cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn tạ duy anh - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VÕ THỊ EM PI
CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. TRẦN THÁI HỌC
MỤC LỤC
Trang


 !"#
#$%&!'()!*+,-
.%/'0'*+,1
233'4,5!6
78",9:4,5!6
;<=>
8%/?@<<ABCDE<FDG8<AH<BI8JDK8<AH<DEL>BMG8
D,NOPQ9ORST5"OUVWW
D9ORP!X'0!Y9ORSZ
D9ORP!X[%\39]!6R#
D^_'()9`/T[9ORP#
O[)+P9]!6R#
#aZ,P[)+P9]!6RBP)P(.
#aZ,P[)+P9]!6Rb))9%c-d2.
#HXe([)+P9]!6RBP),-d22
8%/8JDK8<AH<DEL>DEfA>gDh=fiji8kClDmn>
oBpDBI8@8AC<AH<d

nhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo của chủ nghĩa hiện sinh, vẫn tìm
thấy sự đồng điệu trong tâm hồn những nhà văn khi họ đối diện với những đổi
thay lớn lao của đất nước và thời đại. Và chủ nghĩa hiện sinh được đón nhận
theo nhiều chiều hướng khác nhau: có người tán dương, có người chê bai nó,
có người phát triển nó theo hướng tiêu cực, quá đà Chính sự đa dạng và
phức tạp trong cách tiếp nhận ấy đã dẫn đến những cách đánh giá, nhìn nhận
tương đối nghiêm khắc và đôi chỗ không công bằng với thuyết hiện sinh.
Nhà văn nhìn cuộc sống không như những triết gia nhưng trong tác
phẩm của họ mang màu sắc triết học đó là vấn đề cảm quan. Cảm quan có sự
hòa hợp cảm quan cá nhân và cảm quan thời đại. Hiểu về cảm quan sẽ giúp
người đọc hình dung được những nền tảng sâu xa chi phối đến quá trình sáng
tác và những tư tưởng về thế giới, con người tác giả muốn gửi gắm.
Trên thế giới, có những tên tuổi bất hủ, gắn liền với chủ nghĩa phi duy
lí đặc biệt là chủ nghĩa hiện sinh: Franz Kafka, Albert Camus, Jean Paul
Sartre, Marcel Proust Trong tầm nhìn của văn học so sánh, chúng ta có thể
thấy được sự tác động mạnh mẽ của trào lưu văn học này đến Việt Nam, mặt
khác, trong tương quan đồng điệu nào đó về văn hoá, thời đại cảm quan hiện
sinh đã nảy sinh và mang những nột riờng do hoàn cảnh xã hội đất nước quy
định. Nó đem đến cho văn học, những điều vừa quen vừa lạ.
1
Mỗi nhà văn trong bối cảnh văn hoá mới, với những hoang mang và
cảm thức thời đại đã trở thành những cây bút sung sức và khát khao thể hiện
mình. Truyện ngắn đã tạo môi trường cho các cây bút thể nghiệm những đổi
mới của mình, từ nội dung đến hình thức. Bởi truyện ngắn đã gắn liền với
người đọc và các nhà phê bình luôn thường xuyên ngay từ buổi đầu thời hiện
đại. Niềm say mê được hiểu biết, đã xâm chiếm lấy nó, khiến nó chăm chú dò
xét cuộc sống cụ thể của con người và bảo vệ cuộc sống này chống sự lãng
quên của con người; khiến nó luôn giữ cái thế giới sự sống dưới nguồn sáng
rọi thường trực.
Nhưng với những cách tân độc đáo của truyện ngắn,nó mang đậm dấu

