TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ-DU LỊCH
BÙI THỊ NGỌC THƠ
TÌM HIỂU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ
XUYÊN VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH
Người hướng dẫn: HUỲNH VĂN ĐÀ
Cần Thơ, tháng 04/2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ-DU LỊCH
BÙI THỊ NGỌC THƠ
MSSV: 6086571
TÌM HIỂU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ
XUYÊN VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH
Người hướng dẫn: HUỲNH VĂN ĐÀ
Cần Thơ, tháng 04/2012
Cần Thơ, ngày 25 tháng 04 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Ngọc Thơ
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
DANH MỤC BẢNG
Bảng
1
2
3
4
5
6
7
Nội dung
Thống kê các xã và thị trấn huyện Mỹ Xuyên
Bảng thống kê đình ở huyện Mỹ Xuyên
Bảng lịch lễ hội trong năm tại đình Mỹ Xuyên
Bảng lịch trình tổ chức lễ Kỳ Yên đình Mỹ Xuyên
3.3. Phương pháp thống kê ........................................................................................... 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................................. 2
CHƯƠNG 1 ...................................................................................................................... 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................................................ 3
1.1. Một số vấn đề về lễ hội.......................................................................................... 3
1.1.1.
Lược khảo về lễ, hội, lễ hội................................................................................ 3
1.1.1.1. Lễ ......................................................................................................................... 3
1.1.1.2. Hội ....................................................................................................................... 3
1.1.1.3. Lễ hội ................................................................................................................... 4
1.1.2.
Đặc điểm và vai trò của lễ hội............................................................................ 5
1.1.3.
Phân loại lễ hội .................................................................................................. 7
1.1.4.
Tiềm năng du lịch của lễ hội .............................................................................. 7
1.1.5.
Các yếu tố của lễ hội ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch ......................... 8
1.2. Tín ngưỡng ở Đình Nam Bộ ....................................................................................... 8
1.2.1. Khái quát về đình ở Nam Bộ.................................................................................... 8
1.2.2. Tín ngưỡng thờ Thần Thành Hoàng ở đình Nam Bộ .............................................. 11
1.3. Thờ Phật ở chùa Nam Bộ.......................................................................................... 13
1.3.1. Khái quát về chùa ở Nam Bộ ................................................................................. 13
1.3.2. Thờ Phật ở Chùa Nam Bộ...................................................................................... 15
CHƯƠNG 2 .................................................................................................................... 18
KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN ............................ 18
2.1. Khái quát về huyện Mỹ Xuyên ................................................................................. 18
2.1.1. Tổng quan ............................................................................................................. 18
2.1.2. Lịch sử .................................................................................................................. 19
2.1.3. Kinh tế .................................................................................................................. 19
XUYÊN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ..................................................................... 42
3.1. Hiện trạng khai thác lễ hội đình, chùa tại huyện Mỹ Xuyên ...................................... 42
3.1.1. Hiện trạng về nguồn khách du lịch tại huyện Mỹ Xuyên ........................................ 42
3.1.2. Hiện trạng về cơ sở vật chất – hạ tầng ở huyện Mỹ Xuyên..................................... 42
3.1.3. Hiện trạng về các nội dung hoạt động du lịch đình, chùa người Kinh tại huyện Mỹ
Xuyên ............................................................................................................................. 43
3.1.4. Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch của lễ hội đình, chùa tại huyện Mỹ
Xuyên ............................................................................................................................. 43
3.2. Định hướng phát triển du lịch lễ hội đình, chùa người Kinh tại huyện Mỹ Xuyên ..... 45
3.2.1. Định hướng phát triển du lịch lễ hội đình người Kinh tại huyện Mỹ Xuyên ........... 45
3.2.2. Định hướng phát triển du lịch lễ hội chùa người Kinh tại huyện Mỹ Xuyên ........... 47
3.3. Một số giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch lễ hội đình, chùa tại huyện Mỹ Xuyên48
3.3.1. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đình, chùa người Kinh tại huyện Mỹ Xuyên..... 48
3.3.2. Quảng bá và nâng cao chất lượng lễ hội đình, chùa................................................ 48
3.3.3. Cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật............................................ 49
3.3.4. Nguồn nhân lực và an sinh xã hội .......................................................................... 50
3.3.5. Chú trọng giữ gìn môi trường, cảnh quan của khu di tích...................................... 50
KÊT LUẬN .................................................................................................................... 52
1. Kết quả nghiên cứu.................................................................................................. 52
2. Ý kiến đề xuất ............................................................................................................. 53
3. Hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................................................................ 53
PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 55
MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH
SÓC TRĂNG.................................................................................................................. 55
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
thác du lịch” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về lễ hội đình, chùa tại một số đình, chùa tiêu biểu của người Kinh ở
huyện Mỹ Xuyên của tỉnh Sóc Trăng và nêu lên giá trị đình, chùa của huyện đối với du
lịch.
