, tác giả có một lối văn linh hoạt hơn hẳn Nguyễn Bá Học và đem so với văn chương
thời bấy giờ không kém xa mấy tí. Vài ba truyện ngắn của ông đăng trên tạp chí Nam
Phong, như Sống chết mặc bay và Con người Sở Khanh, mà ngày nay nhiều người vẫn
còn nhớ đến, đã được coi một trong những truyện tả chân tuyệt khéo.
Thanh Lãng trong công trình nghiên cứu Bảng lược đồ văn học Việt Nam [14]. Ở bài

[28] là tập hợp đầy đủ nhất những truyện ngắn Việt Nam hiện đại của đầu thế kỷ XX. Tuy
chỉ là những tóm tắt nhưng phần nào cũng có những đóng góp vào sự phát triển của văn
học.
Đến công trình nghiên cứu “ Cảm hứng thế sự - điểm gặp gỡ và khác biệt giữa tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết của một số tác giả cùng thời” [22], của hai tác giả
Nguyễn Văn Nở và Huỳnh Thị Lan Phương khi bàn đến hiện thực về giai cấp phong kiến
thống trị đương thời, đồng thời có nhận định giá trị của truyện ngắn Sống chết mặc bay :
“Nhiều nhà văn miền Bắc và Hồ Biểu Chánh chưa đạt được thành công như Phạm Duy
Tốn, một tác giả truyện ngắn cùng thời, đã tạo nên một hoàn cảnh điển hình như trong

8


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

Sống chết mặc bay để làm nổi bật hình tượng nhân vật quan lại vô trách nhiệm, bàng
quan trước nỗi khổ của dân nghèo”. [22;44]
Nhìn chung, viết về Phạm Duy Tốn và các tác phẩm của ông, các nhà nghiên cứu chỉ
đi sâu vào một khía cạnh nào đó, chưa đi sâu vào vấn đề thế sự mà tác giả đặt ra qua các
tác phẩm của mình. Tuy nhiên có thể nhìn nhận rằng những cứ liệu trên là nguồn tài liệu
phong phú cho những ai muốn đi sâu tìm hiểu về tác giả. Mặc dù kiến thức còn hạn hẹp,
sự hiểu biết chưa thật vững vàng nhưng người viết hy vọng với đề tài này sẽ góp phần vào
kho tài liệu tìm hiểu và nghiên cứu về nhà văn Phạm Duy Tốn - một nhà văn với trái tim
nhân hậu luôn trăn trở trước những vấn đề của thời cuộc.

3. Mục đích nghiên cứu
Văn học giai đoạn giao thời là một sự chuyển mình mang tính chất bước ngoặc đầy
phức tạp của quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta. Truyện ngắn hình thành và phát

trách nhiệm, sống tha hóa... dẫn đến cuộc sống cùng quẫn, bế tắc cho những người dân
nghèo. Bên cạnh nội dung, còn có sự đóng góp rất lớn của các yếu tố nghệ thuật góp phần
thể hiện cảm hứng thế sự. Ở đây, người viết sẽ tìm hiểu những vấn đề trên qua những tác
phẩm tiêu biểu: Câu chuyện thương tâm, Sống chết mặc bay, Con người sở khanh và
Nước đời lắm nỗi.

5. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, người viết vận dụng nhiều phương pháp để tiến hành nghiên cứu.
Trước hết là phương pháp tiểu sử để hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của
Phạm Duy Tốn. Kế đến là phương pháp lịch sử, phương pháp đồng đại để so sánh, đối
chiếu giữa tác phẩm của Phạm Duy Tốn với hiện thực xã hội và với tác phẩm của các nhà
văn cùng thời để thấy rõ hơn vấn đề thế sự nhà văn đặt ra. Cùng với đó, người viết sử
dụng các thao tác tổng hợp để hệ thống các tư liệu cần thiết và kết hợp các thao tác phân
tích, bình luận, chứng minh, để làm rõ những vấn đề đặt ra trong tác phẩm.
Để hoàn thành đề tài này, người viết còn trao đổi tham khảo ý kiến từ giảng viên
hướng dẫn, tham gia các diễn đàn về văn học và trao đổi ý kiến với bạn bè để tiếp thu
kiến thức và tích lũy thêm kinh nghiệm cần thiết.

