thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn cô con gái ngỗ ngược của võ diệu thanh - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHXH & NV

BỘ MÔN NGỮ VĂN
------------

ĐỖ MINH CHÂU

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TẬP
TRUYỆN NGẮN CÔ CON GÁI NGỖ
NGƯỢC CỦA VÕ DIỆU THANH
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn:

Ths. GV BÙI THANH THẢO

CẦN THƠ – 4/2011


ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích của đề tài
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:



1.Lí do chọn đề tài
Sau năm 1975, nền văn học Việt Nam thực sự có rất nhiều khởi sắc. Trên nền thời đại
bộn bề “đa sự, đa đoan” ấy [14, tr.1], văn chương vẫn hút nhựa từ cuộc sống để đem lại
những sáng tác đa diện. Và khi nhắc đến văn học Đồng Bằng Sông Cửu Long, ta thật khó có
thể quên hình ảnh những con người chất phác hồn hậu, hình ảnh những cánh đồng lúa chín
vàng và con sông tươi mát trải dài qua nhiều đời, nhiều thế hệ. Với những hương sắc riêng,
truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay thật sự đã góp phần tạo nên sự đa dạng và
phong phú cho nền văn học dân tộc "Đồng bằng sông Cửu Long là vùng khó khăn nhất, xa
nhất, nhưng lại làm được nhiều nhất và luôn đi tiên phong..." - Đó là lời khen ngợi chân tình
của nhà thơ Hữu Thỉnh tại Bàn tròn Văn xuôi Đồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ nhất [17 ,tr.
1].
Như một sự tình cờ, cuộc thi văn học tuổi 20 gần đây đã cho bạn đọc biết đến cái tên
Võ Diệu Thanh với tập truyện ngắn “Cô con gái ngỗ ngược”. Võ Diệu Thanh là một nhà
văn của tỉnh An Giang, của miền Đồng bằng như vậy như vậy.
Nhưng phải đặt ra lí do khi trước nhìn nhận một ngòi bút trẻ như nhà văn Võ Diệu
Thanh sẽ viết và nói những gì trong buổi văn chương đang vàng thau lẫn lộn (xu thế bạn đọc
thích các tác phẩm nghiêng về tính dục, mua vui… đang ngày một nhiều hiện nay). Có gì ẩn
chứa và dấu kín chưa ai khám phá không? Ta phải nhìn nhân một tác phẩm văn học như thế
nào cho đúng đắn, đặc biệt là về thế giới nhân vật - một phương diện rất quan trọng trong một
sáng tác nghệ thuật. Với tập truyện ngắn này, tác giả gởi đến bạn đọc những thú vị và mới mẻ
được thể hiện qua cách nhìn nhận về con người với các nhân vật đa dạng, sống động. Sống
chất phác và hồn hậu, nhưng văn chương lại dữ dội và sâu sắc, nhà văn trẻ Võ Diệu Thanh còn
cho chúng ta thấy một ngòi bút có nội lực mạnh. Và chị là một gương mặt ấn tượng trong giải
thưởng văn học tuổi 20 lần IV.
Với người viết, đề tài khám phá về thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn này cũng là
một bài học mới. Sự khám phá mới lạ “những điều vốn đã cũ”, những bí ẩn về buồn vui của
muôn kiếp người đã đi qua, đã kết thúc về thân xác, nhưng những thứ thuộc về tinh thần thì
tồn tại mãi mãi. Người viết muốn biết được những cảm xúc phức tạp và thú vị về con người

của nhà văn. Đã có những nhân vật trong văn học Việt Nam trở nên quen thuộc như một phần
của cuộc sống. Dù rằng, nhân vật chỉ là những hình tượng trong tác phẩm, được xây dựng lại
từ những con người ở bên ngoài và mang những tính chất đặc thù tùy vào ý đồ của tác giả,