nhận của dòng văn học hiện sinh (đối tượng nghiên cứu cụ thể là truyện ngắn
của Tạ Duy Anh). Dựa trên cơ sở những công trình của những người đi trước,
chúng tôi muốn đưa ra một cách nhìn mang tính khái quát về sự hình thành
những giai đoạn phát triển cũng như thoái trào của chủ nghĩa hiện sinh. Tất cả
những điều đó sẽ được soi sáng từ bình diện lý thuyết hiện sinh từ gốc nhìn
thực tiễn trong truyện ngắn của Tạ Duy Anh từ 1986 đến nay.
2. Lịch sử vấn đề
Lý thuyết hiện sinh ra đời ở phương Tây, khi vào Việt Nam nó đã ảnh
hưởng trong sáng tác của nhà văn, cũng như của bạn đọc. Lý thuyết ra đời đã
làm thay đổi hệ hình và tư duy của nhà văn và công chúng đọc giả.
Nghiên cứu về Chủ nghĩa hiện sinh, rất nhiều nhà phê bình và bạn đọc
đã có nhiều đánh giá và nhận định.
Vì vậy khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tập hợp trong phạm vi
những công trình có liên quan đến đề tài và tam thời chia thành 2 loại sau đây:
Những công trình liên quan gián tiếp đến đề tài và những cong trình liên quan
trực tiếp đến đề tài.
3
2.1 Những công trình liên quan gián tiếp đến đề tài.
- Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện đầu thế kỉ XX, được các nhà triết học
hiện sinh phát biểu trong các công trình của mình. Husserl viết “Hiện tượng
học”, Heidegger viết “Triết học sinh tồn”, tác giả Sartre cũng viết “Hiện sinh,
một nhân bản thuyết”.
- Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện khi chủ nghĩa duy linh nhân vị sụp đổ.
Nó nhanh chóng trở thành một phần trong đời sống qua sự phổ biến của báo
chí. “Những tờ tạp chí lúc đó như Đại học, Sáng tạo, Văn, Bách khoa…đều có
những bài viết hay số báo đặc biệt về trào lưu triết học và văn học này cùng
những tác gia của nó như Jean-Paul Sartre, Albert Camus… Hỗ trợ có hiệu
quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗ lực dịch thuật ngày càng sâu
rộng những đứa con tinh thần của các tác gia hiện sinh. Về lý thuyết là các
công trình cuả F.Nietzsche, K.Jaspers, M.Heidegger, J P. Sartre…Về sáng

học Heidegger: “Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương”
(NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1970).
- “Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến
Heidegger” (NXB Trình Bầy, Sài Gòn, 1970).
- Nguyễn Văn Trung được nhiều người biết đến với những công trình
nghiên cứu bàng bạc tư tưởng hiện sinh, đặc biệt là J. P. Sartre.
Theo tác giả: “chưa có một trào lưu văn học nào như văn học hiện sinh
mà chỉ trong thời gian ngắn đã cho ra đời một khối lượng lớn đến thế .” Văn
học hiện sinh: “quan niệm kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảm kịch, là
thất bại, vì vậy nó mang nặng chủ nghĩa bi quan xa lạ với chủ nghĩa lạc quan
cách mạng” Vì thế, nó ít có những tác phẩm lớn, ít giá trị nhân văn.
- Sau 1975,tâm thức hiện sinh trong văn học vẫn là vấn đề thu hút được
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,mà một những lý do chính yếu có lẽ là
ở tính chất phức tạp và đa chiều trong việc tiếp nhận nó .Có thể kể đến
5
Nguyễn Thành Thi với “Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp”.
- “Trần Hoài Anh với “Tâm thức trong thơ hiện sinh trong thơ Cát Du”
- Hải Bằng với “Tư tưởng lãng mạn,hiện sinh, siêu thực trong thơ Việt Bằng”
- John C.Schafer với “Cái chết,Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh trong
nhạc Trịnh Công Sơn”…
- Thảng hoặc cũng có người quan tâm đến việc tìm hiểu những ảnh
hưởng của tiết học hiện sinh đối với văn học đô thị miền Nam 1954-1975
(công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Việt Nga với nhan đề “Sự hiện diện
của tiết học và văn học hiện sinh ở đô thị niềm Nam 1954-1975”)
- Hay chú ý đến khuynh hướng phê bình hiện sinh ở niềm Nam những
năm 50,60 (Trần Hoài Anh với “Khuynh hướng phê bình hiện sinh ở đô thị
niềm Nam 1954-1975”).
- Năm 1989 trong tác phẩm “ Mấy trào lưu triết học phương Tây”, tác
giả Phạm Minh Lăng đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của chủ nghĩa