10


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái niệm về cảm hứng và cảm hứng thế sự

Không có cảm hứng thì không thể làm thăng hoa ý tưởng của tác giả, đặc biệt là đối với
người cầm bút. Điều đó giống như người nghệ sĩ điêu khắc cần có cảm xúc để tạc được
những tác phẩm xuất sắc. Cảm xúc được xem là chất xúc tác khởi nguồn cho những ý
tưởng về những đứa con tinh thần của nhà văn để có thể tạo ra cho đời những tác phẩm
hay.

12


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

Cảm hứng là yếu tố khơi nguồn cho mọi sự thăng hoa trong sáng tạo của người
cầm bút, nhưng nếu chỉ có cảm hứng thôi thì chưa đủ, cảm hứng đó phải đặt trong tổng
thể của ý tưởng sáng tạo nghĩa là nó cần phải nhất quán, xuyên suốt mới tạo thành một
mặt hoàn chỉnh mang lại giá trị nội dung cho tác phẩm. Người cầm bút tạo ra những tác
phẩm tuyệt tác văn chương cũng bắt nguồn từ cảm hứng sáng tác. Cảm hứng không phải
tự nhiên có ở mỗi người mà chính yếu vẫn là sự rèn luyện tư duy mà có. Đặc biệt, đối với
nhà văn, đây là điều quan trọng cần thiết hơn cả. Ở hầu hết các nhà văn, những ý tưởng
luôn nằm sẵn trong đầu, khi gặp thời điểm thích hợp thì nó sẽ bùng phát mạnh mẽ, đó là
lúc cảm xúc được thăng hoa, tuôn trào theo đúng như những gì nhà văn mong đợi. Vì cảm
hứng thường mang tính tức thời chỉ thoáng qua ở một thời điểm nhất định trong hoàn
cảnh cụ thể nào đó, nhà văn muốn thành công phải duy trì được tư duy sáng tạo để giúp
họ có được những thông tin cần thiết, liên tục trong sáng tác của mình.
Trong mỗi tác phẩm văn chương những yếu tố sáng tạo, thành công phụ thuộc rất
nhiều vào cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Chính vì vậy mà các tác phẩm nghệ thuật
thường thể hiện cách nhìn chủ quan của tác giả. Cảm hứng của tác giả dẫn đến sự đánh
giá theo một quy luật riêng của cảm tính. Niềm tin yêu, say mê, khẳng định tư tưởng,
chân lý làm cho cảm hứng trong tác phẩm thường mang tính chất “thiên vị”, “thiên ái”

Theo Hêghen: “cảm hứng chủ đạo là tinh thần thời đại xuất hiện trong cá nhân”,
ở đây “cảm hứng chủ đạo cần hiểu là tình cảm xã hội của thời đại xuất hiện trong tác
phẩm. Người ta thường nói đến cảm hứng yêu nước, cảm hứng công dân, cảm hứng nhân
loại, cảm hứng anh hùng chính là nói đến những tình cảm mang lý tưởng lớn chi phối sự
đánh giá trong tác phẩm”.
Bên cạnh đó, Bêlinxki - nhà lý luận văn học Xô viết cũng đã nhận thức được vai
trò quan trọng của cảm hứng chủ đạo trong sáng tác văn học nghệ thuật, ông xem cảm
hứng chủ đạo là “điều kiện không thể thiếu được của việc tạo ra những tác phẩm hiện
thực”, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với
tư tưởng, một tình yêu mãnh liệt, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”.
Cảm hứng chủ đạo theo Hêghen là tinh thần thời đại xuất hiện trong một cá nhân.
Cảm hứng chủ đạo từng hiểu là tình cảm xã hội của thời đại xuất hiện trong tác phẩm. Đó
là mạch ngầm tư tưởng của tác phẩm, là yếu tố chi phối và khuấy động không khí xúc
cảm của cá nhân sáng tác lẫn đối tượng tiếp nhận tác phẩm, là những rung động trong tâm
hồn nhà văn chi phối sự thống nhất của cảm xúc hiện tượng và hệ thống biểu cảm nghệ
thuật của tác phẩm. Nhưng vấn đề còn ở chỗ xem xét cảm hứng chủ đạo phải nhìn từ
nhiều bình diện. Xem xét cảm hứng chủ đạo với tư cách là tư tưởng, tư cách của tác giả
đối với hiện thực được miêu tả, chúng ta có thể cắt nghĩa được sự “vận động” của một số
yếu tố nội dung, hình thức trong chỉnh thể tác phẩm. Nếu xét cảm hứng chủ đạo với tư
cách là yếu tố của bản thân nội dung tác phẩm, chúng ta sẽ chỉ ra được mạch cảm xúc
tuôn chảy trong tác phẩm, lí giải được phần nào sức hấp dẫn, sức sống của tác phẩm với
công chúng, với thời gian.
14