nhưng nhân vật cũng có thể so sánh như những giá trị quý báu mà không dễ gì tìm thấy được.
Xây dựng được một hay nhiều nhân vật có sức sống và tầm ảnh hưởng luôn là nơi mà các nhà
văn muốn hướng đến.
Trong quá trình tìm hiểu về tài liệu có liên quan đến “nhân vật” của những người
nghiên cứu trước, người viết nhận thấy “thế giới nhân vật” là một vấn đề đòi hỏi có một sự
khái quát cao và chiều sâu nghiên cứu. Bởi khi tìm hiểu về thế giới nhân vật trong những sáng
tác của một tác giả hay một giai đoạn nào đó, đề tài sẽ cho chúng ta có những cái nhìn khái
quát không những về đóng góp hay tài năng của nhà văn mà còn là ý nghĩa biểu hiện của nhân
vật về tư tưởng và thời đại. Đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về “thế giới nhân vật” ở nhiều
tác giả khác nhau:
Người viết đã tìm thấy bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huệ Chi: “Nguyễn Du và thế
giới nhân vật trong thơ chữ Hán” trên trang nguyenhuechi.free.fr. Tác giả đã nghiên cứu một
góc nhìn mới mẻ về nhân vật trong thơ chữ Hán ở các tác phẩm như: Truyện Kiều, Long thành
cầm giả ca, Phản chiêu hồn, Xuân dạ, Ngẫu hứng, Độc tiểu Thanh ký, Mộng đắc thái liên,
Hoàng Sào binh mã, Kinh Kha cố lý…. Xuyên suốt ở những bài thơ ấy là phát hiện về con
người cùng với sự lí giải về bế tắc trong tư tưởng theo thuyết tài mệnh của ông. Song cũng
chính bằng tình cảm của một người nghệ sĩ yêu thương và cảm thông đã giúp Nguyễn Du phát
hiện ra cái đẹp rực rỡ của tạo vật và con người, cũng như làm cho ông thao thức không

nguôi trước mọi nỗi thống khổ của quần chúng. Ngoài ra, bài nghiên cứu đã khẳng định
được giá trị và sức sống của hầu hết các tác phẩm Nguyễn Du sáng tác. Tuy nhiên vì đây là
bài nghiên cứu về thế giới nhân vật trong các tác phẩm trung đại ở trong thơ, nên những
nhân vật ấy đã mang tính chất cố định, khi tìm hiểu về nhân vật trong truyện ngắn của một
tác phẩm đương đại, người viết cần một cái nhìn gần gũi hơn, dù sao đó cũng là một tài
liệu thiết thực.

Trong “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan”
đăng bởi tác giả Hương Phạm (19) đã lấy nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của ông
phân tích và khám phá tâm hồn, tích cách con người. Qua đó nắm bắt được tư tưởng của nhà
văn từ tư tưởng của nhân vật. Đồng thời cũng qua nhân vật, nhà văn bày tỏ những quan niệm,
suy tư trăn trở về thế sự. Luận văn đã cho bạn đọc nhận ra quan điểm nhân sinh mới mẻ, nhận