hiện sinh.
- Mặc dù những công trình trên không liên quan trực tiếp đến đề tài
nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc đinh hướng và gợi mở trong việc
nghiên cứu nội dung lý thyết của đề tài.
2.2 Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài.
- Trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam sau 1975_Những vấn
đề nghiên cứu và giảng dạy, nhà văn Nguyên Ngọc đã đánh cao truyện ngắn
Tạ Duy Anh “có những truyện ngắn, chỉ mươi trang thôi mà sức nặng còn
hơn tiểu thuyết trường thiên ”
- Trong luận văn thạc sĩ khoa học của Trần Nhật Thu với đề tài " Thế
giới nghệ thuật truyện ngắn Tạ Duy Anh ” cũng nói rằng văn Tạ Duy Anh
7
chứa đựng những triết lí cuộc sống, những mới mẻ về số phận con người, nổi
đau khổ và lòng hi sinh, tình yêu và sự khát khao hạnh phúc.
- Trong bài “ Tạ Duy Anh phát hiện một truyện ngắn trữ tình hiện đại
trong một lời ca cổ xưa ’’rằng
- Bố cục: Không chỉ chặt chẽ về kết cấu mà còn triển khai thể hiện nội
dung, ý tưởng. Đưa người đọc nhập cuộc ngay từ đầu nhưng lại không cho họ
dễ dàng khi bám theo nội dung.Trong bài “Dấu ấn hiện đại hóa trong Văn học
Việt Nam sau 1986 ” Phùng Gia Thế viết : “Đọc Tạ Duy Anh có thể nhận sự
khai thác tinh tế đến run rẩy các điểm nhìn, sự chồng xếp các lớp thời gian, sự
soi chiếu, góc nhìn khác nhau, các mô típ chủ đề, nhân vật Những cách tân
nghệ thuật đó phải chăng đã ít nhiều làm thay đổi cách đọc văn học của công
chúng và cũng từ đây bao ngỏ ngách của đời sống được xới lật bao tầng, vỉa
tâm thức của con người được khám phá nhiều tìm tòi thử nghiệm được chứng
thực ”
- Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đánh giá: “Đây là một cuốn tiểu thuyết rất
quan trọng… thêm một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người
nông dân Việt Nam”. truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” và ngay lập tức
được giáo sư Hoàng Ngọc Hiến mượn tên truyện này để khái quát: “Có một

3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Tập truyện ngắn chọn lọc của Tạ Duy Anh là những trải nghiệm và
suy ngẫm của chính nhà văn trên chặng đường “xuôi ngược trần gian”. Với
thủ pháp nghệ thuật độc đáo của một ngòi bút đầy tài năng. Trên cơ sở đó,
đối tượng khảo sát là tập truyện ngắn chọn lọc của nhà văn họ Tạ. Như:
Bước qua lời nguyền (1989); Luân hồi (1994); Truyện ngắn Tạ Duy Anh
(2003); Bố cục hoàn hảo (2004)…
9
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn của Tạ Duy Anh tập trung ở cả
hai phương diện: Nội dung và nghệ thuật.
Tìm hiểu cảm thức hiện sinh trong các sáng tác của ông. Qua đó để làm
rõ những nỗ lực trong quá trình khám phá những dấu ấn của chủ nghĩa hiện
sinh của tác giả.
Mặt khác, thấy được cảm quan riêng của mỗi nhà văn về thế giới và
con người để chỉ ra cái mới trong những truyện ngắn này. Từ đó, chúng tôi
muốn góp một hướng nghiên cứu mới về những truyện ngắn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu đề tài chúng tôi đã vận dụng các phương pháp
và thao tác sau đây:
4.1 Phương pháp phân tích tổng hợp.
Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo. Phương pháp này giúp cho
việc nghiên cứu, tìm hiểu giá trị của các hình tượng, sự kiện, chi tiết,…từ đó
khái quát nên những đặc điểm chung về giá trị nội dung tư tưởng và nghệ
thuật.
4.2 Phương pháp thống kê, phân loại.
Phương pháp này sẽ giúp việc tìm hiểu, phân loại các kiểu loại nhân
vật, cốt truyện, không gian, thời gian khi nghiên cứu truyện ngắn của Tạ Duy
Anh dưới gốc nhìn cảm thức hiện sinh.
4.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh.