Đánh giá khả năng khai thác du lịch ở nơi đây, cũng như nghiên cứu thế mạnh
và những mặc yếu còn tồn tại.
Đề xuất các định hướng, giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những yếu kém
còn tồn tại cũng như phát huy hiệu quả tiềm năng sẵn có của lễ hội đình, chùa của
người Kinh tại huyện Mỹ Xuyên, nhằm góp phần thu hút khách du lịch và phát triển
du lịch Sóc Trăng nói chung và huyện Mỹ Xuyên nói riêng.
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thu thập , phân tích và tổng hợp tư liệu
Thu thập những nguồn tư liệu về các lễ hội truyền thống ở một số đình, chùa
tiêu biểu của người Kinh ở huyện Mỹ Xuyên. Tổng hợp tư liệu đã có kết hợp với
những kết quả nghiên cứu trong quá khứ thông qua sách, báo, internet, số liệu thống kê
của sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng... Từ đó tham khảo, nghiên cứu và
xử lý thông tin để đưa ra nội dung hợp lý.
3.2. Phương pháp khảo sát thực tế
Phương pháp này giúp tôi tiếp cận vấn đề một cách chủ động, trực quan, kiểm
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề về lễ hội
1.1.1. Lược khảo về lễ, hội, lễ hội
1.1.1.1. Lễ
Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2002 là từ chỉ những nghi thức tiến hành
nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. Ví dụ lễ Quốc
khánh, lễ thành hôn. Lễ còn có nghĩa là váy, lạy để tỏ lòng cung kính theo phong tục
cũ. Lễ còn được hiểu là khuôn phép, là phép bày ra nhằm tỏ ý kính trọng, lịch sự.
Có nhiều khái niệm về lễ. Lễ là linh hồn, cốt lỗi của một lễ hội và là phần quan
trọng nhất, được đầu tư công phu nhất cả về thời gian, tiền bạc, công sức. Tham dự lễ
chỉ có một số người có vai vế, vị trí nhất định. Phần lễ trong một lễ hội mang tính
thiêng liêng, bất biến, là những nghi thức thờ thần thánh. Không gian và thời gian của
các nghi lễ được quy định chặc chẽ. Lễ là đạo, khác với hội là đời.
Trong lễ bao giờ cũng phải có tế. Tế bao gồm những nghi thức theo quy định
như y phục, phẩm phục, hia hài, mũ mang cho đến việc tế thần được tổ chức như thế
nào. Thường thực hiện tế là những cụ cao niên, phúc đức được dân làng chọn ra, trong
đó có một người làm chủ tế. Khi thực hiện tế lễ thường có các nghi thức sau: Đọc tế
văn, dâng hương, dâng rượu trắng, dâng lễ vật. Lễ vật được dâng tế thường là những
sản phẩm của địa phương như xôi, bánh chưng, hoa quả, hương nến. Có những địa
phương có lễ vật độc đáo, liên quan đến nhân vật được thờ.
Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm túc,
trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian.
Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử,
hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng
lớn đến sự phát triển xã hội.
Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh,
với tình yêu, giao duyên nam nữ nên có phong vị tình.
Hội làng người Việt ở đồng bằng sông Hồng là loại lễ hội truyền thống rất tiêu
biểu cho xã hội nông thôn Việt Nam và truyền thống của người Việt Nam. Tại lễ hội
này người ta thường diễn lại những sinh hoạt thường niên do nhu cầu tồn tại và phát
triển cộng đồng, mặt khác cũng là cân bằng sinh thái và tâm lý của người lao động
nông nghiệp.
Mặc dù quy mô lễ hội khác nhau (có hội làng, hội vùng và hội cả nước), nhưng
đều phải có một làng làm gốc, đăng cai. Hội làng là lễ hội tổ chức theo đơn vị làng.
Làng là tổ chức thuần Việt và là cơ cấu gốc của xã hội cổ truyền. Bản sắc dân tộc ở
từng làng quy tụ thành bản sắc dân tộc của Việt Nam. Nước là sức mạnh tổng thể của
làng, cũng như làng là gốc của nước.
