Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn đất khách của lý lan - Pdf 31

Trng HSP H Ni 2

Khúa lun tt nghip

Trờng đại học s phạm hà nội 2
Khoa ngữ văn
*************

Phm Th Hong Lan

TH GII NHN VT TRONG TP
TRUYN NGN T KHCH
CA Lí LAN

KHO LUN TT NGHIP I HC

Chuyờn ngnh: Lý lun vn hc

H NI - 2010

Phm Th Hong Lan

Lp K32E - Ng vn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN



Phạm Thị Hoàng Lan

1

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài .............................................................................. 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 6
5. Đóng góp của khóa luận ......................................................................... 6
6. Cấu trúc khóa luận .................................................................................. 6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUËN
1.1. Quan niệm về nhân vật và thế giới nhân vật ......................................... 8
1.1.1 Khái niệm nhân vật ........................................................................ 8
1.1.2. Thế giới nhân vật......................................................................... 10
1.2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học...................................... 11
1.3. Các cách phân loại nhân vật văn học.................................................. 13
1.4. Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật ...................................... 14
1.4.1 KÕt cÊu ....................................................................................... 14
.

Ngữ văn lp 7, tp mt ca Vit Nam. Nhng gii thng ó c trao tng
cựng vi con ng sỏng tỏc khụng mt mi ó phn no khng nh v th
ca Lý Lan trong lũng c gi cng nh trong i sng vn hc.
Lựa chọn con đường sáng tác chưa lâu song Lý Lan cú mt khi lng
tỏc phm tng i ln. Ngoi nhng tỏc phm k trờn, nhà văn cũn cú 23 tỏc
phm khỏc xut bn: Ni bỡnh yờn chim hút (1986), Chỳt lóng mn trong
ma (1987), Hi lng ốn (1991), Chiờm bao thy nỳi (1991),

Phm Th Hong Lan

4

Lp K32E - Ng vn


Trng HSP H Ni 2

Khúa lun tt nghip

Truyn (1992), Nhng ngi ln (1992), t khỏch (1995) ... v mi
õy nht l l tp truyn ngn Hi xuõn (Nxb Vn Ngh, 2009).
Văn hào Nga vĩ đại Macxim Gorki đã từng khẳng định Văn học là nhân
học, điều này cũng đồng nghĩa với việc coi văn học là nghệ thuật miêu tả và
biểu hiện con người.Thực tiễn cho thấy, trước nay tất cả những gì liên quan tới
con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học.
Để có thể miêu tả con người và Thế giới một cách hình tượng, văn học phải
mượn tới một hình thức cơ bản nhất đó là nhân vật.
Mt iu c bit quan trng v cú ý ngha na i vi tỏc gi khúa lun
cng l mt giỏo viờn dy vn ngng ca tng lai ú l: Thụng qua vic
nghiờn cu th gii nhõn vt trong t khỏch ngi vit s cú c hi tt

truyn ngn t khỏch.
4.2. Phm vi nghiờn cu
Phm vi nghiờn cu ca khúa lun l tp truyn ngn t khỏch.
5. Phng phỏp nghiờn cu
Khúa lun s dng ch yu mt s phng phỏp:
- Phng phỏp h thng
- Phng phỏp phõn tớch
- Phng phỏp so sỏnh.
6. úng gúp ca khúa lun
Tỡm hiu Th gii nhõn vt trong tp truyn ngn t khỏch ca Lý
Lan, mt mt lm rừ hn nhng vn v nhõn vt, ngh thut xõy dng nhõn
vt núi chung v trong truyn ngn núi riờng. Qua ú gúp phn khng nh ti
nng, sc sỏng to a dng ca Lý Lan trong nn vn hc ng i.
7. B cc khúa lun
Ngoi phn M u, Kt lun, Ti liu tham kho, ni dung ca khúa
lun c trin khai thnh ba chng nh sau:

Phm Th Hong Lan

6

Lp K32E - Ng vn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Chương 1: Cơ sở lí luận.
Chương 2: Thế giới nhân vật trong tập truyện ngắn “Đất khách”

sống xã hội – chính trị lẫn đời sống sinh hoạt hằng ngày…Nhưng trong phạm
vi nghiên cứu của khóa luận chúng tôi chỉ đề cập đến khái niệm nhân vật theo
nghĩa thứ nhất mà bộ “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa như trên tức là nhân vật
trong tác phẩm văn chương.
Cuốn “Lý luận văn học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004 do tác giả
Phương Lựu chủ biên, định nghĩa về nhân vật văn học: “Nói đến nhân vật văn
học là nói đến con người được miêu tả thể hiện trong tác phẩm, bằng phương
tiện văn học. Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ trong Truyện
Kiều … Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao

Phạm Thị Hoàng Lan

8

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý
nghĩa như con người … Khái niệm nhân vật có khi chỉ được sử dụng một
cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi
bật trong tác phẩm … Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ,
có những dấu hiệu để nhận ra” [tr 277 - 278].
Trong cuốn giáo trình “Lý luận văn học”, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1993
do giáo sư Hà Minh Đức chủ biên, các tác giả cuốn này cho rằng: “Nhân vật
văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự
sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện

tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người
hoặc những con vật, đồ vật, sự vật hiện tượng mang linh hồn con người là
hình ảnh ẩn dụ của con người. Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có
cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ
quan của nhà văn.
Đối với nhân vật văn học thì tính cách được coi là đặc điểm quan trọng
nhất, là “nội dung của mọi nhân vật văn học”. Đôtxtôiepxki cũng khẳng
định: “Đối với nhà văn, toàn bộ vấn đề là ở tính cách”. Tính cách, với ý
nghĩa rất lớn như vậy nên trước kia một số giáo trình Nga đã gọi nhân vật là
tính cách. Ở đây cần hiểu tính cách là phẩm chất xã hội lịch sử của con người
thể hiện qua các đặc điểm cá nhân , gắn liền với phẩm chất tâm sinh lý của
họ, “tính cách cũng là nhân vật được thể hiện với một chất lượng tư tưởng và
nghệ thuật cao hơn, tuy chưa đạt đến mức độ là những điển hình”. Và tính
cách tự nó cũng bao hàm những thuộc tính như có nét cụ thể, độc đáo của một
con người cá biệt nhưng lại mang cả những nét chung, tiêu biểu cho nhiều
người khác ở một mức độ nhất định, đồng thời có một quá trình phát triển hợp
với logic khách quan của đời sống.
Như vậy, nhân vật có hạt nhân là tính cách. Trong tác phẩm văn chương
có nhân vật được khắc họa tính cách nhiều hay ít nhưng cũng có nhân vật
không được khắc họa tính cách.
1.1.2. Thế giới nhân vật
Thế giới nhân vật là một tổng thể những hệ thống nhân vật được xây
dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả.
Thế giới ấy cũng mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn,

Phạm Thị Hoàng Lan

10

Lớp K32E - Ngữ văn

Tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội, lịch sử của con người qua
các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lý của họ. Ở mỗi thời

Phạm Thị Hoàng Lan

11

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

đại, do yêu cầu lịch sử, con người lại xuất hiện những tính cách tiêu biểu, điển
hình khác nhau. Có thể nói, tính cách, hiện tượng xã hội xuất hiện trong thực
tế khách quan. Vì tính cách là kết tinh của môi trường cho nên nhân vật văn
học không chỉ xây dựng nên những tính cách mà còn dẫn dắt người đọc vào
thế giới đời sống. Nhân vật được xem như là một công cụ để nhà văn khám
phá và biểu hiện đời sống.
Mỗi tính cách nhân vật thường gắn liền với những khía cạnh vấn đề mà
nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm. Sự thấu hiểu thực sự chức năng
phản ánh khái quát nhân vật không chỉ dừng lại ở việc phát hiện ra các đặc
điểm,các nét tính cách của nhân vật mà còn phải thấy được những vấn đề xã
hội đằng sau những tính cách đó.
Bên cạnh việc phản ánh, khái quát hiện thực cuộc sống với những mảng
đời sống xã hội gắn liền với nó, nhân vật còn có chức năng thể hiện quan
niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người, về cuộc đời.
Văn học phản ánh thế giới bằng hình tượng. Song điều đó không có nghĩa là
nhà văn sao chụp lại, bê nguyên hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm. Nhà

