ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ DỊU
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ DỊU
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ ĐỨC MINH
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Khái niệm cán bộ ......................................................................................... 7
1.1.2.
Khái niệm về đạo đức cán bộ ....................................................................... 10
1.1.3. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ ................................ 12
1.1.4. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ .................................. 13
1.2.
Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ ................ 26
1.2.1. Kế thừa giá trị tư tưởng đạo đức của dân tộc ............................................. 26
1.2.2.
Tiếp thu tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại ......................................... 27
1.2.3.
Năng lực tư duy và trí tuệ của cá nhân Hồ Chí Minh .................................... 29
1.3.
Quan hệ giữa đạo đức và pháp luật ....................................................... 31
1.3.1. Đạo đức và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội.......... 31
1.3.2. Đạo đức hỗ trợ, song hành và bổ sung cho luật pháp. Cụ thể là ................. 34
1.3.3. Pháp luật góp phần bảo vệ, củng cố các giá trị đạo đức xã hội .................. 41
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................ 47
Chương 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC VẬN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC
: Cán bộ - Công chức
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CT-XH
: Chính trị - xã hội
ĐĐCB
: Đạo đức cán bộ
KTTT
: Kinh tế thị trường
KT-XH
: Kinh tế -xã hội
MTTQVN
: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
lớn lao, nguyên khí suy thì nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài
giỏi đời xưa, chẳng có đời nào mà không chăm lo, nuôi dưỡng và đào tạo hiền tài,
bồi đắp thêm nguyên khí” (Trong lịch sử nước ta đã có nhiều người hiền tài xuất hiền
như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Giang Văn
Minh, Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ… ở thời đại chúng ta
cũng đã có nhiều người hiền tài xuất hiện, điển hình là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại –
người đã lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách
nô lệ của thực dân, phong kiến, giành lại chủ quyền độc lập, tự do cho đất nước và
khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Ngoài ra còn có khá nhiều người
hiền tài khác như: Kĩ sư Trần Đại Nghĩa, người chế tạo ra nhiều thứ vũ khí lợi hại cho
kháng chiến. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng Văn
Ngữ… đã bỏ ra bao công sức nghiên cứu, tìm tòi và chế tạo ra những thứ thuốc
kháng sinh quý giá để cứu chữa cho thương binh, bộ đội trên chiến trường. Nhà nông
học Lương Định Của suốt đời trăn trở, nghiên cứu cải tạo ra những giống lúa mới có
khả năng chống sâu rầy và cho năng suất cao để cải thiện cuộc sống nông dân, tăng
nguồn lương thực tiếp tế cho chiến trường miền Nam đánh Mĩ…).
V.I.Lênin, người thầy của giai cấp vô sản đã viết: “Trong lịch sử, chưa hề có
giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo được trong hàng ngũ
của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ
chức và lãnh đạo phong trào” [42, tr.437].
1
Đối với cách mạng nước ta hiện nay, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ có tầm
quan trọng vừa mang tính khoa học vừa là yêu cầu của cuộc sống, vừa có tính cấp
bách, vừa có tính cơ bản lâu dài. Từ Đại hội lần thứ VII (6- 1991) trở đi. Đảng ta đã
nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM) và trong thực tế, TTHCM đã trở thành
một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc ta. TTHCM đang soi
đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi. Trong hệ thống các nội
Vì vậy, để cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH, việc vận
dụng TTHCM về ĐĐCB để nâng cao đội ngũ cán bộ trong nước là vấn đề có ý
nghĩa sâu sắc. Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cán bộ” để nghiên cứu làm luận văn Thạc sỹ của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ đội ngũ
cán bộ, công chức (CBCC) là đòi hỏi khách quan cấp bách trong giai đoạn hiện
nay. Để bảo đảm điều đó trước hết phải tạo ra được cơ sở pháp lý bằng cách hoàn
thiện chế định pháp luật CBCC; Đảng và Nhà nước ta đã xác định cơ sở chính
trị của tiến trình đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và TTHCM. Vì thế trong những năm
gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu TTHCM về đạo đức cán bộ và nghiên
cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật CBCC. Liên quan tới nội dung nghiên cứu của
luận văn này có một số công trình sau:
- Thành Duy: Tư tưởng Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức, đạo đức và lợi ích công dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/1995.
- GS.TS Hoàng Thị Kim Quế có các bài: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
kết hợp pháp luật và đạo đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2002.
- Lương Hồng Quang: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo
đức trong quản lý xã hội, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện CTQG Hồ Chí
Minh, 2002.
