BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------------
KHIẾU ĐẠI THẮNG
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ GIA
HÀ NỘI, NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa
được sử dụng để bảo vệ một công trình nghiên cứu hay học vị nào.
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Khiếu Đại Thắng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục bảng
iv
Danh mục biểu đồ
vii
1
MỞ ĐẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Vai trò của nguồn lao động nông thôn
9
2.1.3
Đặc điểm nguồn lao động nông thôn
12
2.1.4
Một số nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động và sử dụng lao
động nông thôn
13
2.2
Cơ sở thực tiễn về sử dụng nguồn lao động nông thôn
21
2.2.1
Kinh nghiệm sử dụng lao động nông thôn của một số Quốc gia
22
3.2
Phương pháp nghiên cứu
44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
3.2.1
Phương pháp thu thập thông tin
44
3.2.2
Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin
44
3.2.3
Phương pháp phân tích thông tin:
45
4.1.3
Thực trạng sử dụng lao động nông thôn
54
4.1.4
Đánh giá thực trạng sử dụng lao động nông thôn
76
4.2
Giải pháp sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lao động nông thôn
80
4.2.1
Quan điểm, phương hướng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao
động nông thôn.
4.2.2
80
Những căn cứ, định hướng và mục tiêu chủ yếu để sử dụng đầy
đủ và hợp lý nguồn lao động nông thôn
Page iv
DANH MỤC BẢNG
.
STT
Nội dung
Trang
3.1
Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh năm 2013
35
3.2
Tình hình dân số và lao động tỉnh Bắc Ninh năm 2011-2013
37
4.1
Tình hình nhân khẩu và lao động nông thôn tỉnh Bắc Ninh năm
2011-2013
4.2
điều tra
4.7
59
Việc làm theo trình độ văn hóa và chuyên môn của lao động
được điều tra
61
4.8
Sử dụng thời gian lao động trong ngày của lao động được điều tra
64
4.9
Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của lao động nông thôn tỉnh
Bắc Ninh năm 2011-2013
4.10
66
Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của lao động nông thôn Bắc
Ninh năm 2011-2013
4.11
yếu Bắc Ninh 2015-2017
86
4.15
Dự kiến kết quả sản xuất ngành chăn nuôi Bắc Ninh 2015-2017
87
4.16
Dự kiến tình hình nhân khẩu và lao động nông thôn Bắc Ninh
2015-2017
4.17
94
Dự kiến sản xuất các ngành kinh tế của lao động nông thôn tỉnh
Bắc Ninh 2015-2017
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
95
Page vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
52
4.3
Tỷ lệ lao động nông thôn theo ngành kinh tế
54
4.4
Cơ cấu lao động nông thôn của tỉnh Bắc Ninh năm 2013
56
4.5
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn ở Bắc Ninh 2011-2013
62
4.6
Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh năm 2013
67
4.7
Tỷ lệ diện tích gieo trồng ở Bắc Ninh 2011-2013
động; tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm, đặc biệt là cho nông
dân…”. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ghi
“ Lao động thiếu việc làm còn nhiều, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, cơ
cấu lao động theo ngành nghề trình độ chưa hợp lý… chuyển dịch cơ cấu lao
động còn chậm, tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn còn cao…”.
Đặc điểm kinh tế - xã hội cũng như điều kiện tự nhiên ở mỗi địa phương
là khác nhau, không phải cứ ở nông thôn thì người lao động tham gia vào hoạt
động kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp. Nông nghiệp là một thế mạnh nhưng sản
xuất ở ngành này mang tính thời vụ nên nhiều lao động ở ngành này vẫn có
nhiều thời gian nhàn rỗi. Điều đó cho chúng ta thấy tình trạng thiếu việc làm
cho người lao động nông thôn đang ngày một gia tăng và thời gian sử dụng
nguồn lao động ở khu vực nông thôn chưa cao và chưa hợp lý, do đó chưa
phát huy được khả năng sẵn có.
Tỉnh Bắc Ninh, hiện nay lực lượng lao động có 633.205 người, trong đó
lao động nông thôn có 473.363 người chiếm 74,8% tổng số lao động toàn
tỉnh. Là tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao, một phần diện tích đất nông nghiệp phải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
chuyển đổi mục đích sử dụng dẫn tới diện tích đất canh tác ngày càng giảm
trong khi đó dân số nông thôn ngày một tăng. Đến năm 2013, tổng sản phẩm
trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt 75.380 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người là
68,2 triệu đồng/người/năm, tương đương 3.243 USD. Năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc, thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu đến năm 2015,
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn lao động và sử dụng
nguồn lao động.
- Phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng lao động khu vực nông thôn
tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm sử dụng đầy đủ
hợp lý nguồn lao động khu vực nông thôn Bắc Ninh.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm nguồn lao động và vấn đề
sử dụng nguồn lao động khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Do vấn đề nghiên cứu về lao động rất rộng và phức tạp, liên quan đến
nhiều lĩnh vực nên trong luận văn chủ yếu tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về
đặc điểm nguồn lao động và sử dụng lao động nông thôn trực tiếp sản xuất.
- Không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại địa bàn khu vực
nông thôn tỉnh Bắc Ninh.
- Thời gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng
nguồn lao động, sử dụng lao động khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh tại thời
điểm thu thập thông tin năm 2014, có tham khảo số liệu thứ cấp các năm từ
2011 đến năm 2013
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
2.1. Cơ sở lý luận về sử dụng lao động nông thôn
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
chuyên môn, hình thái. Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động thực chất là việc
phân bổ nguồn lao động một cách hợp lý sao cho việc sử dụng lao động này
đạt được mục đích là tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Phân bổ nguồn lao động chính là việc phân phối, bố trí hình thành nguồn
lao động theo quy luật, xu hướng tiến bộ vào các lĩnh vực hoạt động, các ngành
kinh tế, các vùng lãnh thổ. Xét về bản chất thì đó là sự đổi mới tình trạng phân
công lao động ngày càng tiến bộ hơn và đạt trình độ ngày càng cao hơn.
Phân bổ nguồn lao động hợp lý phải phối hợp kết hợp hài hoà nhiều biện
pháp phân bổ theo từng lĩnh vực sản xuất, từng ngành, từng nội bộ ngành kinh
tế, từng vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia. Một xu hướng có tính quy luật
là lực lượng lao động được phân bổ vào lĩnh vực sản xuất vật chất ngày càng
giảm và khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về hưởng thụ văn hoá tinh thần
ngày càng cao và đây là nhu cầu vô hạn. Vì vậy, lao động ở các ngành dịch vụ
ngày càng tăng cao.
Trong lĩnh vực không sản xuất vật chất phân bổ tỷ trọng lớn lao động
vào các ngành nghiên cứu khoa học, y tế giáo dục, văn hoá thể thao, giảm lao
động trong quản lý hành chính, lao động quản lý. Trong lĩnh vực sản xuất vật
chất tăng tỷ trọng lao động ngành công nghiệp, giảm tỷ trong lao động trong
ngành nông nghiệp, bởi vì tăng năng suất lao động trong các ngành trên là
thuận lợi hơn nó tác động trở lại ngành nông nghiệp.
2.1.1.4. Việc làm
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung người lao động được coi
là có việc làm và được xã hội thừa nhận là người làm việc trong thành phần
kinh tế quốc doanh, khu vực nhà nước và khu vực kinh tế tập thể. Trong cơ
chế đó nhà nước bố trí việc làm cho người lao động.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
quả thì tình trạng thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến người lao động có thu
nhập thấp, mức sống không được đảm bảo. Có thể nói đó là một trong những
nguyên nhân dẫn đến tệ nạn, mất an ninh trật tự xã hội… Hiện nay ở mọi
quốc gia, nhất là các nước đang phát triển vấn đề sử dụng nguồn lao động, tạo
công ăn việc làm, nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo cho người dân
được đặc biệt quan tâm.
Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất
nghiệp. Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài
ý muốn của người lao động. Họ phải làm việc nhưng không sử dụng hết thời
gian theo quy định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ
sống khiến họ muốn tìm thêm việc làm bổ sung.
Như vậy, thiếu việc làm được hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều
kiện cho người tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu
nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu.
Thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng là thiếu việc làm vô hình và
thiếu việc làm hữu hình.
- Thiếu việc làm vô hình là trạng thái những người có đủ việc làm, làm
đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập
thấp. Có thể nói, nguyên nhân của tình trạng này do dân số không ngừng tăng
trong khi diện tích đất canh tác có nguy cơ thu hẹp làm dư thừa lao động. Số
người lao động trên một đơn vị diện tích tăng có nghĩa là thời gian sử dụng để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm. Trên thực tế, họ vẫn làm việc nhưng
sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều.