- Xét về cấu trúc: dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, cốt truyện của
tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ,
nhân vật trung tâm.
Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ yếu giữ vị trí then chốt trong
việc triển khai diễn biến của sự việc. Nhân vật chính thường tham gia xuyên
suốt, xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm. Đó cũng là nhân vật được tác giả
“dày công” miêu tả, khắc họa, được thể hiện rõ nét hơn, gây ấn tượng sâu
đậm hơn đối với người đọc. Nhưng chủ yếu nhất, nhân vật chính vẫn là nhân
vật có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề, tư tưởng
tác phẩm. Chính vì thế mà nó là nhân vật quy tụ các đầu mối mâu thuẫn của
tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm.
Bên cạnh các nhân vật chính là nhân vật phụ. Đó là những nhân vật ít
xuất hiện trong tác phẩm, đóng vai trò thứ yếu trong việc triển khai đề tài và
biểu hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật phụ là nhân vật ít được miêu tả,
không được chú trọng mô tả nhưng lại không thể thiếu được vì nó có vai trò
“giăng mối” các đầu mối quan hệ, bổ sung và hỗ trợ nhiều mặt kể cả hình
thức và nội dung tác phẩm. Nhân vật phụ có thể góp phần thể hiện chủ đề, tư
tưởng cũng như làm nổi bật tính cách nhân vật chính trong tác phẩm. Sự hiện

Phạm Thị Hoàng Lan

13

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp


14

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

chỉ cho loại được miêu tả, mô tả như một nhân cách cá nhân có cá tính nổi
bật.
Nhân vật tư tưởng: là nhân vật có tư tưởng, nhân cách nhưng cơ bản của
nó là hiện thân của một ý thức: Giăng văn Giăng, Gia-ve của Huygô …
Trên đây là những loại nhân vật thường gặp. Sự phân biệt này chỉ mang
tính chất tương đối, nó chỉ nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ bản của
một nhân vật nào đó.
1.4. Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghệ thuật xây dựng nhân vật
nhưng ở khóa luận này chúng tôi đi vào tìm hiểu vào ba yếu tố thuộc cấu trúc
hình thức của tác phẩm: kết cấu, các biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật,
lời văn nghệ thuật.
1.4.1 Kết cấu
Kết cấu theo quan niệm của nhóm tác giả cuốn “Lý luận văn học” Nxb
Giáo dục, 2004 là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và
nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm
không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng tác phẩm.
Trong bài “Tính nghệ thuật, một đối tượng nghiên cứu và một cách tiếp
cận riêng”, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số tháng 3 + 4, 2000, tác giả Nắng
Mai đã có một quan niệm cụ thể hơn về kết cấu. Kết cấu là việc sắp xếp lắp
ráp chẳng những kiến thức trong chiều sâu mà còn bố cục, bài trí ở bên ngoài,

Để xây dựng được các nhân vật trong tác phẩm văn chương một cách
sinh động, hấp dẫn, nhà văn phải mượn đến các thủ pháp nghệ thuật phong
phú, sao cho nhân vật hiện lên trước mặt người đọc càng cụ thể, càng rõ nét,
thông qua càng nhiều giác quan càng tốt, hệ thống này được coi là thường
xuyên và đầy đủ nhất. Các biện pháp thể hiện nhân vật bao gồm bảy yếu tố:
Biện pháp tả, biện pháp kể, biện pháp để nhân vật đối thoại, độc thoại, tâm
tình, bàn luận – triết lý, biện pháp để nhân vật vào những hoàn cảnh xung đột
– kịch tính. Việc sử dụng những biện pháp thể hiện nghệ thuật này gắn liền
với việc xây dựng hình tượng nhân vật toàn vẹn và sinh động.
1.4.2.1. Biện pháp tả
Đây là một hoạt động sáng tạo của nhà văn, đòi hỏi nhà văn phải khéo
kết hợp các danh từ với các tính từ, động từ, kết nối các kiểu câu sao cho hiệu