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

Cũng có thể nói, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố có vai trò quan trọng cả trong

15


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

những biến đổi phức tạp, những éo le của cuộc sống muôn màu, muôn sắc nhằm tìm kiếm
hạnh phúc và khẳng định nhân cách và bản chất con người.

1.2. Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Đầu năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng xâm lược đầu tiên lên bán đảo Sơn Trà,
mở đầu cho công cuộc khai thác và bình định Việt Nam. Đến năm 1897, Pháp căn bản đã
thực hiện xong công cuộc chinh phục ở Việt Nam. Cũng vào năm đó, chúng cử tên Pônđu - me sang làm toàn quyền Đông Dương. Từ một quốc gia có chủ quyền, nước ta bỗng
trở thành thuộc địa của một đế quốc lớn mạnh và hoàn toàn xa lạ ở phương Tây. Bên cạnh
những chương trình khai thác thuộc địa mang tính quy mô, thực dân Pháp còn ban hành
những chính sách cai trị hà khắc với nhân dân ta. Xã hội Việt Nam phải chứng kiến những
thay đổi lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Song, với truyền thống yêu nước và
truyền thống văn hiến hàng ngàn năm, bất chấp sự đàn áp của bọn thực dân và phong kiến
tay sai, nhân dân ta vẫn không ngừng đấu tranh vì mục tiêu độc lập, tự do và dân sinh, dân
chủ theo hướng văn minh tiến bộ.

1.2.1. Tình hình chính trị - xã hội
“Bước vào những năm cuối thế kỷ trước, hai chữ Đại Nam mà chế độ phong kiến
nhà Nguyễn dùng để đặt tên cho đất nước đã thật sự mất hết ý nghĩa tôn nghiêm của nó.
Nội dung của danh từ không còn gì nữa. Cái còn lại chỉ là một tiếng vang, một ký ức lịch
sử nữa mà thôi. Trên bản đồ thế giới, dưới ba chữ tên Tonkin (Bắc kỳ), Annam (Trung
kỳ), và Cochinchine (Nam kỳ), nước Nam đã bị chia làm ba khu vực riêng rẽ, như ba bộ
lạc nhỏ ở miền châu Phi nhiệt đới, tô theo màu nước Pháp, và ở dưới tên mỗi thứ đã ghi
chữ (F), hay chữ (P) chỉ rõ quyền sở hữu, quyền bảo hộ của nước Pháp trên lãnh thổ”.

dân chủ tư sản. Mặc dù chia làm hai phái kịch liệt và ôn hòa, nhưng những tổ chức yêu
nước này đều nhằm mục đích chung là cứu nước, khôi phục nền độc lập cho dân tộc.
Thực dân Pháp lo sợ và tìm cách đối phó. Những cuộc đàn áp dã man những người yêu
nước diễn ra. Sau sự thất bại của phong trào Cần Vương, thực dân Pháp càng thẳng tay
đàn áp nhân dân hơn. Cái vòng kim cô của chế thực dân nửa phong kiến dường như càng
xiết chặt cuộc sống của người dân. Tiếp theo là phong trào chống sưu thuế của nông dân
Trung kì, vụ đầu độc binh sĩ Pháp ở Hà Nội làm cho không khí tranh đấu vô cùng sôi sục
từ nam chí Bắc. Thực dân Pháp hoảng sợ, khủng bố điên cuồng. Tiếp theo biện pháp quân
sự, chính trị, chúng chủ trương dùng thêm vũ khí văn hóa kĩ thuật để gây ảnh hưởng lâu
dài và sâu sắc hơn. Cách mạng Việt Nam sau đại khủng bố (1908 - 1909) lâm vào thoái
trào. Thôn xóm, làng mạc Việt Nam tiêu điều, xơ xác do kẻ thù tàn phá. Nhân dân phải
xiêu tán, lưu lạc khắp nơi. Những người tham gia khởi nghĩa trước kia bị giết, bị tù đày
hoặc không dám trở về. Trong khi đó, cột sống của chế độ phong kiến cũng bị sụp đổ.
Hàng ngũ giai cấp thống trị bị tan rã. Cả bộ máy thống trị của nhà nước phong kiến từ
triều đình đến tỉnh, huyện, làng, xã đều trở thành tay sai cho bọn xâm lược. Mọi quyền
17