ra con người và cá tính của nhà văn trong văn học. Như vậy, với tài liệu này, người viết đã có
thêm cơ sở để hình thành hướng đi cho đề tài của mình.
Trong luận văn: “Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh”, của tác giả Phạm
Quỳnh Dương, trường ĐHKHXH &NV thuộc Đại học quốc gia Hà Nội (5) đã nghiên cứu khá
khái quát thế giới nhân vật ở cả tiểu thuyết và truyện ngắn của Tạ Duy Anh. Luận văn đã trình
bày sự đổi mới trong sáng tác, quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả cùng một thế
giới nhân vật cũng hết sức đa dạng (nhân vật ác quỷ, nhân vật thiên thần, nhân vật cô đơn
trong cõi người, nhân vật phi lí và nhân vật bi kịch), qua đó luận văn cũng khẳng định tài năng
và tầm quan trọng không nhỏ của tác giả Tạ Duy Anh trong nền văn xuôi đương đại. Như vậy,
luận văn này đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn tổng quan hơn khi nghiên cứu về đề tài
“thế giới nhân vật”. Với người viết đó còn là một bài học quý báu khi biết rằng quan niệm
nghệ thuật chi phối rất lớn cách xây dựng nhân vật của tác giả.
Với luận văn “Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và
Đỗ Hoàng Diệu” của tác giả Lê Thị Tuyết, trường ĐHKHXH &NV thuộc Đại học quốc gia
Hà Nội (28) đã nghiên cứu đến những tác giả trẻ có những tác phẩm gây tiếng vang gần đây.
Luận văn đã tập trung tìm hiểu về hệ thống nhân vật trong truyện ngắn từng tác giả để thấy
điểm khác biệt trong cách xây dựng nhân vật của họ, đồng thời đặc biệt nhấn mạnh đến sự
tương đồng trong các kiểu nhân vật nữ – là điểm chung thể hiện màu sắc nữ quyền đầy tiến bộ
trong truyện ngắn của ba nữ nhà văn. Như vậy đây là một tài liệu vừa nghiên cứu vừa so sánh
và đối chiếu những tác giả với nhau, giúp bạn đọc có thêm một góc nhìn bao quát và gần gũi
hơn với các thế hệ nhà văn trẻ.
Có thể nói đề tài “thế giới nhân vật” đã được nhiều người nhà nghiên cứu và thể hiện
quan niệm đa dạng với mỗi nhà văn khác nhau Với những bài nghiên cứu trên, các tác giả đều

so với các khái niệm, lí thuyết trước đây. Qua đó củng cố và nắm vững một số kĩ năng về kiến
thức lí luận văn học nói chung và khái niệm lí luận về nhân vật nói riêng. Từ đấy biết nhận
diện, khai thác, bổ sung và áp dụng những nền tảng đã có cho các vấn đề mà người viết nghiên
cứu.
Về thái độ, đề tài sẽ giúp người viết có thái độ khách quan, khoa học trong việc tiếp
nhận văn học.


Khẳng định những đóng góp dù con mới mẻ của cây bút trẻ Nguyễn Diệu Thanh trong
việc thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong tiến trỉnh phát triển của văn của văn
học Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Đề tài còn là một đóng góp và khẳng định cho những khởi sắc của văn học miền Tây
“đi trước về sau” [23, tr. 150] thời gian gần đây qua cây bút trẻ Võ Diệu Thanh.

4. Phạm vi của đề tài
Xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho người viết biết được mình sẽ
nghiên cứu vấn đề gì, trong phạm vi liên quan nào. Như vậy sẽ tránh được tình trạng đi không
đúng hướng. Trên những cơ sở ấy, người viết xác định:
Về đối tượng nghiên cứu: người viết sẽ nghiên cứu các loại hình nhân vật trong tập
truyện ngắn “Cô con gái ngỗ ngược”. Bên cạnh đó để hiểu sâu sắc hơn cái khái niệm, cũng
như những yếu tố về con người, người viết có liên hệ với những tài liệu khác để hiểu rằng ở
mỗi thời đại, nhân vật và quan niệm của tác giả sẽ có những cách nghĩ khác nhau, nhưng đều
hướng về giá trị nhân văn cao đẹp.
Quá trình nghiên cứu người viết còn tham khảo tạp văn của tác giả. Ngoài ra người viết
còn khảo sát thêm một số truyện ngắn khác.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để xây dựng và triển khai luận văn theo đúng hướng và đúng yêu cầu của đề tài, cần
phải xác định được một phương pháp nghiên cứu thích hợp, khoa học. Trong quá trình tập hợp
tư liệu từ các bài viết, cùng với việc sắp xếp và trình bày có hệ thống những nhận xét, ý kiến

dẫn dắt độc giả vào các môi trường khác nhau của đời sống. Nhân vật văn học còn thể hiện
quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mỹ của nhà văn và con người. Vì thế nhân vật luôn gắn
chặt với chủ đề của tác phẩm. Nhân vật văn học được miêu tả qua biến cố, xung đột, mâu
thuẫn và mọi chi tiết các loại. Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật
này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với nhân vật khác. Cho nên nhân vật gắn liền
với cốt truyện. Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn, nên khác với hình tượng hội họa
và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong
không gian, thời gian, mang tính chất quá trình.