Chương 3: Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn của Tạ Duy Anh qua
các phương thức thể hiện đặc trưng.
11
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI NIỆM VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH
VÀ CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC
1.1. Thuyết hiện sinh - triết học nổi bật nhất của thế kỷ XX.
1.1.1. Triết học hiện sinh và sự phá vỡ của triết học cổ điển.
Triết học hiên sinh ra đời đã đả phá một cách mạnh mẽ và cương quyết
khước từ con đường mà triết học cổ điển đã lựa chọn. Nếu như triết học cổ điển
khuyến khích con người quên mình đi để mãi mê tìm hiểu những lẽ huyền vi của
tạo hóa thì triết hiện sinh lại khuyến khích con người suy nghĩ về thân phận và
định mệnh của mình .Với triết học cổ điển, con người không có chỗ đúng riêng,
không hiểu con đường mình nên đi và những gì đang đợi mình phía trước.Chính
bởi vũ trụ to lớn quá nên lấn át hết tất cả và thời kì cổ điển cính là thời kì mà
con người dường như bị bỏ quên . Thậm chí,con người cho rằng triết học cổ điển
thực chất chỉ là một trá hình của khoa vật lý. Mang nặng những suy luận duy
lí,Ngược lại, triết hiện sinh bằng con đường mới giản dị và gần gũi đã làm nên
công việc mà chưa từng một triết thuyết nào làm được, đó là đưa triết lí vào đời
sống và hướng dẫn đời sống bằng những suy nghĩ triết học …
• Triết học hiện sinh - triết học về con người.
Đề tài duy nhất của triết hiện sinh là con người tại thế, con người với
những điều kiện sinh hoạt nhất định và định mệnh độc đáo của con người .Từ
bỏ con đường cũ của triết học cổ truyền .không theo đuổi công việc tìm
những nguyên nhân cao nhất của vạn vật nữa, triết hiện sinh chỉ chủ trọng đến
thân phận con người,tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và cái chết .Không gì tha
thiết với con người bằng chính con người và khoong có gì dễ hiểu hơn .Cho
nên có thể nói triết học hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh và nói
tắt là triết học về con người.

định cái độc đáo của mình, họ lắm lúc phải chấp nhận tổn thương để bảo toàn
con đường mình đã chọn .Ở điểm này, văn học hiện sinh đã tiếp thu sâu sắc
quan điểm của Jaspers và cũng là của Nietzsche khi ông phát biểu “Người ta
chỉ yêu cuộc sống khi nguwoif ta biết ghét nó.Và muốn thu hoạch một mùa
sống phong phú và ý nghĩa thì phải dám sống một cách nguy hiểm”.
Cũng có lúc, cái ý thức chủ thể được phát huy thái quá dẫn con người
đến những hành cực đoan, lầm lạc, mang tính chất nổi loạn . kiểu con người
siêu nhân với ý thức hùng cường là điểm mới mẻ nhưng đồng thời cũng có lã
là một hạn chế trong quan điểm của Nietzsch một khi nó bị đẩy đến quá
ngưỡng (Muốn mạnh phải là kẻ ác …)
1.3. Biểu hiện của cảm thức hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại.
1.3.1 Biểu hiện của cảm thức hiện sinh trong văn học đô thị miền
Nam trước 1975
Nếu như một thế hệ thanh niên trí thức phương Tây, đặc biệt ở Pháp đã
từng rơi vào cuộc khủng khoảng về tinh thần sau đại chiến thì ở niềm Nam
Việt Nam những năm 50,60 cũng xảy ra tình trạng tương tự .Giới trí thức
cũng như tầng lớp thanh niên trẻ chán ngán,hoài nghi,thất vọng, mất phương
hướng trong cuộc sống là mảnh đất thuận lợi để những hạt giống hiện sinh
ươm mầm và nảy nở .Có thể nói. Nếu không có hoàn cảnh lịch sử dặc biệt
trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa hiện sinh chưa hẳn đã trở
thành một trào lưu bắt rễ ăn sâu và nở rộ trong đời sống tinh thần của đô thị
miền Nam những năm 1975 như chúng ta đã thấy
Thơ ca đô thị niềm Nam viết nhiều về sự vô định,mong manh, hư vô
của kiếp người về cái chết,nỗi buồn đau trĩu nặng,sự xa lại của thế nhân, sự
đổ vỡ của niềm tin và mơ ước .Những tác giả tiêu biểu cho thơ ca mang
khuynh hướng hiện sinh là Bùi Giáng,Nguyên Sa,Đinh Hùng,Thanh Tâm
Tuyền,Mai thảo,Nhã Ca…Thơ Bùi Giáng đau đáu về thân phận dâu bể cùng
con người cùng nỗi hoài nghi về số kiếp về bản thể của chính mình (ta là ai,ta
14
từ đâu lại ?).Thơ Thanh Tâm Tuyền chìm đắm trong nỗi đau cô đơn luôn vang