- Thiếu việc làm hữu hình chỉ hiện tượng lao động làm việc thời gian ít
nguyện vọng.
+ Thất nghiệp không tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao
động chấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn
không tìm được việc làm.
- Ở các nước đang phát triển, người ta chia thất nghiệp thành thất nghiệp
hữu hình và thất nghiệp vô hình.
+ Thất nghiệp hữu hình xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm
việc làm nhưng không tìm được trên thị trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
+ Thất nghiệp vô hình hay còn gọi là thất nghiệp trá hình là biểu hiện
chính của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển. Họ
là những người có việc làm trong khu vực nông thôn hoặc thành thị không
chính thức nhưng việc làm đó có năng suất thấp, những người này đóng góp
rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
2.1.1.6. Tạo việc làm
Tạo việc làm cho người lao động là phát huy sử dụng tiềm năng sẵn có
của từng đơn vị, từng địa phương và của từng người lao động nhằm tạo ra
những công việc hợp lý ổn định và đầy đủ xong việc làm đó phải đem lại thu
nhập đảm bảo thoả mãn nhu cầu đời sống hàng ngày cho người lao động.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình
người lao động làm việc. Vì vậy, tạo việc làm không chỉ là nhu cầu chủ quan
của người lao động mà còn là yếu tố khách quan của xã hội. Người lao động
làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ mà còn tạo ra của cải vật
chất, tinh thần cho xã hội.
2.1.2. Vai trò của nguồn lao động nông thôn
thuê với thu nhập cao hơn là làm nông nghiệp.
- Giai đoạn thứ hai: nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao
động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao.
Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được ngành khác thu hút hết.
Vì thế giai đoạn này số lượng lao động ở nông thôn giảm cả tương đối và
tuyệt đối. Chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và chủ
trương công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn, hi vọng sẽ nâng cao được
năng suất lao động ở nông thôn, từ đó sẽ từng bước rút bớt được lao động ở
nông thôn để tham gia vào các ngành sản xuất khác.
2.1.2.2. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực thực
phẩm
Nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sống
chủ yếu bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản
xuất nông nghiệp là rất đông đảo. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia
tăng về dân số thì nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng gia tăng. Việc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp
và sức lao động để tạo ra lương thực, thực phẩm là do nguồn lao động nông
thôn cung cấp.
Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thu
nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày
càng lớn và yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng cao. Để có thể đáp ứng đủ
về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì nguồn lao động nông thôn
phải được nâng cao về trình độ tay nghề và kinh nghiệm sản xuất.
Như chúng ta đã biết vào những năm 1980 của thế kỷ trước hàng năm
tăng tự nhiên của dân số giữa nông thôn và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng như
lực lượng lao động so với cả nước ngày càng giảm. Mặc dù vậy, qui mô dân số
và nguồn lao động ở nông thôn vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ khá cao.
2.1.3.2. Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao
Chất lượng của người lao động được đánh giá qua trình độ học vấn,
chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ.
- Sức khỏe yếu: Sức khoẻ của người lao động chưa tốt liên quan đến
lượng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trường sống, môi
trường làm việc,vv.... Nhìn chung lao động nước ta do thu nhập thấp nên dẫn
đến các nhu cầu thiết yếu hàng ngày chưa đáp ứng được một cách đầy đủ. Sức
khoẻ và thể trạng của người Việt Nam nói chung là nhỏ bé, hạn chế nhiều về
thể lực, cho dù có bù lại ưu thế về sự chăm chỉ, siêng năng thì thể lực như vậy
cũng khó trụ vững được trong những dây chuyền sản xuất đòi hỏi cường độ
làm việc cao.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp: Hầu hết lao động nông thôn nước ta có
chất lượng thấp chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước
đang hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy nhanh công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Hiện hơn 78% lao động ở nước ta chưa qua đào tạo, trong số đó 63% là lao
động ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn. Nước ta có 10 triệu hộ nông dân với
hơn 30 triệu lao động trong độ tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào
tạo chủ yếu thông qua các lớp tập huấn khuyến nông sơ sài. Trong số 16,5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
triệu thanh niên nông thôn đang cần có việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt
nghiệp phổ thông trung học; 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung
cấp trở lên, thấp hơn 4 lần so với thanh niên đô thị (nguồn số liệu Hội Nông
2.1.4.2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
- Nhân tố Dân số: được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao
động : qui mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô và cơ
cấu của nguồn lao động. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của
dân số là: phong tục, tập quán của từng nước, trình độ phát triển kinh tế, mức
độ chăm sóc y tế và chính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến khích
hoặc hạn chế sinh đẻ. Từ đó nó ảnh hưởng đến qui mô của dân số, đến nguồn
lao động. Tình hình tăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau giữa
các nước. Nhìn chung các nước phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân
số thấp: ngược lại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số cao. Tỷ lệ
tăng dân số ở Việt Nam là 1,03 % (năm 2010) và 0,99% (năm 2013). Hiện
nay 3/4 dân số sống ở các nước đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh trong
khi đó phát triển kinh tế tăng chậm, làm cho mức sống của dân cư không tăng
lên được và tạo ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm. Do đó kế hoạch
hoá dân số đi đôi với phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm của các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam chúng ta. Đặc biệt ở nông thôn hiện nay tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên vẫn cao hơn thành thị.