Từ rất lâu, những ngôi đình đã dựng mốc cho chuẩn mực văn hóa và định hình
cho đời sống tâm linh và đạo đức cho từng thành viên trong làng. Mỗi làng đều có
đình thờ Thành Hoàng. Thành Hoàng có thể là ông tổ của một nghề truyền thống nào
đó. Cũng có thể là những anh hùng dân tộc có công đánh giặc giữ nước, là người xuất
thân từ làng hoặc là người của nơi khác nhưng hóa than ở làng, có công lao với làng,
được dân tôn thờ làm Thành Hoàng. Những ngày mất, ngày sinh của Ngài trở thành
ngày hội để dân làng nhớ ơn, đến nơi đình làng bái vọng, chiêm ngưỡng tưởng niệm,
tạ ơn công đức. Đình làng là nơi hàng năm diễn ra lễ thần và hội làng – gọi chung là lễ
hội.
1.1.1.3. Lễ hội
Theo Từ điển Tiếng Việt thì đó là cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ
nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc. Ví dụ như hội đền Hùng, hội đón
xuân.
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là
một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là một
dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại
truyền thống, hoặc để giải phóng những nổi lo âu, biểu lộ những khát khao, ước mơ
mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Lễ hội gồm có hai phần: phần nghi lễ và
phần hội.
nhất, tập trung nhất văn hóa của mỗi cộng đồng về ăn, mặc, tín ngưỡng, phong tục tập
quán, tâm linh, các hình thức nghệ thuật, ca múa, rước xách – tức là không gian mạnh,
thời gian mạnh, là những rung cảm tinh tế của tinh thần cộng đồng làng xã; là yếu tố
cao nhất trong yếu tố phi vật thể của làng xã.
Từ lâu, lễ hội dân gian được nhìn nhận như một “bảo tàng sống” về những nét
đẹp văn hóa của cư dân bản địa. Là nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những
sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian, nơi phản ánh tâm thức người Việt, dù là tộc
người nào, một cách chân thực nhất.
Đầu tiên, lễ hội dân gian là nơi lưu giữ nhiều tín ngưỡng dân gian. Không có tín
ngưỡng không thành lễ hội. Theo GS. Ngô Đức Thịnh – Giám đốc Trung tâm nghiên
cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam thì: “Trong số 8.000 lễ hội ở Việt Nam,
có đến 7.000 lễ hội là lễ hội truyền thống, gắn với tín ngưỡng, thờ phụng thần linh, anh
hùng dân tộc, tổ tiên”. Tín ngưỡng của lễ hội dân gian Việt Nam được biểu hiện dưới
nhiều dạng như: thờ cúng Thành Hoàng, thờ Mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các ông
Tổ nghề của người Việt, thờ cúng Thần Nông của các đồng bào dân tộc phía Bắc, thờ
cúng Yang của người thiểu số Tây Nguyên… Ngoài ra, các tín ngưỡng dân gian còn
tiềm ẩn trong các trò diễn như tín ngưỡng thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần
Nước… mặc dù đôi khi sự tiềm ẩn đó khiến ta khó nhận diện các tín ngưỡng cổ xưa
ấy. Có thể nói, lễ hội dân gian chính là nơi đáp ứng nguyện vọng tín ngưỡng của nhân
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
dân, chính vì thế lễ hội là phương thức hiệu quả nhất để bảo tồn và lưu truyền những
cả của lễ hội, người dân không chỉ hưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ
nhân thật sự trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình.
Trong tất cả các loại hình văn hóa thì lễ hội là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm
các mặc tinh thần và vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng
và đời thường. Ngoài ra, lễ hội còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc
biệt, có sức hấp dẫn và lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, trở thành một nhu cầu, một
món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của con người. Trong thời
điểm lễ hội, mọi người đều hướng về cái thiêng, cái thiện. Văn hóa lễ hội từ đây mà
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
hình thành. Vì thế có thể nói lễ hội có một vị trí quan trọng trong cuộc sống văn hóa
tinh thần của con người là một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong cuộc sống xã
hội.