- Trần Nghị: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vận dụng trong hoàn thiện
pháp luật cán bộ, công chức tại Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2003.
- Tác phẩm "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do các
tác giả Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên), Nhà xuất bản (Nxb)
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
3
4
phân tích, làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành TTHCM và làm rõ nội dung cơ
bản của TTHCM về ĐĐCB.
+ Phân tích thực trạng vận dụng TTHCM về ĐĐCB trong gian đoạn vừa qua.
+ Đề xuất quan điểm và giải pháp tiếp tục vận dụng TTHCM về ĐĐCB ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được tiến hành trên cơ sở quan điểm lý luận của chủ nghĩa MácLênin và TTHCM về ĐĐCB, về nhà nước và pháp luật cũng như những quan điểm
về vấn đề này trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp như: phương
pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic; phương pháp phân tích - tổng hợp, so
sánh, tổng kết thực tiễn.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn có những đóng góp mới về khoa học sau đây:
Một là, luận văn trình bày một cách tương đối có hệ thống nguồn gốc ra đời
và quá trình phát triển của TTHCM, những nội dung cơ bản trong TTHCM về
ĐĐCB.Thông qua việc phân tích, luận văn góp phần khẳng định cùng với lý luận
Mác-Lênin, TTHCM về ĐĐCB đóng vai trò nền tảng trong xây dựng và hoàn thiện
ĐĐCB ở nước ta hiện nay.
Hai là, luận văn chỉ ra yêu cầu khách quan của việc vận dụng TTHCM về
ĐĐCB ở nước ta hiện nay.
Ba là, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp tiếp tục vận dụng TTHCM
trong xây dựng, hoàn thiện ĐĐCB hiện nay.
7. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn góp phần cung cấp luận chứng về cơ sở lý luận và thực tiễn cho
công tác xây dựng đội ngũ CBCC, viên chức của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
mới và cải cách thể hiện trong Luật CBCC, nhằm giải quyết vấn đề mà thực tiễn
quản lý đặt ra. Khoản 1 Điều 4 của Luật CBCC quy định cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT-XH ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung
của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ
chức CT-XH thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo
nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị
được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước
Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản
pháp luật chuyên ngành tương ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ [43]. Do đó, căn cứ
7
vào các tiêu chí do Luật CBCC quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của
Đảng, tổ chức CT-XH sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ
của Đảng, của tổ chức CT-XH quy định cụ thể. Những ai là cán bộ trong cơ quan
nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức
Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân,
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và
các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên tiến nhất của giai cấp công nhân.
TTHCM về công tác cán bộ và sử dụng cán bộ là di sản vô giá mà Bác Hồ để lại
cho Đảng ta. Sinh thời, Người luôn quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng
cán bộ. Với quan điểm con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
thường thấy của cán bộ là chỉ biết phê bình người khác mà không muốn người khác
phê bình mình, không tự phê bình một cách thật thà, nghiêm chỉnh. Người chỉ rõ:
Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết
tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng
phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự
phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị
quần chúng bỏ rơi [25, tr.290]. Người còn nói thêm: Dân ta rất tốt, rất
yêu thương Đảng, yêu thương cán bộ. Khi ta có khuyết điểm mà nói
trước dân, chẳng những dân không ghét, không khinh, mà còn thương
yêu, quý trọng, tín nhiệm ta hơn nữa [26, tr.213].
Quán triệt tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 4 khóa XI đặc biệt nhấn mạnh tới những khuynh hướng tiêu cực
cần phải tránh trong việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình là: “vuốt ve ca
tụng”, “ngậm miệng ăn tiền” hoặc lợi dụng phê bình để mạt sát, nhục mạ, xúc
phạm nhau,...
Theo Người, người cán bộ có đạo đức nhưng lại phải có tài. Cán bộ chỉ có
đức mà thiếu tài thì cũng chẳng khác nào “những ông bụt ngồi ở trong chùa”.
“Tài”, theo TTHCM, bao gồm cả năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn.
Muốn có được những năng lực đó, người cán bộ phải chịu khó học tập, rèn
luyện, trước hết là học tập lý luận Mác-Lênin, sau đó phải chịu khó lăn lộn trong
9
thực tiễn. Bởi vì theo Người, lý luận luôn được bổ sung bằng những kết luận mới
rút ra từ trong thực tiễn sinh động.