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

hành đều nằm trong tay Pháp. Tầng lớp trí thức thời phong kiến lúc bấy giờ cũng lâm vào
tình trạng sống dở, chết dở. Có người không chịu được thử thách cuối cùng phải ra đầu
hàng thực dân, làm tay sai và sống nơm nớp lo sợ trong cảnh tù treo thực dân. Những
người trí thức có tinh thần yêu nước nhưng bất đắc chí thì lui vào ở ẩn, an phận. Đặc biệt,
có những người ham giàu sang, phú quí đã cởi bỏ lớp áo Nho phong để phục vụ cho “ông
chủ mới”.
Ngoài ra, những nhà cai trị Pháp có trách nhiệm ở thuộc địa còn ra sức tạo sự tin
tưởng vào uy tín tinh thần nhà nước bảo hộ, học thuật tư tưởng cao thâm, khoa học kỹ

giữa các thành thị và những quan hệ giao lưu quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội làm cho thành thị thay đổi mau lẹ, tuy quy mô không hơn nhưng phát triển một cách
đáng kể. Các tầng lớp thị dân ngày càng đông. Một lối sống tư sản văn hóa lan tràn nơi
phố phường “chật hẹp”, người “đông đúc”. Trong môi trường ấy, các tầng lớp và giai cấp
xã hội ở thành thị - tư sản và công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, công chức, dân nghèo
thành thị, trí thức tân học và nhà Nho “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, cho tới các
cô sen, cậu bồi tuy rất khác nhau về mức sống và khả năng thực hiện những ước mơ của
mình thậm chí đối lập nhau về thái độ đối với chế độ đương thời, nhưng vẫn gần nhau về
những nét tâm lý thị hiếu. Thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, muốn sống và giải trí trong
môi trường náo nhiệt, khao khát cái lạ, cái luôn luôn đổi thay.
Trong bối cảnh chính trị phức tạp và đen tối như thế, thanh niên Việt Nam cảm thấy
vô cùng bi quan, chán nản, tuyệt vọng. Họ nhận ra một thực tế phũ phàng:
“Ông nghè, ông cống cũng nằm co
Sao bằng đi học làm ông phán
Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò”
(Chữ Nho - Trần Tế Xương)
Hay:
“Vứt bút lông đi, giắt bút chì”
(Vứt Bút Chì - Trần Tế Xương)
Họ tìm đọc sách vở và báo chí nước ngoài, tiêu biểu là tân thư, tân văn. Cũng từ sách
vở nước ngoài, họ được tiếp xúc với tư tưởng tiến bộ, hiểu được tình hình cách mạng trên
thế giới, từ đó ý thức được vai trò và sứ mệnh của mình.
Nhìn chung, ở giai đoạn đầu thế kỷ XX, trong xã hội Việt Nam đã có những chuyển
biến mạnh mẽ từ ý thức hệ phong kiến sang ý thức hệ tư sản, ở giai đoạn 30 năm đầu của
thế kỷ, ý thức hệ tư sản chưa đủ sức làm thay đổi nền văn hóa phong kiến Việt Nam
nhưng trong một mức độ nhất định nó đã góp phần tạo ra những nhân tố thúc đẩy cho sự
đổi mới hoàn toàn ở giai đoạn sau, giai đoạn năm 1930 - 1945.