1.1.3. Phân loại lễ hội
Trên nền chung của tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng thờ thành hoàng và cơ
cấu tổ chức làng xã, hội làng thể hiện các sắc thái khác nhau ở từng cộng đồng cư dân
(nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp), từng vùng địa lý cảnh quan (đồng bằng,
trung du, ven biển), từng vùng hay tiểu vùng văn hóa. Thế nên trên đất nước ta có
nhiều loại hội (lễ hội) như hội nông nghiệp, hội ngư nghiệp, hội lịch sử, hội phồn thực
giao duyên, hội thi tài, hội văn nghệ giao duyên…
Có nhiều cách phân chia lễ hội. Giáo sư Đinh Gia Khánh phân hội lễ thành hai
loại: Loại lễ hội vốn có nguồn gốc tôn giáo (xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
bình an cho bản thân, cho gia đình và cho cộng đồng. Đó là khi du khách đến với lễ
hội dân gian, tâm thế lễ hội khiến con ngời trở nên khác thường, họ cầu xin thế lực
siêu nhiên thỏa mãn những khát vọng của mình, do vậy người ta thường không tiếc
tiền của, thời gian, sức lực. Mang lại nguồn lực không nhỏ cho ngành du lịch địa
phương. Qua đó có thể thấy, lễ hội dân gian có tác dụng hữu hiệu đối với ngành du
lịch không chỉ hôm nay mà cả ngày mai, ở cả hai mặc: giới thiệu văn hóa và kinh
doanh. Song, dù thế nào lễ hội dân gian vẫn luôn là sản phẩm văn hóa đặc biệt có sức
hấp dẫn và thu hút du khách, bởi đó là thế giới tâm linh, là nhu cầu thiêng liêng của
mỗi người, mỗi dân tộc.
1.1.5. Các yếu tố của lễ hội ản h hưởng đến việc thu hút khách du lịch
Yếu tố thời gian của lễ hội: Các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập
trung trong thời gian ngắn. Các lễ hội nhìn chung thường diễn ra vào mùa xuân. Có lẽ
ở thời điểm bắt đầu mỗi năm mới, con người càng có nhu cầu thông qua các lễ hội dân
tộc để nạp lại năng lượng sống bản năng nhằm tiếp tục “chiến đấu với đời”. Không chỉ
riêng đối với người Việt Nam, “tháng giêng là tháng ăn chơi”, một cái tháng giêng đã
có tới 91 lễ hội diễn ra trên phạm vi cả nước. Người Nga có “Maxlenisa”, người
Braxin có “Cacnavan”, người Lào có Bumpimay, người Campuchia có Chon Chnam
Thmay (lễ hội té nước…).
Có lễ hội được tiến hành trong khoảng một hai tháng, nhưng cũng có lễ hội diễn
ra trong một vài ngày. Trong thời gian lễ hội, khách du lịch (trong nước, quốc tế) tới
rất đông (với nhiều mục đích khác nhau, trong đó có cả mục đích du lịch). Sau khi hội
tan hầu như không còn du khách nữa.
Quy mô của lễ hội: Các lễ hội có quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Có lễ hội diễn ra
truyền, góp phần gìn giữ sự thống nhất đất nước.
Đình làng còn giữ vài chức năng tượng trưng như:
- Là nhà hát của làng, thời xưa cũng như ngày nay, nói đến lễ cầu an ở đình là
nói đến hát bội. Trước đình, dành một mặt bằng để xây cái “võ ca”, võ tức là vũ, theo
nghĩa miếu vũ, kiểu nhà không có vách. Võ ca nhìn thẳng vào bàn thờ Thần ở chánh
điện, vì hát bội là để “cúng” thần (dân cúng) như khi cúng con heo, nhang đèn, hoa
quả và cũng để cúng Trời Đất.
- Là kiểu sân vận động, ngày Kỳ Yên (cầu an) tổ chức đánh võ, kéo dây để biểu
dương sức mạnh của thanh niên ngày càng dồi dào, khi vào vận hội mới.
- Là nơi thờ các vị tổ sư ngành nghề thủ công.
- Thờ các vị thần quen thuộc, liên quan đến sinh kế địa phương, thí dụ như ông
Quan Công, bà Chúa Xứ, Cá ông, ông Bổn, ông Thần tài, nhất là nơi có dân chài lưới,
có người Hoa.
- Thờ Chiến sĩ trận vong, hy sinh vì Tổ quốc.
- Thờ các vị tiền hiền, hậu hiền có công khai phá, xin hợp thức hóa làng xóm
với chính quyền.
- Nội dung lớn, bao quát vẫn là thờ Tổ quốc, thần Thành Hoàng là đại diện của
nhà Vua, vua là con của trời, trời là khí âm, khí dương, Tổ quốc là giang san, sơn hà
xã tắc.
Thêm bàn Hội đồng nhằm thờ các vị thần ở vùng chung quanh làng, hoặc thần
Mục đồng (chăn trâu là nghề ích lợi cho nhà nông) các vị Ngũ hành… Đình làng mang
ý nghĩa tổng hợp, vì vậy ít khi mời nhà sư đến tụng kinh cầu an, thêm lễ xây chầu
mang ít nhiều đến tính cách của đạo Lão (vẽ bùa trừ ma quỷ), lời lẽ trong văn tế nhắc
đến kỷ cương xã hội, tức là đạo Khổng.