1.1.1.2. Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn chương
bằng phương tiện văn học
Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm
bằng các phương tiện văn học. Đó là những nhân vật có tên như Chí Phèo, Thị Nở, Nguyệt,
Lãm, Thúy Kiều, Kim Trọng… Đó còn là những nhân vật không tên như anh thanh niên trong
“Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long, nhân vật người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài
xa” của Nguyễn Minh Châu. Hay gần gũi chúng ta hơn là nhân vật vợ của Tràng trong tác
phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân. Những nhân vật hoàn toàn không có một cái tên cụ thể nào cả.
Nhân vật văn học còn là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao
gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật nhưng lại mang nội dung và ý nghĩa con
người. Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau. Đó có thể là những
con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường
thấy trong tác phẩm tự sự, kịch. Đó có thể là những người thiếu hẳn cả nét đó, nhưng lại có
tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý
nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình. Nhân vật trong thơ lại có thể xuất hiện
với đại từ “tôi” hoặc hiện ra thấp thoáng như ông câu trong bài “Thu điếu” của Nguyễn
Khuyến, hoặc như “thuyền” và “biển” trong tác phẩm cùng tên “Thuyền và biển” của Xuân
Quỳnh.


Nhân vật văn học còn là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để ta

thẩm mỹ chứ không phải là một hiện tượng xã hội học. Ta có nhìn thấy qua nhìn thấy đằng
sau số phận nàng Kiều là những khái quát của đại thi hào Nguyễn Du về tài mệnh, tài- tình
trong xã hội lúc bấy giờ. Đằng sau tác phẩm “Đời thừa” của nhân vật Hộ không chỉ là sự
thiếu thốn của miếng cơm manh áo mà con là một bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản
đương thời.
Tóm lại, văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn
học miêu tả thế giới một cách hiện tượng. Bản chất văn học là một quan hệ đối với đời sống,
nó chỉ tái hiện được đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương
của cuộc đời.

1.1.1.3. Nhân vật là phương tiện khái quát hiện thực
Chức năng của nhân vật là khái quát quy luật cuộc sống con người, những suy nghĩ,
ước ao, kì vọng của con người. Cho nên nhà văn xây dựng nhân vật là thể hiện những cá nhân
xã hội nhất định và quan niệm đánh giá về cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phương tiện
khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng. Nhà văn xuất phát từ
những con người trong đời sống để xây dựng nhân vật văn học, song không thể đồng nhất
nhân vật văn học với con người của đời sống, vì nhân vật là sáng tạo của nhà văn.
Nhân vật còn là phương tiện khái quát tính cách số phận con người, tính cách nhân vật
là một hiện tượng xã hội lịch sử xuất hiện trong một hiện thực khách quan. Qua đó nhân vật
dẫn dắt ta đến với đời sống xã hội. Ta đến với ví dụ về những nhân vật quen thuộc: nhân vật
Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao. Qua nhân vật này, ta đã thấy được bộ mặt
thật của xã hội phong kiến đương thời được phơi bày một cách cụ thể và chân thực. Xã hội mà
những con người bản chất vốn trong trắng thật thà như Chí Phèo đã không thể tồn tại. Và cũng
không còn chốn dung thật cho Chí Phèo khi muốn trở về làm một người lương thiện. Đó là
một sự khái quát hiện thực rất lớn mà nhà văn Nam Cao đã thể hiện xuất sắc qua nhân vật Chí
Phèo.

1.1.1.4. Những nét đặc trưng của nhân vật trong tác phẩm văn học
Biểu hiện nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng:


ly bản quán, không còn coi ra gì những trật tự, chuẩn mực được mọi người trong làng mặc
nhận.