1.2.2. Tình hình kinh tế


mua rẻ nông phẩm (chủ yếu là gạo, tơ tằm) và bán đất công nghiệp phẩm cho nông dân,
độc quyền ngoại thương. Độc chiếm các ngành kinh doanh quan trọng từ khai mỏ, giao
thông đến làm muối, nấu rượu “rượu ta nấu nó chê rượu lậu, muối ta làm nó bảo muối
gian”, độc quyền ngân hàng đầu tư vào các nghành lợi cho việc vơ vét tài nguyên, hàng
hóa để xuất khẩu. Lợi dụng quyền thống trị về chính trị, thực dân Pháp duy trì bộ máy
quan liêu, cường hào và những luật lệ phong kiến. Từ đó làm phá sản nông dân và thợ thủ
công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt, phục vụ cho các công trình khai thác của chúng. Kết
20


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

quả của chính sách nói trên đã kéo nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, nhưng
không được công nghiệp hóa mà lại biến thành thị trường tiêu thụ cho Pháp.
Đầu thế kỷ XX, mặc dù đất nước đang trên con đường tư sản hóa, kinh tế có sự
phát triển hơn trước. Tuy nhiên, đó lại là sự phát triển không đồng đều, khoảng cách giữa
thành thị và nông thôn, giữa người giàu và người nghèo ngày càng rõ rệt. Chính điều đó
đã tạo nên những bất công không đáng có trong xã hội.

1.2.3. Đời sống văn hóa giáo dục
Có thể nói, đời sống văn hóa giáo dục trong xã hội Việt Nam ở giai đoạn đầu thế
kỷ XX diễn ra vô cùng phức tạp bởi có sự giao tranh giữa “cái cũ” và “cái mới”, giữa nền
Nho giáo tồn tại hàng nghìn năm và đã trở trành truyền thống của con người Việt Nam
với nền văn hóa du nhập từ phương Tây của thực dân Pháp.

1.2.3.1. Về đời sống xã hội
Đầu thế kỷ XX, giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn, cúi đầu làm tay
sai cho giặc. Hàng ngũ giai cấp thống trị đã tan rã hoàn toàn. Cả một chế độ cũ vừa sụp

tiềm thức người dân và nó đã trở thành nét phong tục tập quán và là một phần căn cốt
trong huyết mạch của con người thời bấy giờ. Con người sống nghĩa tình, đôn hậu quanh
xóm làng giờ không còn nữa, mà thay thế vào đó là lối sống gấp rút, nhộn nhịp, tấp nập,
con người bon chen theo danh lợi, bạc vàng. Việt Nam có nghề trồng lúa nước cho nên
thức ăn là cơm, thức uống thì có rượu cũng được chế tạo từ gạo. Khí hậu Việt Nam nóng
nên người Việt Nam thường ăn mặc kín đáo, thoáng mát, chất liệu vải được làm từ thực
vật. Việc chọn hướng làm nhà ở cũng rất cẩn thận, đặc biệt lưu tâm đến vai trò phong
thủy, vì những đặc trưng này, người Việt sớm hình thành tính cộng đồng và sống có tôn
ti, trật tự. Những cánh đồng trồng lúa nước nhường chỗ cho những cây đai, cây cối hiên
ngang mọc lên … Tất cả đều dấy lên trong lòng người một nỗi đau. Bên cạnh đó, thực
dân Pháp còn cho dựng lên nhiều trường học dạy tiếng Pháp để mở rộng công cuộc chinh
phục thuộc địa của chúng. Các cơ sở xuất bản, in ấn ngày càng nhiều với hàng chục tờ
báo, tạp chí tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Nhà cầm quyền Pháp đã ưu tiên, khuyến khích
xuất bản các sách báo cổ vũ chủ trương “Pháp - Việt đề huề ”.
Đứng trước những đổi thay của xã hội, đối diện và chứng kiến những điều
“chướng mắt”, “chói tai”, ngay từ những buổi đầu, người Việt Nam đã có những phản
ứng quyết liệt:
“Muốn mù, trời chẳng cho mù nhỉ!
Giương mắt trông chi buổi bạc tình”
(Trần Tế Xương)
Trước kia, Việt Nam tồn tại ba tôn giáo được du nhập từ nước ngoài. Đó là
Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo. Kitô giáo vốn đã xuất hiện ở Việt Nam từ các thế kỷ
trước (XVI, XVII), đến giai đoạn 1900 - 1930 đã có nhiều ảnh hưởng đến đời sống tinh
thần của người Việt Nam.
22


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

đại, đối với các nước tiên tiến và đối với lịch sử loài người nói chung. Nhưng ở Việt Nam
thì đó lại là chuyện của đầu thế kỷ XX. Không những về thời gian, chưa kể nền văn học
23