- Tỷ lệ tham gia lao động: Tỷ lệ tham gia lao động là phần trăm của dân
số trong độ tuổi lao động tham gia lao động trong tổng số nguồn nhân lực.
Nhân tố cơ bản tác động đến tỷ lệ tham gia lao động là bộ phận dân số trong
độ tuổi lao động. Nhưng do đặc điểm của lao động nông thôn bao gồm cả
những người trên và dưới độ tuổi lao động vẫn thích hợp với một số công việc
và vẫn phát huy được khả năng lao động của họ. Nên số người ở nông thôn
trong tiềm năng tham gia lao động là rất lớn
- Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp: Thất nghiệp là hiện tượng những
người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang không có việc làm
nhưng đang tích cực tìm việc làm tại thời điểm điều tra. Số người không có
việc làm sẽ ảnh hưởng đến số người làm việc và ảnh hưởng đến kết quả hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
đông nên đó cũng chính là gánh nặng cho thành phố về các vấn đề như môi
trường, an ninh trật tự. Do đó vấn đề đặt ra là phải tạo việc làm cho người lao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
động nông thôn ngay trên chính quê hương của họ, giải quyết việc làm theo
xu hướng "ly nông bất ly hương" tạo việc làm để tăng thu nhập ngay trên
chính quê hương của họ bằng nhiều biện pháp như : Đa dạng hoá cây trồng
vật nuôi, cho người nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi vv… Thời gian qua,
mặc dù đã có sự di chuyển mạnh mẽ về dân cư và lao động từ nông thôn ra
thành thị, từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp song theo dự báo, lao
động nông nghiệp nước ta sẽ còn khoảng 40% lao động xã hội vào năm 2015
và 30% vào năm 2020.
- Dòng di chuyển lao động ra khỏi lãnh thổ Việt Nam: Đây là hiện tượng
những người lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động, đó là một trong
những hướng đi của một số ít người chứ không phải là đa số, bởi vì những
người có khả năng xuất khẩu lao động ở nông thôn là rất ít và những yêu cầu
về trình độ của nước nhập khẩu lao động là khá cao nên dòng di chuyển này
rất ít ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
2.1.4.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động
Số lượng lao động mới phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao
động vào phát triển kinh tế. Mặt khác, cần được xem xét đến chất lượng
nguồn lao động, đó là yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn. Chất
lượng lao động có thể được nâng cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờ sức khỏe của
người lao động, nhờ bố trí điều kiện lao động tốt hơn.
- Nhân tố giáo dục: được coi là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển
tiềm năng của con người theo nhiều nghĩa khác nhau. Yêu cầu chung đối với
đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và khi có trong tay kiến thức về xã hội, về
trình độ chuyên môn người lao động sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công
việc mà xã hội phân công sắp xếp. Như vậy, giáo dục và đào tạo nhằm định
hướng phát triển kinh tế – xã hội, cung cấp cho xã hội một đội ngũ lao động đủ
về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu với xu hướng tri thức hoá công nhân,
chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc.
Ngày nay, để công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung thì việc thiếu lao động có trình
độ chuyên môn hoá cao và thừa lao động trình độ thấp rất nhiều gây ra sức ép
việc làm lớn. Nếu bên cạnh việc nâng cao trình độ cho người lao động mà kết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17