vô nghĩa lý, ít trung thực, đầy giả dối, vụ lợi, mưu toan. Con người bơ vơ, nhỏ
bé, lạc lõng như bị gửi đến từ một thế giới khác và không tồn tại về cái nơi
mà họ đang tồn tại. “Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài là một điển hình, hay nhân
vật Chương trong “ Con gái thủy thần” của Nguyễn Huy Thiệp hoài công đi
tìm Mẹ Cả,nhưng đau đớn nhận ra Mẹ Cả chỉ là huyền thoại Nghĩa là con
người cô đơn trong hành trình vác lấy cái định mênh của mình, gánh lấy thân
xác và linh hồn của chính minh giữa cuộc đời.
Chúng ta thường bắt gặp những đoạn xạ này của triết học hiện sinh
trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Y Ban, Thuận, Đoàn Minh Phương
16
Chương 2
CẢM THỨC HIỆN SINH
TRONG TRUYỆN NGẮN TẠ DUY ANH QUA CHỦ ĐỀ,
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VÀ CÁC MỆNH ĐỀ HIỆN SINH
2.1. Những chủ đề đặc trưng.
2.1.1. Cuộc tồn sinh vô nghĩa lí và cảm thức “buồn nôn”.
Đây là một trong những quan điểm cơ bản trong triết học hiện sinh phi
lý của Sartre. Ông là người đưa ra khái niệm buồn nôn và khai thác nó một
cách tài tình. Con người chưa ý thức về nhân vị và định mệnh của mình thì
chỉ là những cá vị người, là những “người ta” (theo cách gọi của Heidegger)
vô danh và vô vị. Như nhân vật Gã trong Bố cục hoàn hảo vô định không biết
mình là ai, là người như thế nào "- Trong đêm anh sẽ là người như thế nào?
- Anh không biết. Gã cố nén xuống một cái gì đó không thể hiểu nổi "
[tr.287]. Trong một thế giới vô nghĩa lý, những mối quan hệ cũng trở nên vô
nghĩa lý một cách kỳ lạ và phi lý.
- Nỗi cô đơn luôn xuất hiện thường trực trong con người của xã hội
hiện đại, mà có lúc, trong truyện ngắnTạ Duy Anh, nó bị đẩy đến mức phi lý
và nhân vật của ông có xu hướng chuyển dần sang kiểu nhân vật phi lý. Nhân
vật Bùi Bằng Hữu trong Dịch quỷ sứ, nhân vật Tôi trong Người khác, hay
nhân vật Tôi trong Bước qua lời nguyền là nạn nhân là người "đã nếm trải nổi

- Nhưng trước những trải nghiệm nhọc nhằn, đau khổ họ vẫn dấn thân
đi tìm cái đẹp, chân lý,ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Họ đeo đưởi giấc mơ
mình đến tận cùng Bước qua lời nguyền nhân vật cậu Tư và Quý Anh gạt bỏ
hận thù, vượt qua lời nghuyền để tìm kiếm tình yêu đích thực và trong sáng
18
của chính mình hay nhân vât tôi trong Lãng du (Tạ Duy Anh ) theo đuổi giấc
mơ đẹp thời thơ ấu
- Các nhân vật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh hầu hết là những con
người ra đi: Bước qua lời nguyền, Lãng du, Luân hồi họ ra đi để thực hiện
những khao khát vươn tới những điều lớn lao tốt đẹp hoặc chí ít cũng là để
tìm kiếm những điều mà bản thân họ chưa từng có trong cuộc đời
2.2. Các hình tượng nhân vật tiêu biểu.
2.2.1. Hình tượng nhân vật lạc loài,vô nhân tích.
- Đây là kiểu nhân vật không tìm được sự tương giao. Tương thông với
thế giới xung quanh và vì vậy họ cô đơn và đau khổ, sự khác biệt đó đôi khi là
do thiên phú mà cũng có thể họ tự tách biệt mình ra khỏi số đông
- Trong Truyền thuyết viết lại và Thiên Thần và ác quỷ (Tạ Duy Anh )
chị Thư bị đời ruồng bỏ bởi chính sắc đẹp của chị, Quý Anh (Bước qua lời
nguyền ), Chị Túc (Xưa kia chị đẹp nhất làng) đều là những người phụ nữ cô
đơn và đau khổ
Những nhân vật trong truyện ngắn Luân hồi các nhân vật gắn với nhân
vật cô đơn từ kiếp trước và còn kéo dài triền miên đến kiếp sau
Nhân vật " Tôi sinh ra từ những cơn mưa. vào một đêm sâu thẳm nào
đó, trong nổi cô đơn khủng khiếp, cah tôi lang thang đi tìm một Miền khô
ráo ,bởi nổi đau đớn triền miên không thể giải thoát làm nên số phận
tôi " [tr.133]
- Nhân vật “tôi” trong Bước qua lời nguyền “ bỗng dưng tôi cảm thấy
cô đơn” chú Hổ trong Vòng trầm luân
2.2.2. Hình tượng nhân vật nổi loạn.
- Ý thức mạnh mẽ về chủ thể và thái độ dấn thân của con người là