1.1.2. Khái niệm về đạo đức cán bộ
* Khái niệm “đạo đức”: Là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ
hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người. Đạo đức là tập
hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xă hội, của một tập hợp
trì và củng cố những QHXH đang có; trái lại, giai cấp bị bóc lột tùy theo nhận thức
về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra
quan niệm đạo đức riêng của mình. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai
cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã
hội (KT-XH) thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt,
những hình thức cộng đồng chung. Tính kế thừa của đạo đức phản ánh "những luật
lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào" (Lênin). Đó là những yêu
cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với
người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội...
và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn... "không ai
nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất
cả các ngành tri thức khác của nhân loại" (Enghen).
Đạo đức nói chung, đạo đức cán bộ nói riêng có ảnh hưởng lớn tới đạo đức của
các đối tượng trong xã hội, tới mọi mặt đời sống nhà nước, xã hội, cơ quan, tổ chức.
Đạo đức cán bộ là tấm gương phản chiếu đời sống nhà nước, chế độ công vụ của một
quốc gia trong những thời đại nhất định thể hiện trình độ văn minh, văn hóa của hoạt
động công vụ. Bộ mặt của nhà nước, sự tín nhiệm từ nhân dân được đánh giá từ thái
độ, cách ứng xử của cán bộ trong hoạt động công vụ và trong lề lối sinh hoạt của họ. Vì
tất cả mọi hoạt động của Nhà nước đều do cán bộ nói chung, CBCC nói riêng thực
hiện. Từ quan điểm trên ta hiểu đạo đức cán bộ công chức ở hai khía cạnh sau:
Có thể hiểu đạo đức cán bộ là hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc hành vi,
quy tắc sử sự điều chỉnh ý thức, thái độ, hành vi, cách xử sự của cán bộ trong công
vụ và ngoài công vụ.
Qua quan điểm về đạo đức, trên cơ sở TTHCM về đạo đức cán bộ, cùng
những luận giải sơ bộ nêu trên về đạo đức, đạo đức cán bộ thì có thể rút ra kết luận
về đạo đức cán bộ như sau: Đạo đức cán bộ là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm
11
12
chất đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn
luyện đạo đức với mỗi người cách mạng.
Tóm lại từ những luận giải trên thì TTHCM về đạo đức cán bộ là hệ thống
những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những
nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới so với nền đạo đức cũ (Đạo đức thời phong
kiến) nhằm phát triển toàn diện con người trong thời đại mới.
1.1.4. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán bộ
1.1.4.1. Đạo đức cách mạng là gốc của cán bộ
Thứ nhất: Đạo đức là “gốc”, là nền tảng của người cách mạng, giống như cây
phải có gốc, sông, suối phải có nguồn, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng
làm nền tảng thì mới hoàn thành được sự nghiệp cách mạng cực kỳ gian khổ khó
khăn. Không phải ngẫu nhiên mà khi Lênin mất, Hồ Chí Minh đã viết những dòng
đầy xúc động trước tấm gương đạo đức trong sáng mẫu mực của người thầy vĩ đại:
“… Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh
thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và
cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc Châu Á và đã khiến
cho trái tim của họ hướng về người, không gì ngăn cản nổi…”. Còn trong “Đường
Cách mệnh” tác phẩm “gối đầu giường” của những người cách mạng Việt Nam, Hồ
Chí Minh đã dành chương đầu tiên để bàn về tư cách người cách mạng, sau đó mới
nói về lý luận và đường lối cách mạng. Với Hồ Chí Minh, “Đức là gốc” cho nên,
ĐĐCM không chỉ giúp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà còn giúp người
cách mạng không ngừng cầu tiến bộ và hoàn thiện bản thân mình.
Người có ĐĐCM thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại tạm thời... cũng
không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần gian
khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở
thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Vì “Đức là gốc” cho nên ĐĐCM
là thước đo lòng cao thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh,
người cán bộ, đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa chuyên. Thời chiến
cũng như thời bình, nơi chiến trường hay tại hậu phương, trong học tập, lao động,
sản xuất hay khi chiến đấu, Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán
bộ, đảng viên để họ thấm nhuần ĐĐCM, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư. Theo Người, chừng nào chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh thường mắc như
14
cậy quyền và cậy thế, kiêu ngạo và xa hoa, quan liêu và coi thường quần chúng, tự
kiêu và không muốn học tập, không thực hiện tốt phê bình và tự phê bình vẫn còn
hiện hữu, thì chừng đó cán bộ, đảng viên sẽ không thể hết lòng, hết sức phục vụ
nhân dân, hoàn thành những trọng trách mà nhân dân tin tưởng giao phó.
