Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp_2 - Pdf 19

Ám ảnh hiện sinh trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.2. Niềm băn khoăn về tương lai của con người, về một bản thể chưa rõ hình
hài; cảm xúc rạo rực và khao khát dấn thân trong hành trình kiếm tìm bản thể
Cái tôi và bản thể của con người luôn là một ẩn số, hình ảnh bản thân họ đang ở xa
xôi đâu phía trước, trong tương lai.
Khi người ta nói: “Con người là tương lai của con người” (Ponge), thì đó chính là
một cách khẳng định, rằng: con người tự mình sáng tạo ra mình, vẽ lên hình ảnh của mình
qua chọn lựa thái độ sống và hành động của anh ta.
Các nhà hiện sinh chủ nghĩa, đặc biệt là Sartre, cũng nói nhiều đến “tính chủ thể”.
Nhưng “Thuyết chủ thể” – theo lời giải thích của Sartre – bao hàm hai nghĩa: “Một mặt,
thuyết chủ thể có nghĩa là sự lựa chọn của bản thân chủ thể cá nhân, mặt khác có nghĩa là
con người không thể vượt lên khỏi tính chủ thể của bản thân mình”
(10)
.
Cách giải thích này đã nhấn mạnh thái độ dấn thân, cung cách nhận thức và thái độ
lựa chọn hành động mang tính chủ thể của cá nhân trong đời sống hiện sinh của nó. Khi con
người không thể vượt lên khỏi tính chủ thể của bản thân mình cũng là lúc con người nhận
thức về giới hạn của chính mình và ám ảnh bởi mặc cảm bị bỏ rơi, cái tôi có nguy cơ trở
thành cái “phi tôi”, trộn lẫn và biến mất giữa “tha nhân”.
Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, nhiều đoạn trữ tình ngoại đề, nhiều độc thoại
nội tâm, dưới hình thức diễn ngôn thơ, đã góp phần tô đậm đáng kể tính chủ thể trong dự án

tồn tại một nghịch lý. Con người tự do về nguyên tắc nhận thức, nguyên tắc lựa chọn hành
động, nhưng lại bị bó buộc, giam cầm về điều kiện, phương tiện, tình huống nhận thức,
hành động trong những hoàn cảnh cụ thể.
Đó là một nghịch cảnh hiện sinh đầy sức ám ảnh và cũng đầy thánh thức đối với con
người nói chung, người trí thức nói riêng. Thấu hiểu điều bó buộc thách thức này, Nguyễn
Văn Trung, tác giả bài viết Sartre trong đời tôi, đã phát biểu rất đúng:“Chúng ta không có
thời đại nào khác, ngoài thời đại hiện nay của chúng ta.[…] Chúng ta không có quyền lực
chọn hoàn cảnh, thời đại, chúng ta chỉ có thể lựa chọn trong hoàn cảnh, thời đại của ta”
(11)
.
Như thế, lựa chọn của con người đúng là luôn bị qui định, chi phối bởi hoàn cảnh. Bị
bỏ rơi, con người đương nhiên phải chấp nhận khó khăn, thậm chí khổ nhục. Chả thế mà,
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, bất luận là ai, người phụ nữ hiền thục, gã đàn ông
khốn nạn hay bậc anh hùng sa cơ, đều nhận thức rõ: sống – tức làm người – là cả một thử
thách ghê gớm, không hề dễ dàng một chú nào. Trong Không có vua nhân vật Sinh cho rằng
làm người là khổ, nhục (“khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót”). Lão Kiền – bố
chồng Sinh – cũng bảo: “Làm người nhục lắm”. Còn trong Mưa Nhã Nam, Đề Thám lại
ngẫm nghĩ nhiều về những thử thách khó khăn: “làm người chỉ có một lần/ làm người thật
khó”. Trong Những bài học nông thôn, bà Lâm, bằng một giọng hờn dỗi, “mát mẻ”, cũng
thừa nhận cái khó ấy của việc làm người, khi bà nói với bố Lâm: “mẹ mười đốt thì tám đốt là
quỷ, đốt rưỡi là ma, có nửa đốt là người”.
Nếu làm người mà chỉ như một đám rêu, một vật đang thối rữa, hoặc một cây súp
lơ,… thì hẳn không có gì là khó. Nhưng nếu muốn làm một con người thật sự cao quý, lý tưởng
thì thật khó và thật xa vời. Xa vời như hình ảnh trong câu chuyện mà chị Thắm (Chảy đi sông
ơi) kể cho nhân vật “tôi” nghe: “Ngày xửa ngày xưa ở xứ Jêsuxalem có một con người…”.
Trong khi đó, thứ người “vô tâm” như đám rêu, vật thối rữa, củ cà rốt,… thì, theo chị, “nhiều
như bụi bặm trên đường”.
Đã thế, “trong thiên hạ, không phải chỉ có người”, mà còn “có các thánh nhân, có
yêu quái” (Thương nhớ đồng quê). Hơn nữa, con người thật bơ vơ cô độc vì “có ai yêu
thương họ đâu” (Chảy đi sông ơi). Đó là hoàn cảnh con người phải đối mặt, phải nhận thức

từ khi có chủ nghĩa hiện sinh du nhập vào là liên tục hay đứt đoạn? và, nếu là đứt đoạn thì
tại sao có sự chắp nối trở lại?
Một số kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy thuyết hiện sinh, trên thực tế, đã du
nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng khá sâu sắc đến lý luận và sáng tác văn học Việt Nam từ
thập niên 50 thế kỉ XX đến nay. Đó là một quá trình không liên tục, song có tính qui luật:
bao giờ đời sống thực tiễn và tâm thế xã hội vẫy gọi thì thuyết hiện sinh lại có mặt trong
văn học. Quan sát sự vận động của tư tưởng văn học Việt Nam từ 1954 đến nay, thấy có ít
nhất hai lần, thuyết hiện sinh xuất hiện trong văn học theo đòi hỏi này.
Huỳnh Như Phương trong tiểu luận Chủ nghĩa Hiện sinh ở miền Nam Việt Nam
1954-1975 (trên bình diện lí thuyết)
(12)
khẳng định rằng: thuyết hiện sinh đã du nhập vào
Việt Nam trước 1975 và từng tạo được những dấu ấn sâu sắc, nhất là trên bình diện nghiên
cứu, lí luận ở miền Nam Việt Nam. Với đa số trí thức miền Nam Việt Nam bấy giờ, triết
học hiện sinh là điểm tựa tinh thần không thể thiếu trong việc lựa chọn hành động cũng như
thái độ sống của họ. Đó là lần “vẫy gọi” thứ nhất.
Cũng theo nhà nghiên cứu này, sau gần hai thập niên gián đoạn, đứt gãy, học thuyết
hiện sinh, trong một bối cảnh mới, lại tiếp tục phát huy ảnh hưởng của nó đối với văn học
của một nước Việt Nam thống nhất trên đường hội nhập, đặc biệt là trên bình diện sáng
tác. “Giờ đây” – Huỳnh Như Phương khẳng định – “những ray rứt hiện sinh, trong khung
cảnh một đời sống hòa bình với nhiều nghịch cảnh, đã trở lại bằng con đường hình
tượng”
(13)
.
Đây là lần “vẫy gọi” thứ hai. Giới nghệ sĩ, trí thức Việt Nam hơn bao giờ hết cần đến
những cơ sở lí luận triết mỹ để phân tích lý giải đời sống, phát hiện động cơ tâm lí, cắt
nghĩa hành vi, tính cách của con người trong đời sống đương đại. Cũng hơn bao giờ hết,
con người phải thường xuyên suy tư về sức mạnh của đức tin về nguy hại của ngụy tín, về
tự do, hạnh phúc cá nhân, và về thân phận mình. Trung tâm hứng thú triết học của các nhà
hiện sinh chủ nghĩa – con người như là một thực thể hiện sinh, nó phải tự biết mình là ai,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status