Nói chung, việc tham dự lễ hội đình làng đã ăn sâu trong tiềm thức của người
Việt. Ông nội đi đình làng, dắt theo con cháu, ông nội mất, con cháu đi dự, vì ông nội
mình đã đi. Dự lễ hội là hình thức báo hiếu. Vả lại đây không hẳn là một tôn giáo mà
chỉ là tập quán, dự một buổi hay mươi phút là đủ rồi. Lễ hội đình làng mang tính chất
thế tục: cúng với heo, vịt, tức là những món mặn, không chay, lại còn cúng với rượu,
không rượu không ra lễ hội (vô tửu bất thành lễ), người tham dự được khuyến khích ăn
những giây phút lân lân khó tả.
Đình làng trở thành dấu ấn ăn sâu vào tiềm thức. Yêu đình làng là yêu bà con
họ hàng, chòm xóm, yêu đất nước. Vì vậy, dự lễ hội ở đình làng là nhu cầu lớn. Ngày
nay, vài người cố phân biệt, đánh giá đình làng về hình thức, về kiến trúc, năm thành
lập, thậm chí tra cứu sắc phong của nhà vua. Công việc khoa học ấy rất cần, nhưng
người dân ít tha thiết gì đến công trình nghiên cứu ấy.
Nói chung đình ở Nam Bộ không xưa, nhưng là đất bị thực dân xem là thuộc
địa (như một tỉnh của nước Pháp) nên người dân đã đề cao, trân trọng ngôi đình, đó là
nơi nương tựa duy nhất về tinh thần tượng trưng có tính thống nhất của dân tộc, gắn
liền Bắc Nam, nơi có những đình làng cổ kính hơn, thờ Trời, thờ Đất, thờ nhà vua, vì
sắc phong thần ở đình (tuy ít ai biết chữ Hán để đọc) cần có con ấn của vua, màu son
hình vuông là được.
Phần lớn sắc phong ở Nam Bộ, ngay cả Sài Gòn và nơi có đình xưa như Gò
Vấp (Hạnh Thông Tây) đều được ban hàng loạt vào năm thứ năm đời Tự Đức (1852).
Không thể suy luận đình ấy, sắc thần ấy quá mới, không xứng đáng là di tích so với
vùng Huế hay đồng bằng sông Hồng. Thật ra, nếu đọc chữ nghĩa trong sắc, ta thấy ghi
rõ: “y cựu phụng sự”, nghĩa là cứ tiếp tục tổ chức tế lễ, như lúc trước khi có sắc năm
Tự Đức thứ năm ấy.
Chi tiết này xác nhận:
- Đình đã có từ trước ngày nhận sắc đời Tự Đức. Việc phong sắc mới, đời Tự
Đức chỉ là hình thức kiểm tra, ban quyết định mới như ngày nay ta thay đổi giấy chủ
quyền xe gắn máy, theo mẫu mới, nhưng đã có xe từ trước.
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
sắc phong, gọi nôm na là sắc thần.
1.2.2. Tín ngưỡng thờ Thần Thành Hoàng ở đình Nam Bộ
Thành hoàng là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam. Vị thần
này dù có hay không có họ tên và lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng
là chủ tể trên cõi thiêng của làng và đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ
nước giúp dân) ở ngay địa phương đó.
Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao
quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo
trợ cho cái thành.
Vì là vùng đất mới, nên ở Nam Bộ nhiều đình làng, thần chỉ có tên là Bổn cảnh
Thành hoàng hay Thành hoàng Bổn cảnh. Theo sách Minh Mạng chính yếu, quyển thứ
12, năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thì nhà vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Lễ xin hạ
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
lệnh cho các địa phương lập thêm thần vị Bổn cảnh. Đây là chức vụ mới, lúc trước
không phổ biến. Lê Phục Thiện, người dịch sách trên chú giải: Thành hoàng là vị thần
coi một khu vực nào. Bổn cảnh là cõi đất nơi mình được thờ. Nhà văn Sơn Nam cho
biết bởi đây là dạng viên chức được vua ủy quyền trừu tượng, trong rất nhiều trường
hợp, không phải là con người lịch sử bằng xương bằng thịt. Do vậy, đa phần không có
tượng mà chỉ thờ một chữ "thần" và thường cũng chỉ có mỹ hiệu chung chung là
"Quảng hậu, chính trực, đôn ngưng" (tức rộng rãi, ngay thẳng, tích tụ).
Dân ta tin rằng: Đất có Thổ công, sông có Hà bá; cảnh thổ nào phải có Thần
làng chỉ xây một cái đình lớn, phía ngoài làm nơi hội họp (đình), phía trong là miếu...