Vì vậy, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao tư cách người cách
mạng. Người đã dày công đào luyện đội ngũ cán bộ vừa biết trọn đời hy sinh cho lý
tưởng cao đẹp, vừa biết gắn bó máu thịt với nhân dân và hòa mình vào cuộc đấu
tranh vì nhân loại tiến bộ; đồng thời biết sống một cuộc sống giản dị và trong sạch.
TTHCM về đạo đức và ĐĐCM đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng ĐĐCM
của đạo đức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân
văn của các dân tộc Việt Nam với ĐĐCM của giai cấp công nhân.
Xét về lý luận, quan điểm “Đức là gốc” của Hồ Chí Minh có nội dung phong
phú, bao trùm và xuyên suốt toàn bộ tư tưởng ĐĐCM của Người.
1.1.4.2. Những yêu cầu cơ bản của đạo đức cán bộ
Nghiên cứu di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ta thấy Người có những
lời dạy với những phẩm chất đạo đức cụ thể cho từng đối tượng. Người nêu cái
đúng, cái tốt, cái hay, đồng thời cũng chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở để giáo dục đạo
đức cho các tầng lớp nhân dân. Qua đó, Hồ Chí Minh đã nêu bật những phẩm chất
đạo đức cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới. Đây cũng là những
phẩm chất của nền đạo đức mới, ĐĐCM Việt Nam và cũng là đạo đức cán bộ. Đó là
những phẩm chất đạo đức sau:
lượng mới với ý nghĩa cách mạng, hết sức sâu sắc, vượt xa những giá trị đạo đức
truyền thống Nho giáo. Người nói:
Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, trung là trung với vua, hiếu là
hiếu với cha mẹ mình thôi. Ngày nay nước ta là một nước dân chủ cộng
hòa (…), trung là trung với nước, hiếu là hiếu với dân [20, tr.640]. Và
người cách mạng hiếu với nhân dân nên tích cực tham gia chiến đấu để
giải phóng nước nhà, như thế không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu
bố mẹ người khác, bố mẹ cả nước nữa [19, tr.640, 94-95].
Trung - Hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương
Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới:
- Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước,
16
phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu". Nước là
của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân
dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”...
- Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh
đạo, vừa là đầy tớ trung thành của dân”.
- Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách
mạng. Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trung thành với
Đảng, với nhân dân”, và hơn nữa, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.
- Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân,
lấy dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân
sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ
đất nước. Yêu nước và trung thành với lý tưởng XHCN.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất đạo đức
bao trùm quan trọng nhất, đó chính là tiêu chuẩn số một của người cách mạng, là
tiêu chí để phân biệt những kẻ cơ hội, những kẻ giả danh cách mạng chỉ tìm mọi
gia đình, cụ thể là đối với cha mẹ “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, nghĩa là:
cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Hồ Chí
Minh đã khắc phục những hạn chế đó, Người đưa vào đạo “hiếu” một nội dung mới,
rộng lớn hơn. Đó là hiếu với nhân dân lao động, là chủ nhân của đất nước, không
phải là thần dân, con dân của vua như đạo đức phong kiến. Hiếu với dân theo Hồ
Chí Minh là biết dựa vào dân, tin ở dân, lấy dân làm gốc, tôn trọng và thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực và lợi ích thuộc về nhân dân, tận tụy phục
vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích của nhân dân, luôn gần dân, học
hỏi nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh không chỉ làm cuộc cách
mạng trong quan niệm “trung”, “hiếu” mà bản thân Người còn là tấm gương đạo
đức cách mạng mẫu mực về “trung với nước, hiếu với dân”. “Suốt đời tôi hết lòng
hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ
biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được
phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” [18, tr. 512]. Tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh soi chiếu, tỏa sáng trong sự nghiệp của chúng ta. Suy nghĩ, học tập về Người
chúng ta nhìn lại những thành quả đã đạt được và nghiêm khắc nhận ra những tồn
tại yếu kém, mà Đảng ta đã chỉ rõ, là vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
18
viên sa sút phẩm chất đạo đức, lối sống, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, làm
giảm lòng tin trong nhân dân. Vì vậy, thực hiện “trung với nước, hiếu với dân” xây
dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng hiện nay chính là luôn trung thành vô hạn với
Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức
cảnh giác, tinh thần trách nhiệm cao, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn hoàn
thành mọi nhiệm vụ được giao.
Người đã dạy: Mỗi người có ba trách nhiệm trước Đảng, trước dân, trước
công việc. Trong đó, trước hết cần có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trước
nhân dân làm cho thật tốt rồi đem kết quả đó báo cáo với Đảng, với cấp trên. Theo