1.1.2. Các kiểu loại nhân vật
Trong quá trình lịch sử văn học, có bao nhiêu nhân vật là có bấy nhiêu đường nét, diện
mạo, số phận, tích cách khác nhau, bởi lẽ mỗi nhân vật là một sáng tạo độc đáo của nhà văn.
Tuy nhiên nếu đặt trong cái nhìn hệ thống cũng có thể thấy những kiểu loại nhất định. Trong
mỗi giai đoạn lịch sử, nhân vật trong văn học lại được thể hiện gắn liền với những quan niệm
nhất định.
Ví dụ tác phẩm “Thủy Hử” của Thi Nại Am gồm hơn 400 nhân vật. Tác phẩm “chiến
tranh và hòa bình” của L.Tônxtôi gồm hơn 570 nhân vật.

1.1.2.1. Nhân vật nhìn từ góc độ thể loại
Với góc độ thể loại, ta chia ra bao gồm: nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân
vật phụ.
Nhân vật chính là những nhân nhân vật liên can đến các sự kiện chính, các xung đột,
hành động chủ yếu của tác phẩm, thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
Nhân vật chính giữ vị trí then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện. Được khắc
họa tương đối đầy đặn trên các mặt ngoại hình, nội tâm, tính cách, quá trình phát triển.
Ví dụ trong Truyện Kiều nhân vật chính là Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng…. Trong
tác phẩm “Trăng sáng” của Nam Cao là nhân vật Điền.
Khái niệm nhân vật chính đôi khi được mở rộng để chỉ một loại nhân vật có ý nghĩa
tiêu biểu cho toàn bộ sáng tác của một tác giả hay loại nhân vật có ý nghĩa nổi bật về mặt tư
tưởng, thẩm mỹ trong văn học một thời đại nào đó. Tìm hiểu nhân vật chính của nhà văn sẽ
giúp người đọc hiểu được tư tưởng, khát vọng và suy tư của họ trước cuộc đời.
Ví dụ như nhân vật chính trong các sáng tác của Nam Cao là những số phận bi kịch bị
tha hóa dù đó là người nông dân hay trí thức. Nhân vật chính của Nguyễn Tuân lại là những
con người mang vẻ đẹp tài hoa, khí phách. Nhà văn Thạch Lam thì chú ý đến thế giới những
con người bé nhỏ, những số phận mòn mỏi trong một góc khuất của cuộc sống.




Hạt nhân của loại nhân vật chức năng chính là các vai trò và chức năng mà chúng thực
hiện trong truyện và trong việc phản ảnh đời sống. Với những đặc điểm nêu trên, nhân vật
chức năng dễ dàng trở thành sự tượng trưng trong đời sống tinh thần, và được hình thức hóa
trong các sáng tác tiếp theo. Những vai trung, vai nịnh trong văn học cổ, tuồng đều ít nhiều
mang tính chất chức năng như vậy. Vai trung thực hiện đạo lí, cương trực, vai nịnh gièm pha,
phản trắc, hãm hại người tốt… Phân tích các nhân vật này cần tìm hiểu các vai trò và chức
năng mang nội dung xã hội thẩm mĩ của chúng. Có như vậy chúng ta mới hiểu được các nhân
vật như anh chàng ngốc, mụ phù thủy, quái vật, hay người đẹp và anh hùng trong truyện.
Trong văn học từ Phục hưng trở đi, nhân vật mặt nạ thường là nhân vật hoạt động chức năng
một chiều hoặc có bề ngoài không đổi để che đậy một cái khác bên trong.
Nói tóm lại, nhân vật chức năng được giao nhiệm vụ thực hiện một số chức năng nào
đó cố định trong tác phẩm và trong việc phản ánh đời sống.
Nhân vật chức năng không được miêu tả đời sống nội tâm và chủ yếu được thể hiện ở
hành động bề ngoài và có tính cách không thay đổi từ đầu đến cuối tác phẩm
Nhân vật chức năng chỉ xuất hiện ở chức năng mà nó đảm nhiệm và hành động gần như
theo một công thức đã vạch sẵn. Do đặc điểm trên nên các nhân vật chức năng dễ trở thành
các tượng trưng cho đời sống tinh thần và được hình thức hóa trong sáng tác.

1.1.2.2.2. Nhân vật loại hình
Lênin nói: “Khái niệm loại là bản chất của giới tự nhiên, là quy luật”.[13,tr. 300]. Do
phản ảnh các loại phẩm chất, tính cách phổ biến mà phân loại hình thường được sử dụng như
những danh từ chung để chỉ các sự vật cùng loại.
Thế nên nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã
hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời. Đó là nhân vật nhằm khái quát cái
chung về loại của các tính cách và nhờ vậy mà được gọi là điển hình. Acpagong của Môlie thể
hiện tập trung cho thói keo kiệt. Tactuyp thể hiện tập trung cho thói đạo đức giả, ông Giuocđanh cũng của Môlie là hiện thân cho thói phù phiếm, hiếu danh của các gã tư sản muốn làm
quý tộc. Với văn học Việt Nam, đó còn là nhân vật Nghị Quế, Bá Kiến… tiêu biểu cho bọn
quan lại địa chủ, nhưng mỗi nhân vật vẫn có nét tính cách riêng không lẫn với những người

nó. Về cơ bản nhân vật Chí Phèo của Nam Cao là một tính cách. Nhân vật Chí Phèo sau khi ra
tù trở về được xem như là một con người bỏ đi bên lề của xã hội, Chí Phèo cũng có những


cảm nhận nội tâm của một con người bình thường, khao khát một mái ấm gia đình đơn giản,
cũng biết rung động vì một bát cháo hành, và cũng biết cất tiếng nói làm người lương
thiện...Đó là một cá tính phức tạp, và có nhiều nghịch lí. Không thể dễ dàng quy Chí Phèo là
hoàn toàn xấu xa ghê tởm hay một con là một con người bình thường. Trong Chí Phèo có tất
cả sự mâu thuẫn của cả một quá trình vận động tâm lí. Yếu tố nhân vật tính cách có thể tìm
thấy trước đây trong văn học cổ đại, nhưng phải đến khi xuất hiện chủ nghĩa hiện thực thì
nhân vật tính cách mới hình thành rõ nét. Hamlét, Ôtenlô, Macbet của Sếcxpia đã là những
nhân vật tính cách.
Trong nhân vật tính cách, cá tính rất nổ bật. Yếu tố tâm lí, khí chất có vai trò rất quan
trọng trong cấu trúc nhân vật. Đó là “con người này”, độc đáo, cá biệt, cụ thể như HêGhen
từng nói. Đồng thời là nhân vật vận động phát triển. L.Tônxtôi ví con người tính cách “như
dòng sông”. Ông nói : “Người ta ở đời đều sống và hành động một phần theo ý kiến của
mình, một phần theo ý kiến của người khác. Một trong những điều kiện căn bản phân biệt
người này và người khác là mức độ họ sống theo ý kiến của mình và ý kiến của người khác
đến đâu” [27,tr. 183]. Nếu ở nhân vật loại hình, khái niệm loại là hạt nhân của nhân vật thì ở
nhân vật tính cách, hạt nhân của nó là cá tính. Cá tính là giới hạn kết tinh các bản chất xã hội
của tính cách. Bất kì ở đâu, một tính cách như Thúy Kiều, hay Chí Phèo… không thể là phổ
biến. Nhưng cái quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, các xung đột trong nội bộ tính cách tự
chúng là có ý nghĩa phổ biến, phơi bày một quan niệm về quan hệ giữa con người và hoàn
cảnh. Tính cách còn có một hạt nhân là sự thống nhất của cá tính và cái chung xã hội lịch sử.
Nhưng người ta chỉ gọi là tính cách những người mà sự thống nhất kia biểu hiện một cách nổi
bật các phẩm chất xã hội lịch sử của nó. Tính cách ấy là hiện tượng nổi bật của đời sống con
người. Trong “Nghệ thuật thi ca”, Aristốt viết :“Tôi hiểu tính cách là cái lí do mà chúng ta
gọi nhân vật bằng một tên nào đó”.[1, tr. 135]. Nhân vật sẽ là có tính cách, nếu trong lời nói
hay hành động bộc lộ một khuynh hướng ý chí nào đó, bất kể là nó tốt hay nó xấu như thế nào.
Trong các tính cách bao giờ cũng cần tìm thấy một tính tất yếu hay một tính khả nhiên, mà