Phạm Thị Hoàng Lan

16

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

quả cuối cùng là đối tượng được miêu tả hiện lên trước sự hình dung của bạn
đọc bằng nhiều giác quan càng tốt. Biện pháp này rất hữu dụng trong việc cụ
thể hóa đối tượng. Nó không chỉ cho người đọc hình dung về hình thức, vẻ
ngoài của đối tượng mà cùng với dụng ý của nhà văn, còn hé mở cả những
điều thầm kín sâu xa, bản chất bên trong của đối tượng.
“Tuy nhiên, với từng loại văn, từng loại nhân vật, đặc biệt với từng dụng


chuyện. Lúc đó, các biện pháp thể hiện nghệ thuật khác chỉ đóng vai trò bổ
trợ cho kể. Có thể nói, kể là biện pháp thể hiện nghệ thuật chủ đạo của truyện.
1.4.2.3. Biện pháp đối thoại
Đối thoại trong văn chương là hình thức nhà văn để các nhân vật trò
chuyện trao đổi, thậm chí tranh luận gay gắt với nhau về một vấn đề nào đó.
Các mối quan hệ giữa các nhân vật càng đa dạng, các nhân vật đối thoại càng
nhiều càng bộc lộ các đặc điểm thuộc về tính cách, cá tính, nghề nghiệp, giai
cấp, lứa tuổi của mình ... hơn nữa, sự bộc lộ đó còn thể hiện qua nội dung lời
nói, qua cả cách nhân vật đối thoại. Biện pháp này “giúp bạn đọc như nghe
thấy nhân vật nói năng với lối tư duy và ứng sử riêng trong những tình huống
cụ thể, đôi khi lời đối thoại còn được tác giả giới thiệu kèm theo giọng nói,
cách nói” [17]
Với mỗi loại văn, biện pháp này được sử dụng đậm hay nhạt khác nhau.
Thơ trữ tình hầu như không sử dụng đối thoại, kịch thì sử dụng đậm đặc đối
thoại, còn các tác phẩm tự sự thì việc sử dụng các biện pháp đối thoại rất đa
dạng, linh hoạt.
1.4.2.4. Biện pháp độc thoại nội tâm
Biện pháp độc thoại nội tâm là tiếng nói thầm của nhân vật. Độc thoại
nội tâm cũng là lúc nhân vật bộc lộ mình một cách thật nhất. Trong tác phẩm,
biện pháp này thường được sử dụng khi nhân vật rơi vào hoàn cảnh éo le,
nhiều kịch tính xung đột, rơi vào trạng thái cô lập, đòi hỏi nhân vật băn
khoăn, trăn trở để đưa ra quyết định cuối cùng. Cùng với những biện pháp
khác cho thấy hình thức bên ngoài của nhân vật, biện pháp độc thoại nội tâm
hoàn thiện nhân vật ở mức độ cao hơn, đó là chiều sâu tâm hồn nhân vật. Đây
cũng chính là ưu thế của văn chương so với các loại hình nghệ thuật khác.
Nếu như hội họa, điêu khắc chỉ nói rõ ngoại hình vóc dáng của đối tượng, âm

Phạm Thị Hoàng Lan


một nội dung quan trọng nào đó. Nhà văn dừng lại để nhân vật đưa ra ý kiến
nhận xét đánh giá cùng chiều hoặc trái chiều thể hiện điểm nhìn phong phú
về một đối tượng, nội dung xã hội thẩm mĩ cụ thể. Tham gia vào quá trình bàn
luận này, người đọc sẽ tìm ra nội dung tư tưởng, chủ đề, chiều sâu tư tưởng
của nhà văn.