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
Vai trò và ý nghĩa: Như trên đã nói, thần Thành hoàng dù có hay không có họ
tên, lai lịch; và dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng
của làng và đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa
phương đó. Vai trò trên của thần còn có ý nghĩa hơn nữa, nhất là đối với những cư dân
từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam Bộ, vì lẽ họ đã gặp không ít khó
khăn do thiên tai địch họa, do thú dữ hoành hành... Điều đó có nghĩa, thần Thành
hoàng đã trở thành một biểu tượng tâm linh; bởi theo họ, chỉ có thần mới có thể giúp
cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt; giúp cho cuộc sống của họ ngày một thêm
ổn định, thịnh vượng.
Hiểu được nhu cầu tâm linh của người dân, cộng thêm ý muốn tạo lập một thiết
chế văn hóa - tín ngưỡng chính thống của vương triều, để nhằm xóa bỏ dần tầm ảnh
hưởng của các triều đại trước; nên dưới thời các vua đầu nhà Nguyễn, cứ ba năm xét
ban sắc phong thần một lần. Chỉ riêng năm 1852, có lẽ đoán trước thời nguy khốn của
đất nước trước thực dân Pháp, cho nên vua Tự Đức đã sai cấp đồng loạt 13.069 sắc
phong cho cả nước (nhiều nhất là ở Nam Bộ), cùng với việc “Quốc điển hóa” sự thờ
phụng; cũng chính là để nhanh chóng đạt được mục đích trên.
1.3. Thờ Phật ở chùa Nam Bộ
1.3.1. Khái quát về chùa ở Nam Bộ
Nói đến chùa, là nói đến Phật. Trong tâm trí người Việt đã hiện ra tư tưởng từ
nhang một lần. Đó là cử chỉ để nhớ đạo đức dân tộc trong ấy có lòng yêu Tổ quốc. Đi
chùa tháng Giêng còn là thái độ đoàn kết với đồng bào thôn xóm, phố phường, hẹn
nhau sẽ cố gắng giữ thái độ lạc quan, cùng tô điểm cho đất nước phồn vinh hơn, nhất
là sự ổn định gọi là cảnh thanh bình. Mỗi năm, thường có ba ngày rằm lớn là rằm
tháng Giêng, tháng Bảy và tháng Mười âm lịch, gọi Tam ngươn (nguyên) gồm Thượng
nguyên, Trung ngươn, Hạ ngươn được nhiều người chú ý vì mang tính nhân bản khá
cao. Ngày xá tội vong nhân, tương truyền các cửa ngục đều mở ra, người bị giam giữ
tha hồ rong chơi, tìm tự do, rồi trở vào ngục. Nhiều người dịp ấy bày cúng đơn sơ
trước sân với thức ăn đơn giản như: trái cây, mía, bánh ngọt. Người chết oan ức, vì tai
nạn, vất vưởng, không được những người cai quản cõi Âm lưu ý dịp ấy cũng được ăn.
Nhiều nơi cúng gạo, muối. Sau khi cúng, thức ăn được bố thí cho trẻ con được gọi đùa
là “cô hồn sống”. Ngày tưởng nhớ những người bất hạnh, chết ở “đầu bãi cuối gành,
hùm tha sấu bắt”. Nam Bộ là vùng đất mới khẩn hoang, nhiều người chẳng biết mồ mả
của ông nội, ông ngoại, hoặc chú bác ở đâu, thêm những năm chiến tranh dai dẳng,
nhiều người chết vì bom đạn, vì tai nạn giao thông... Về nghi thức mà xét, nếu những
thức ăn dâng cúng cho thần thánh, cho ông bà đều là món sạch, để người cúng “cộng
hưởng” với người khuất mặt, lấy sự may mắn, thì cúng cô hồn tháng Bảy mang ý
nghĩa khác. Đó là những món ăn bị ô uế (ma quỷ đã ăn rồi), nếu ăn là gặp xui xẻo,
nhưng vứt bỏ thì phí phạm. Thời xưa, ở nông thôn, lũ trẻ chăn trâu được ưu tiên ăn
uống những món ấy mà không sao cả, vì chúng là “con của ông Thần nông”. Ở thành
thị, ta quan niệm trẻ con ngây thơ ở hàng xóm giành giựt nhau cũng phải, vì chúng đều
vô tội. Đúng ý nghĩa xưa, rằm tháng Bảy là lễ Vu Lan, với sự tích đức Mục Liên nhờ
các sư cùng tụng niệm để cho mẹ được nhẹ tội. Đối với người kinh doanh lớn nhỏ, từ
rằm tháng Mười âm lịch trở về sau, là dịp tạ ơn Trời, Phật, Thánh thần. Lúc đầu năm
đã xin ân huệ thì cuối năm dù thành công hay thất bại cũng nhớ ơn, với lập luận: Ta
làm ăn phát tài, dồi dào sức khỏe nhờ sự phò trợ của đấng Thiêng liêng, nếu như năm
vừa qua làm ăn không khá, sức khỏe yếu kém thì chẳng qua ta thiếu đức, gặp năm xui
xẻo... Ngày mồng Năm tháng Năm âm lịch, gọi Tết Đoan Ngọ, ở Nam Bộ không dùng
tên gọi ấy, gọi cúng mồng Năm tháng Năm, cúng bánh ú, có góc nhọn, chẳng ai cần
tìm hiểu sự tích ông Khuất Nguyên bên Trung Hoa quá mơ hồ, xa xôi. Cúng bánh ú
được Việt Nam hóa, biến thành một phần của cơ thể văn hóa và xã hội Việt Nam. Vì
thế, Đạo Phật trong đời sống văn hóa dân tộc là máu và thịt, là tim và óc trong một cơ
thể của một con người.
