Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
1. Những dấu vết hiện sinh
Tinh thần nhân bản của học thuyết hiện sinh, theo chúng tôi, biểu hiện tập trung ở
cách nêu và trả lời câu hỏi về bản thể:“con người, anh là ai?”. Sức hấp dẫn của truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp cũng thế, nó chủ yếu bắt nguồn từ cách nêu và trả lời câu hỏi này. Bằng
chính hoạt động sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp dường như đã tiệm cận các nhà lý
thuyết hiện sinh chủ nghĩa ở cái lõi nhân bản – trung tâm hứng thú trong triết học của
họ: Con người là một thực thể hiện sinh, nó tự biết mình là ai, đang ở đâu, cần và sẽ
phải làm gì.
Thật vậy.
Trong khi quả quyết rằng Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản, Jean-
Paul Sartre viết: “Con người, không chỉ như anh ta tự quan niệm, mà còn như anh ta muốn,
như anh ta tự quan niệm sau khi đã sống, và như anh ta muốn sau khi đã ao ước sống; con
người không là gì khác ngoài cái mà bản thân anh ta tự làm nên. Đó là nguyên tắc đầu tiên
của thuyết hiện sinh. Đó cũng là cái mà người ta gọi là tính chủ thể”
(1)
. Và cũng chính ông
giải thích: “Theo chúng tôi, trước hết con người tồn tại, có nghĩa là trước hết con người
hướng tới tương lai, đồng thời có ý thức về sự hướng tới tương lai đó. Con người trước hết
là một dự án (project) tự tồn tại chủ quan, chứ không như một đám rêu, một vật đang thối
rữa, hoặc một cây súp lơ […]”
(2)
cũng có thể dễ dàng nhận ra dấu vết luận điểm triết học quan trọng, nổi tiếng này trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp qua thế giới nhân vật của anh.
Ý thức về chủ thể, thái độ dấn thân, lựa chọn, hành động của con người trước những
tình huống, hoàn cảnh cụ thể… chủ yếu để lại dấu vết qua hai loại nam nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Loại thứ nhất thường là những anh hùng, danh nhân, thiên
tài,… có vai trò, khả năng tác động đến lịch sử, tập tục, văn hóa, trong một chừng mực nào
đó, họ “là những kẻ có khả năng xô dạt quần chúng về cả một phía” (Những bài học nông
thôn)
(3)
, nhưng lại đành để cho lịch sử quyết định số phận của mình, theo qui luật lạnh lùng
của nó. Nguyễn Du – Vàng lửa, Quang Trung và Nguyễn Ánh – Kiếm sắc, Phẩm tiết,
Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ, Trần Tế Xương – Thương cả cho đời bạc,… thuộc loại này.
Loại thứ hai thường là hạng đàn ông bặm trợn, giàu quái tính như Bường – Những người
thợ xẻ, Đoài, lão Kiền – Không có vua, trùm Thịnh – Chảy đi sông ơi, huyện Thặng – Chút
thoáng Xuân Hương,… Loại nhân vật này, nhiều khi chiếm vị trí trung tâm trong truyện
ngắn của Thiệp, đều có chất “nổi loạn” của con người cá nhân cực đoan, bướng bỉnh sống
theo các quan niệm, triết lí của mình; tuy rằng trong những quan niệm, triết lí đó, không ít
điều chỉ là ngụy tín (mauvaise foi)
(4)
.
Thứ ba, theo các nhà hiện sinh chủ nghĩa, ý thức về chủ thể của con người, cũng
luôn có mặt thái quá của nó. Nếu dựa trên các ngụy tín, ý thức này có thể đưa con người tới
chỗ hành động cực đoan, lầm lạc, mang tính chất “nổi loạn”. Tuy nhiên, cho dẫu thế, những
hành động cực đoan, lầm lạc này dù muốn dù không vẫn cần phải nhìn nhận như là biểu
hiện của ý thức cao về bản thể. Nhiều nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, nhất là nhân vật nữ
có những biểu hiện “nổi loạn” rất mạnh mẽ.
Hiện thân cho tinh thần “nổi loạn” – mà rõ nhất và chủ yếu: “nổi loạn” trong hưởng
thụ hạnh phúc, tình yêu, tình dục – trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là ba loại nhân vật
nữ, ba mẫu người. Loại thứ nhất, không phổ biến nhưng lại là mẫu người rất nổi bật trong
truyện của anh. Tiêu biểu là người đàn bà tên Phượng trong Con gái thủy thần. Nhân vật nữ