Phạm Thị Hoàng Lan

19

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Nếu bàn luận là trữ tình ngoại đề thì triết lý được xem như một hình thức
diễn đạt ngắn gọn, một chân lý sống, một kinh nghiệm sống nào đó dưới dạng
những luận đề mang nội dung, tất yếu có tính quy luật. Nhà văn xoáy sâu vào
những vấn đề mà mình quan tâm bình luận về nó, từ đó khái quát những quy
luật của bản chất đời sống. Triết lý có khi do chính nhân vật nói ra cũng có
khi do chính tác giả trực tiếp diễn đạt, song đôi lúc là lời nửa trực tiếp khó
phân biệt lời tác giả hay lời nhân vật.
1.4.2.7. Biện pháp tạo xung đột kịch tính
Đây là hiện tượng mà ở đó người nghệ sĩ đặt nhân vật của mình vào
những tình huống xung đột mang kịch tính. Xung đột này thể hiện ở sự mâu
thuẫn giữa hai hay nhiều nhân vật với nhau. Mâu thuẫn mang tính triết học.
Nó luôn được đẩy lên đòi hỏi phải có biện pháp giải quyết. Biện pháp nghệ
thuật này sử dụng triệt để mâu thuẫn để làm nguyên tắc xây dựng các mối

nghệ thuật của tác phẩm văn học … Lời văn nghệ thuật có tính chất cố định,
tính độc lập hoàn chỉnh trong bản thân nó có tính vĩnh viễn. Lời nói nghệ
thuật còn mang tính hình tượng, tính biểu cảm, tính tổ chức cao và phục vụ
cho cấu trúc hình tượng của tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học, lời nói nghệ thuật bao gồm hai thành phần
chính là lời nói gián tiếp của người kể chuyện và lời nói trực tiếp của nhân
vật. Mỗi yếu tố này trong tác phẩm có đặc điểm riêng và có nhiệm vụ nghệ
thuật cụ thể khác nhau.
Lời người kể chuyện khá phổ biến ở các tác phẩm tự sự (ở đây là lời tác
giả hay nhân vật kể) là phương thức hết sức cơ bản để bộc lộ chủ đề tư tưởng
của tác phẩm đồng thời nêu bật tính cách của nhân vật. Nó tạo nên ở bạn đọc
một thái độ nhất định đối với vấn đề được nói tới. Ngôn ngữ người kể chuyện
đóng vai trò chủ yếu trong việc dẫn dắt câu chuyện, từ những manh nha của
mâu thuẫn, xung đột, đến từng bước giải quyết chúng trong tác phẩm. Lời nói
trực tiếp của nhân vật phản ánh diễn biến của sự việc, thể hiện xung đột và sự
cởi mở, thể hiện vị trí xã hội, nghề nghiệp, tính cách, dục vọng của nhân vật
và diễn biến của nó.
Ở tác phẩm văn chương, mỗi yếu tố của lời nói nghệ thuật có ý nghĩa
khác nhau nhưng cùng bổ sung, hỗ trợ cho nhau để đạt tới dụng ý nghệ thuật
của tác giả. Lời nói trực tiếp của nhân vật có vai trò khắc họa những đặc điểm

Phạm Thị Hoàng Lan

21

Lớp K32E - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2



Nhõn vt hn nhiờn, trong sỏng

-

Nhõn vt giu long nhõn ỏi

-

Nhõn vt hónh tin,c hi

-

Nhõn vt mng m, hoi nim

3.1. Nhõn vt hn nhiờn, trong sỏng.
õy l kiu nhõn vt mang nhng nột p, nhng giỏ tr tõm hn gin d,
nguyờn s v trong sang nht, gt i nhng gỡ thuc v s toan tớnh, bon chen,
xụ b ca cuc sng.
Trong tập truyện Đất khách của Lý Lan, kiểu tính cách này thể hiện
tập trung và chủ yếu trong hầu hết nhân vật là trẻ thơ. Kho sỏt trong tng s
17 truyn ngn ca tp truyn thỡ cú ti 10 truyn xut hin nhng nhõn vt
tr th, nhng cụ bộ,cu bộ. Khụng ch xut hin vi tn s dy c trong
hang lot tỏc phm m th gii tr th trong sang tỏc ca Lý Lan cũn cú mt
c im chung, ú u l nhng hỡnh tng p c tỏc gi dng lờn
bng tt c s ngõy th,hn nhiờn v c nhng c tớnh tt p n cha bờn
trong.

Phm Th Hong Lan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status