Luận văn tốt nghiệp

Sinh viên thực hiện: Lê Xuân Trang

đó chưa xa chúng ta bao lâu, mà về thực tế có những vấn đề từ lúc đó còn kéo dài đến tận
ngày nay. Văn học giai đoạn này diễn ra một sự xung đột trung tâm, xuyên suốt qua các
truyện ngắn là sự va chạm giữa “cái cũ” và “cái mới”, giữa cái gọi là “cách tân” và cái
gọi là “bảo thủ”. Có đều là cái “cũ” chưa hẳn xấu và cái “mới” chưa thật sự tốt, giai
đoạn cận đại là lúc giao thời, lúc mà các giá trị thật sự ổn định. Văn học giai đoạn này có
sự đối lập giữa văn học yêu nước và văn học nô dịch, một bên là của các nhà yêu nước và
một bên là của thực dân và tay sai, một bên là tiêu biểu cho dân tộc, cho nhân dân, một
bên tiêu biểu cho quân thù cướp nước và bán nước. Đầu thế kỷ XX, công tác dịch thuật,
biên khảo, nghiên cứu, phê bình văn học bắt đầu phát triển mạnh theo một chiều hướng
tiến bộ, đã để lại nhiều công trình đáng trân trọng làm cho văn học Việt Nam tiếp xúc
rộng rãi với văn học thế giới, giới thiệu với công chúng Việt Nam nhiều thể loại mới, làm
phong phú vốn từ ngữ và trau dồi câu văn Việt Nam. Văn học Việt Nam vừa thoát khỏi
lối văn biền ngẫu của văn học trước, lối nói bóng gió, lối gửi gắm kín đáo, lối dùng hình
ảnh tượng trưng hoặc mượn lời nhân vật lịch sử để thổ lộ tâm tình rất phổ biến. Xu hướng
hiện thực mới được manh nha, xu hướng lãng mạn cũng được khơi nguồn.

1.3. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy Tốn
1.3.1. Cuộc đời
Phạm Duy Tốn (sinh năm 1881, mất ngày 25 tháng 02 năm 1924) là nhà văn xã hội
tiên phong của nền văn học mới Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại nhà số 54
Felloneau (nay là phố Hàng Dầu), Hà Nội. Nguyên quán của ông ở làng Phượng Vũ,

khác nhau. Hầu hết các tờ báo đó, như Đông Dương tạp chí hay Nam Phong có trụ sở tại
Hà Nội, nhưng ông cũng có vào Nam Kỳ để viết giúp các tờ báo của miền Nam như Lục
tỉnh tân văn hay Nông Cổ mín đàm. Ông còn làm thư ký tòa soạn cho tờ Học báo trước
khi nghỉ hưu vì sức khỏe.
Phạm Duy Tốn còn là một chính trị gia. Năm 1919, ông được bầu vào hội đồng dân
biểu thành phố Hà Nội. Từ năm 1920 - 1923, ông là nghị viện dân biểu Bắc kì, đại biểu
của khu vực Hà Nội. Năm 1922, ông cùng một số trí thức và quan chức của chính quyền
thuộc địa, như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Huy Quang tham dự hội chợ triễn
lãm quốc tế (tức Đấu Xảo) ở Marseilles, Pháp.
Theo lời Phạm Duy thì bố ông “người gầy gầy, cao, mặt hơi gỗ, tính tình vui vẻ, hay
nói đùa, hút thuốc lá nặng, không biết nhạc, không nghe nhạc…” [4]. Về quan hệ xã hội,
ông là một người có đầu óc phê bình xã hội, một người sống trong một xã hội mà mình
không chấp nhận hoặc không nhập thế… . Đời sống làm ăn của cụ đã chứng minh điều
đó: “Cụ không thể nào thành công trong một cái xã hội mà cụ thực tâm khước từ. Cuối
cùng cũng chỉ dùng cây viết để nói vào cái xã hội mà mình đang sống” [4].
“Phạm Duy Tốn là một người “Tây học”. Ông chịu ảnh hưởng ít nhiều của xu
hướng đạo đức, nhưng truyện ngắn của ông nghiêng về phản ánh xã hội hơn là “treo
25


Trích đoạn Không gian nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status