đọc lắm lúc sởn gai ốc vì những con chữ bạo thường trở nên thô thiển. “Lúc
tôi đang tắm thì thấy ông Hổ vạch quần đái vào cây mít. Tôi biết ông ta để ý
tôi từ lâu” [ tr.60] Đó là thứ ngôn ngữ đời thường nhưng có phần dung tục.
Ngôn ngữ này người ta còn gọi là ngôn ngữ “đen”thứ ngôn ngữ suồng sã
nhưng hiện đại, nhiều ẩn dụ hàm ý sâu xa câu văn thường rời rạc, không ăn
khớp với nhau như chính tính chất phi lý của cuộc tồn sinh. Con người hiện
sinh chỉ tin vào cảm giác và kinh nghiệm của chính mình. Ngôn ngữ trong các
tác phẩm của ông thường là thứ ngôn ngữ được chảy từ nôi tâm của chính họ.
3.1.2 Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại
- Ngôn ngữ đối thoại trở thành thủ pháp nghệ thuật hiệu quả khi diễn tả
quá trình tự ý thức của nhân vật,cho phép đi sâu vào thế giới nội tam đầy bí
ẩn của nhân vật. “ Tôi đến ngồi bên chiếc tràng kỷ nhãn bóng, dối diện với bố
tôi: Mười năm anh đi những đâu? Anh thấy nó rộng hay hẹp Chưa vượt
biên chứ? Tôi vẫn im lặng, bắt gặp cái nhìn chia sẻ tù sau cánh cửa của em
gái tôi. Tiếng bố tôi vản đều đều: Mười năm anh học được cái gì mang về?
Có học được nhiều thứ. Nhưng thứ quý nhất mà cuộc đời con là biết tự định
đoạt lấy mình. Nghe nam nhi đấy. Giỏi!" [ tr.42] Qua cách đối thoại trên ta
thấy ông bố dùng những lời lẻ sắc lạnh để nói với con trai mình sau mươi năm
xa cách. Có thể thấy tính cách của ông rất cứng rắn không nói là độc đoán.
21
Độc thoại của nhân vật là lời độc thoại thường gắn với kiểu nhân vật tự
ý thức, với những trạng thái tâm lý tử tưởng căng thẳng. Có thể thấy nhiều tác
phẩm Tạ Duy Anh có điểm song trùng giữa “tôi”_nhân vật_người kể chuyện
và hình bóng cái tôi tác giả. Sự chuyển hóa, hòa nhập này khiến mạch tự sự
như những lời tự bạch của nhân vật. Lời độc thoại nội tâm của Khổ thể hiện
những luồng tư tưởng, tình cảm trái chiều rất tạp trong cùng một con người.
Chân dung nhân vật hiện lên qua gương mặt khắc khoải day dứt, căng thẳng
suy nghĩ. Lão luôn suy nghĩ làm sao cho cuộc sống đỡ khổ “Lại những đêm
Lão Khổ thức trắng. Lão đã từng chăn vịt thuê với nhà chánh tổng những
năm trước cách mạng. Một mình một thuyền, lão làm chủ cả mấy cánh soi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status