Ngược dòng lịch sử, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, giữa lúc xã hội Ấn
Độ đang rối ren, nhân dân cơ cực lầm than, bởi chế độ phân chia đẳng cấp hết sức
khắc nghiệt, Thái tử Tất Đạt Đa, một Thái tử có lòng vị tha rộng lớn, chiêm nghiệm về
nỗi khổ ở đời, đã quyết định hy sinh đời sống vương giả, để tìm cách giải thoát đau
khổ cho nhân loại. Tất Đạt Đa, con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia nước Ca tỳ
la vệ, xứ Ấn Độ. Sau năm năm tầm đạo, sáu năm tu khổ hạnh, bốn mươi chín ngày
ngồi thiền định đưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã thành bậc chánh đẳng chánh giác, hiệu là
Thích Ca Mâu Ni.
Đạo Phật quan niệm bản thể của vũ trụ là chân như, có có, không không. Các
hiện tượng là vô thường, luôn luôn chuyển động. Trong sự sống có cái chết, chết là
điều kiện cho sự sinh thành mới. Và con người ở trong vòng luân hồi sinh tử.
Vào những năm đầu Công nguyên khi nước ta đang nội thuộc Trung Quốc, Phật
giáo đã dung hòa với hệ tư tưởng và tín ngưỡng dân tộc. Dựa vào các sử liệu, hiện nay
hầu hết các sử gia đều đồng ý với những điểm cơ bản như sau:
- Đạo Phật đã đến Việt Nam trước hết là đường biển, theo bước chân của các
doanh nhân và tăng sĩ Ấn Độ.
- Đạo Phật được truyền đến Việt Nam trước khi đến Trung Hoa, cũng như trong
giai đoạn khai sinh, Phật giáo Việt Nam cũng đã hưng thịnh hơn Phật giáo Trung Hoa
cùng thời.
Đến thế kỷ thứ II đã có một nền Phật giáo và Phật học hưng thịnh tại Việt Nam,
nghĩa là đạo Phật đã truyền bá trước đó khá lâu, ít nhất cũng phải hàng trăm năm
trước, nghĩa là ít nhất cũng vào khoảng thế kỷ thứ nhất hay sớm hơn. Trong “Lĩnh
Nam Chích Quái” của Vũ Quỳnh và Kiều Phú, truyện Nhất Dạ Trạch - còn gọi là
truyện Chử Đồng Tử - đã viết: “Hùng Vương truyền tới đời thứ ba thì sinh hạ được
người con gái là Tiên Dung Mỵ Nương, đến tuổi mười tám dung mạo đẹp đẽ nhưng
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
bá khắp thế giới, Phật giáo chưa bao giờ để lại một vết máu. Điều đó xuất phát từ bản
chất từ bi, vô ngã, vị tha của đạo Phật, bởi vì đạo Phật ra đời vì cuộc đời.
Trước khi Phật giáo du nhập, nước ta đã có một hệ thống tín ngưỡng, phong tục
trong dân gian vô cùng phong phú. Người Việt quan niệm rằng: “Ông Trời ở trên cao
có thể nhìn thấy mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ làm ác, giúp đỡ kẻ làm lành. Ông
Trời có những thuộc hạ gần xa. Gần thì có ông Sấm, bà Sét, xa có Sơn Tinh, Thủy
Tinh, thần núi Tản Viên, thần cây đa, ông Táo, ông Địa… Linh hồn con người không
hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại một thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác người
chết và có thể ở chung với người thân thích còn sống trong một thời gian để che chở,
bảo hộ.” (Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo Sử luận, tập I, trang 50).