nhân vật “quỷ sứ” như Manforet, Cain, Luxife của Bairon, Giang Vangiang, Giave của
Huygo, Andray cua L.Tônxtôi, Racônhicôp của Đôntôepxki. Giave hoạt động theo ý niệm
phụng sự pháp luật nhà nước, còn Giang Vangiang thì hoạt động theo tư tưởng nhân đạo
phụng sự con người. Racônhicốp hành động theo tư tưởng nổi loạn vô chính phủ chống lại
tình trạng con người bị chà đạp, bị bỏ rơi và không lối thoát. Nhân vật người điên trong “Nhật


kí người điên” của Lỗ Tấn cũng là nhân vật tư tưởng. Đó là hiện thân cho bản thân tư tưởng
lên án lễ giáo “đạo đức nhân nghĩa”, “ăn thịt người” của phong kiến trung cổ. Tôn Ngộ
Không trong Tây Du Kí lại là nhân vật mang tư tưởng nổi loạn đòi tự do, là hiện thân cho sức
mạnh và trí tuệ chống lại cái ác trong xã hội đương thời. Nhân vật Đạm Tiên phát ngôn cho tư
tưởng tài mệnh tương đố của Nguyễn Du. AQ của Lỗ Tấn là nhân vật của “chủ nghĩa AQ”,
một di sản tư tưởng tai hại đối với quốc dân Trung Quốc đầu thế kỉ này. Nhân vật Cha Thư
trong tiểu thuyết “Cha và con” của Nguyễn Khải, nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Bức tranh
của Nguyễn Minh Châu cũng là những nhân vật tư tưởng. Không thể xem trường hợp trên là
điển hình của cha cố hay trường hợp dưới là điển hình của họa sĩ. Nhân vật loại này cũng thể
hiện một tính cách, nhưng cái chính là một hiện tượng tư tưởng diễn ta trong đời sống.
Nhân vật tư tưởng trong văn học cổ và văn học lãng mạn thường mang tính chất tượng
trưng, trong chủ nghĩa hiện thực lại kết hợp mật thiết với yếu tớ tính cách loại hình. Trong
sáng tác, loại nhân vật này dễ rơi vào công thức, minh học, trở thành cái loa tư tưỡng của tác
giả.
Như vậy nhân vật tư tưởng giữ chức năng bộc lộ một tư tưởng. Nhân vật giữ vai trò
phát ngôn hoặc tuyên truyền cho tư tưởng nào đó của các tác giả hoặc tư tưởng của một thời
đại.
Đó là hệ thống phân chia nhân vật theo lí thuyết đã được nghiên cứu từ trước về những
loại nhân vật thường gặp. Tất nhiên cũng còn nhiều cách phân chia và cách hiểu khác nhau tùy
theo người nghiên cứu, và trong văn học cũng còn có thể gặp một số kiểu nhân vật khác nữa.
Các loại nhân vật trên đây tuy xuất hiện không đồng đều trong lịch sử văn học nhưng có thề
tồn tại song song trong một nền văn học, thậm chí trong cùng một tác phẩm. Chúng ta cần
phải ý thức hết sự đa dạng của cấu trúc nhân vật và các khả năng phản ảnh hiện thực của

thấy đối lập đó trong các hệ giữa Lí Thông và Thạch Sanh, Tấm và Cám, Lục Vân Tiên và
Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, chị Dậu và vợ chồng nghị Quế, Mị, A Phủ và bố con thống lí Pá Tra;
chị Sứ và dân Hòn Đất với thằng Xăm và lũ ác ôn Mĩ ngụy. Đó là sự đối lập của nhân cách, lí
tưởng, lẽ sống. Cái khéo léo của tác giả là làm sao cho các nhân vật đới lập thù địch có quan
hệ với nhau, ràng buộc nhau ở phương diện nào đó, và do đó mà đối lập càng thêm gay gắt.
Chẳng hạn kết là anh em, cùng quan hệ huyết thống, cùng chung lí tưởng, chung đối tượng
tranh chấp, hoặc loại trừ nhau vì mối thù. Quan hệ đối lập thường loại trừ nhau một mất một
còn, và thường là cơ sở để tạo thành các tuyến nhân vật của tác phẩm.


Quan hệ đối chiếu, tương phản làm nổi bật sự đối lập và khác biệt của các nhân vật. Đó
là thầy trò Đôn Kihôtê và Sanxô Pansa của Xecvantec: một người cao và gầy; môt người thấp
và béo. Một người bị đầu độc bởi những hoang tưởng của tiểu thuyết hiệp sĩ; một người có trí
óc lành mạnh. Một người có lí tưởng cao xa; một người thực dụng, thiển cận. Cả hai thầy trò
như hai tấm gương soi chiếu lẫn nhau. Đó còn là Saclo và Emma trong Bà Bôvari. Một người
đần độn, thỏa mãn, nhút nhát, một người thông minh, đầy khao khát và táo tợn liều lĩnh. Ta
còn thấy sự tương phản đó trong các quan hệ giữa Giang vangiăng và cha Mirien, Giang
vangiăng và Tenacđiê, Giang vangiăng và Giave trong “Những người khốn khổ”. Sự tương
phản làm cho các cặp đối lập, khác biệt hiện ra gay gắt.
Đối chiếu là một mức độ thấp hơn của tương phản. Chẳng hạn đối lập Thúy Kiều và
Thúy Vân trong Truyện Kiều. Đối chiếu tương phản là nguyên tắc kết cấu hết sức phổ biến.
Nó chẳng những làm nổi bật các nhân vật khác tuyến mà con làm cho các nhân vật cùng tuyến
càng trở nên sắc nét. Ta có thể thấy rõ qua sự tương phản của tính khí ba anh em Lưu Bị,
Quan Vũ, Vân Trường trong “Tam quốc chí diễn nghĩa”; Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới,
Đường Tam Tạng trong “Tây du kí”; anh Dậu và chị Dậu, cái Tí và thằng Dần, lí trưởng và
quan phủ trong “Tắt đèn”.
Quan hệ bổ sung là quan hệ của các nhân vật cùng loại, nhằm mở rộng phạm vi của
một loại hiện tượng. Bên cạnh AQ còn có cu Don, Vương râu xồm, vú Ngò trong “AQ chính
truyện”. Bên cạnh chị Dậu còn có binh Chức, Năm Thọ, anh Dậu, cái Tí, cái Tỉu, thằng Dần
đều là nhân vật bổ sung vào gánh nặng của chị. Ta còn thấy thêm chị Hoàng, con chó becgie

Tác giả bắt đầu viết cũng là để bày tỏ những ẩn ức, phiền muộn không nói được với ai.
Đã có lúc nhà văn bận bịu nhiều thứ của một người phụ nữ có gia đình nên định từ bỏ văn
chương (trong đó có cả ý nghĩ tác giả không có năng khiếu). Thế nên có một thời gian dài suốt
chín năm tác giả đã không viết gì, đến năm 2002 mới viết trở lại. Giữ trong lòng với suy nghĩ
:“Biết là viết không bằng ai nhưng nếu ngừng lại sẽ ngày càng tụt hậu nên mình phải quyết
kiên trì.” [24, tr.1]. Cho nên dù có bị chê viết dở, Võ Diệu Thanh càng viết dữ dội hơn, dù
rằng việc viết văn của tác giả cũng không được gia đình ủng hộ.
Hiện nay tác giả đang là giáo viên dạy mỹ thuật ở trường tiểu học C, Chợ Vàm, Phú
Tân, An Giang.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status