Khi Phật giáo vào Việt Nam, tuy giáo lý nhà Phật không chấp nhận có một
đấng ở trên cao, có thể nhìn thấy mọi vật dưới đất, nhưng thuyết nhân quả nghiệp báo
của đạo Phật phù hợp với quan niệm ông Trời trừng phạt kẻ ác, thuyết luân hồi phù
hợp với quan niệm tồn tại sau khi xác thân tiêu hoại. Vì vậy, Phật giáo ứng hợp ngay
với quan niệm văn hóa nhân gian. “Phật giáo được truyền vào Việt Nam bằng phương
tiện hòa bình chứ tuyệt nhiên không phải là công cụ cho những thế lực xâm lược.
Cùng với phương châm từ, bi, hỷ, xả, trí tuệ, vị tha và nền giáo lý phù hợp với tín
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIÊU LỄ HỘI ĐÌNH, CHÙA NGƯỜI KINH TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN VÀ ĐÁNH
GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC DU LỊCH
ngưỡng truyền thống, nên đạo Phật thấm vào nền văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ
dàng như nước thấm vào lòng đất” (Nguyễn Lang - Việt Nam Phật giáo Sử luận). Như
thế, ngay từ buổi mới du nhập vào đất Việt, Phật giáo đã hòa quyện, hội nhập trong
1
Tên xã
Diện tích
Gia Hòa 1
27,66 km²
2
Tham Đôn
49,3 km²
3
4
5
6
7
Gia Hòa 2
Hòa Tú 1
Hòa Tú 2
Ngọc Đông
Ngọc Tố
23,14 km
31,86 km²
Xã này nằm giáp các xã: Đại Tâm,
14552 người Phường 10, Mỹ Xuyên, Thạnh Thới
Thuận, Ngọc Đông, Hòa Tú 1, Thạnh
Phú.
6783 người
7763 người
9109 người
8867 người
8342 người
Là một xã có 8 ấp thuộc huyện Mỹ
Xuyên
18727 người
19841 người
Thị trấn này nằm giáp các xã: phường
18936 người 3, 4, 9, 10, Tài Văn, Thạnh Thới An,
Thạnh Thới Thuận, Tham Đôn.
(Nguồn: tổng hợp từ trang vi.wikipedia.org)
Huyện Mỹ Xuyên có địa hình đồng bằng phù sa châu thổ, đất phù sa có tầng
đốm rỉ. Có sông Mỹ Thanh ở rìa phía Nam huyện, nhiều sông nhỏ như Nhu Gia, Du
Thơ...
Về giao thông: thì có quốc lộ 1A qua phía Tây Bắc huyện dài 26,5 km. Ngoài ra
còn có tỉnh lộ 11 và 7 tuyến đường huyện dài 88,4 km qua 21 cầu. Đường thuỷ 265 km
trên sông Mỹ Thanh và hệ thống kênh rạch.
Huyện Mỹ Xuyên còn có các di tích lịch sử văn hoá như: đình Hoà Tú đã được
công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia; bia Phú Lợi (Hoà Tú I), đình Thần Chợ Cũ (thị
trấn Mỹ Xuyên) được Ủy ban Nhân dân tỉnh công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
Mỹ Xuyên và 15 xã: Tài Văn, Đại Tâm, Tham Đôn, Viên An, Thạnh Thới An, Viên
Bình, Thạnh Thới Thuận, Thạnh Phú, Hoà Tú 1, Hoà Tú 2, Ngọc Đông, Ngọc Tố, Gia
Hoà 1, Gia Hoà 2, Thạnh Quới. Ngày 26 – 12 – 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành
Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Huyện Mỹ
Xuyên thuộc tỉnh Sóc Trăng.
2.1.3. Kinh tế
Mỹ Xuyên là huyện thuần nông, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp với cây trồng
chính là lúa. Với địa hình chủ yếu là đất nhiễm mặn, với 2 vùng nước mặn - lợ và
ngọt, Mỹ Xuyên xác định phải tập trung cho công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi. Huyện đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều lớp tập huấn về
kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc gia cầm, chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi nhằm nâng cao kiến thức về chăn nuôi và trồng trọt cho nhiều hộ gia đình. Từ
năm 2005 đến năm 2008, toàn huyện đã tổ chức được trên 150 lớp tập huấn về các mô
hình nuôi thủy sản nước mặn, nước ngọt, mô hình sản xuất lúa sạch chất lượng cao
xuất khẩu, mô hình trồng rau an toàn và kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm... cho bà
con nông dân.
BÙI THỊ NGỌC THƠ (6086571)
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP