BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN CÔNG KHANH
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
SINH HỌC CỦA SÂU ĂN LÁ ABROSTOLA SP.
(LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY HẠI
TRÊN CÂY MAI VÀNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN CÔNG KHANH
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,
SINH HỌC CỦA SÂU ĂN LÁ ABROSTOLA SP.
(LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY HẠI
TRÊN CÂY MAI VÀNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn đại học đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA SÂU
ĂN LÁ ABROSTOLA SP. (LEPIDOPTERA: NOCTUIDAE) GÂY
HẠI TRÊN CÂY MAI VÀNG”
Do sinh viên TRẦN CÔNG KHANH thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng
ngày ……………………………………………………………………………
Luận văn đã đƣợc hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức
……………………….…………………………………………………………
…………………………...
Ý kiến hội đồng:
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ
SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày…tháng…năm…
CHỦ NHIỆM KHOA
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
ii
Ngày…….tháng……năm……
(Ký tên)
TRẦN CÔNG KHANH
iv
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin chân thành biết ơn công lao sinh thành, nuôi dƣỡng
của Cha Mẹ. Ngƣời đã luôn chia sẻ, quan tâm và yêu thƣơng con bằng tất cả
tấm lòng.
Kính gửi thầy Lăng Cảnh Phú, giáo viên hƣớng dẫn lòng biết ơn sâu sắc.
Cám ơn thầy đã tận tình chỉ bảo và cho những lời khuyên bổ ích trong việc
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin gởi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô trong Bộ môn Bảo vệ Thực
vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trƣờng Đại học Cần Thơ, đã
truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tại
Bộ môn.
Xin tỏ lòng biết ơn thầy cố vấn học tập Ths. Nguyễn Chí Cƣơng đã luôn
chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn anh Đỗ Thành Đạt đã nhiệt tình hƣớng dẫn, đóng
góp ý kiến và cho những lời khuyên giúp em vƣợt qua khó khăn trong quá
trình hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm ơn các bạn trong lớp Bảo vệ Thực vật K37 đã giúp đỡ
rất nhiệt tình trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Trân trọng!
v
động từ 4 đến 18 ngày), thành trùng cái có thời gian sống trung bình là 13,27 ±
5,11 ngày (dao động từ 7 đến 24 ngày), đa số thành trùng cái đẻ trứng sau khi
vũ hóa 2 – 3 ngày, thời gian trung bình từ khi vũ hóa đến đẻ trứng là 2,77 ±
0,57 ngày (dao động từ 2 – 4 ngày), mỗi con cái đẻ trung bình 340,20 ± 178,12
trứng (dao động từ 98 đến 727 trứng) đối với thành trùng có bắt cặp, tỉ lệ trứng
nở khá cao dao động từ 75 đến 100%. Đối với thành trùng không bắt cặp, mỗi
con cái đẻ trung bình 49,10 ± 15,69 trứng (dao động từ 24 đến 84 trứng)
nhƣng trứng không nở.
vi
MỤC LỤC
TÓM LƢỢC
vi
DANH SÁCH BẢNG
ix
DANH SÁCH HÌNH
x
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
xi
MỞ ĐẦU
b. Ánh sáng
5
c. Lƣợng mƣa
5
d. Gió
6
e. Đất đai
6
f. Tƣới nƣớc
6
g. Tỉa cành tạo tán
7
h. Bón phân
7
1.2 Thành phần loài côn trùng gây hại trên mai vàng
vii
1.2.1.7 Rệp sáp mũ Ceroplastes rusci Linnaeus (Homoptera: Coccidae)
15
1.2.1.8 Sâu xếp lá Archips micaceana Walker (Lepidoptera: Tortricidae)
16
1.2.1.9 Sâu ăn nhụy hoa mai (Lepidoptera: Olethreutidae)
17
1.2.2. Một số loài gây hại chi Abrostola
17
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
21
2.1 Phƣơng tiện
21
2.1.1 Thời gian và địa điểm
24
3.1.1 Một số đặc điểm hình thái của sâu ăn lá Abrostola sp.
24
3.1.2 Một số đặc điểm sinh học của sâu ăn lá Abrostola sp.
29
3.2 Khảo sát khả năng sinh sản, tỉ lệ trứng nở và tuổi thọ thành trùng
của sâu ăn lá Abrostola sp.
33
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
35
4.1 Kết luận
35
4.2 Đề nghị
35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
29
3.3
Tỉ lệ trứng nở của sâu ăn lá Abrostola sp. ở điều kiện phòng thí
nghiệm
34
3.4
Khả năng đẻ trứng của sâu ăn lá Abrostola sp. ở điều kiện
phòng thí nghiệm
34
ix
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Thành trùng Abrostola urentis
20
2.1
Dụng cụ thí nghiệm
26
2.2
Nuôi ấu trùng và thành trùng sâu ăn lá mai vàng trong điều
kiện phòng thí nghiệm
28
3.1
Trứng của sâu ăn lá Abrostola sp.
25
3.2
Vỏ trứng của sâu ăn lá Abrostola sp.
25
3.3
Nhộng của sâu ăn lá Abrostola sp.
28
3.9
Thành trùng sâu ăn lá Abrostola sp.
29
3.10
Vòng đời của sâu ăn lá Abrostola sp.
30
3.11
Đặc tính đẻ trứng của sâu ăn lá Abrostola sp.
30
3.12
Đặc tính ăn của ấu trùng tuổi 2
31
3.13
Vì vậy, hoa mai được xem như là biểu tượng của ngày Tết cổ truyền miền
Nam, giống như miền Bắc xem hoa đào là biểu tượng của ngày Tết. Sắc vàng
tươi thắm của hoa mai tượng trưng cho sự thịnh vượng và hạnh phúc. Chính vì
vậy mà việc trồng và kinh doanh mai kiểng ngày càng phát triển rộng rãi.
Nhiều người xem nghề này là một nghề truyền thống “cha truyền con nối”,
những kinh nghiệm về nghề nghiệp được truyền từ đời này sang đời khác.
Nhiều địa phương cũng xem nghề này như làng nghề lâu đời của họ như làng
mai Phước Định – Vĩnh Long và Cái Mơn – Bến Tre từ lâu đã là hai làng mai
nổi tiếng của ĐBSCL. Nhiều quận, ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh
như Phú Nhuận, Gò Vấp, Thủ Đức, Củ Chi,…cũng là những vùng trồng hoa
mai nổi tiếng khắp cả nước. Song song với sự phát triển về diện tích thì tình
hình dịch hại cũng ngày càng trở nên phổ biến trên cây mai. Đặc biệt gần đây,
dịch hại sâu ăn lá Abrostola sp. xuất hiện ở một số vùng trồng mai ở ĐBSCL
gây nhiều khó khăn cho bà con nông dân trong quá trình sản xuất. Hầu hết
nông dân vẫn chưa am hiểu nhiều về khả năng gây hại của sâu ăn lá Abrostola
sp. cũng như đặc điểm về hình thái và đặc điểm về sinh học của loài côn trùng
nguy hại này. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
về loài côn trùng này.
Do đó đề tài: “Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học của sâu
ăn lá Abrostola sp. gây hại trên cây mai vàng” được thực hiện nhằm tìm
hiểu một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của sâu ăn lá để quản lí
và phòng trừ chúng một cách có hiệu quả trong thời gian tới.
1
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Sơ lƣợc về cây mai vàng
lụa “vỏ trấu” bọc bên ngoài. Khi vỏ lụa xòe ra thì xuất hiện một chùm hoa
2
con, có từ một đến mười nụ, tăng trưởng rất nhanh, khoảng bảy ngày sau là
nở. Trong chùm hoa này hoa to nở trước, hoa nhỏ nở sau, vài ngày mới nở hết.
Mỗi hoa bên ngoài có năm đài màu xanh, bên trong có năm cánh màu vàng, ở
giữa là một chùm nhụy mang phấn màu vàng đậm hơn. Hoa nở ba ngày thì
tàn: ngày thứ nhất, năm cánh và chùm nhụy xòe thẳng ra rất đẹp, ngày thứ hai
năm cánh cong lên và chùm nhụy chụm lại. Qua đến ngày thứ ba năm cánh bắt
đầu rơi xuống, hoa tàn. Hoa nào đậu thì bầu noãn phình to lên và kết hạt, hạt
non màu xanh, hạt già màu đen, hạt chín rụng xuống đất và mọc lên cây con.
Cây con vài năm sau mới ra hoa bói lần đầu tiên và cứ thế tiếp tục, mỗi năm ra
hoa đúng vào mùa xuân. Đó là chu trình của cây mai vàng (Huỳnh Văn Thới,
2002).
Mai có lá đơn mọc cách, kích thước lá thay đổi theo giống và điều kiện
dinh dưỡng. Khi cây còn non lá có màu đỏ nâu, khi trưởng thành lá có màu
xanh có nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp chất hữu cơ. Phiến lá mỏng hình bầu
dục, không lông, có 8 – 10 cặp gân phụ, bìa lá có gân thấp. Lá mai mọc gần
chụm đầu cành, khi già mặt lá bóng (Phạm Hoàng Hộ, 1999 và Trần Hợp,
2002).
Cây mai gieo hạt cho bộ rễ khỏe, có một rễ chính và nhiều rễ con (Huỳnh
Hoàng Thắng, 2001). Cây mai có rễ khá dài cắm sâu vào lòng đất để giữ thế
đứng cho cây. Rễ có nhiệm vụ hấp thu chất khoáng và nước. Rễ chính ăn sâu
hơn giúp cây có khả năng chịu được khô hạn (Việt Chương và Phúc Quyên,
2006).
Cây mai rụng lá tự nhiên vào tháng 11 và ra hoa vào dịp tết, tuy nhiên có
một chút sai lệch. Biểu hiện nở hoa đúng tết là ngày 23 tháng chạp, các nụ mai
tách vỏ trấu. Để cho hoa mai nở đúng tết thì ở Nam Bộ thường tỉa lá mai vào
15 tháng chạp, và việc tỉa lá mai đã trở thành phong tục. Tuy nhiên thời gian
cánh Gò Đen và mai 120 – 150 cánh Bến Tre.
Mai vàng nhiều cánh đột biến
Đột biến bất thường là do thời tiết, do cách trồng, do nở trái mùa nên
phát sinh nhiều hoa kỳ lạ, có khi có quá nhiều cánh, có khi có quá ít cánh. Mai
vàng đột biến nhiều cánh gồm: mai 14 – 15 cánh, mai 18 – 20 cánh, mai 36 –
40 cánh và mai 70 – 80 cánh.
Ngoài ra người ta ưa chuộng hoa mai lớn và nhiều lớp cánh tròn khít
nhau, vàng thắm và những cây mai đột biến về màu sắc như mai vàng viền đỏ,
mai vàng lá trắng, Hồng Diệp Mai,... và mai vàng đột biến hàng trăm cánh hoa
cũng được đánh giá cao (Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh, 2008).
1.1.4 Đặc tính sinh học tự nhiên của cây mai vàng
Nắm được đặc tính sinh học tự nhiên của mai sẽ giúp ích rất nhiều trong
việc phát huy ưu điểm nổi bật của mai và có cách khắc phục một số hạn chế
vốn có của nó để mau chóng thu được kết quả tốt nhất (Trần Văn Mười và
Nguyễn Thanh Minh, 2007).
4
a. Nhiệt độ
Thực tế cho thấy cây mai có thể sống được ở nhiều vùng khí hậu có nhiệt
độ khác nhau, dù là nơi nắng nóng trên 40oC hay những nơi tuyết phủ giá lạnh
dưới 10oC (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007). Trong những
trường hợp như vậy tuy là vẫn sống được nhưng đó là so sánh với những loại
hoa kiểng khác vốn không có được sức dẻo dai như mai. Còn nói chính xác
hơn thì mai dù vẫn tồn tại nhưng đã giảm đi rất nhiều hoặc thậm chí không
còn có thể phát triển được gì nữa (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh,
2007).
Thích hợp với mai nhất vẫn là những vùng đất có khí hậu nhiệt đới ấm
áp, đặc biệt khi được trồng ở miền Nam nước ta là nơi có nhiệt độ trung bình
d. Gió
Dù gặp gió to cây mai cũng khó ngã đổ nhờ vào bộ rễ rất tốt với rễ cái
cắm sâu trong đất nhưng thích hợp nhất để trồng mai kiểng vẫn là những vùng
có sức gió thấp khoảng 2 m/giây (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh,
2007).
Gió lớn thường xuyên sẽ làm lá cây bị khô héo do nước trong tán lá đã bị
gió làm bốc hơi nhanh chóng. Quan trọng hơn hết gió to sẽ làm nụ hoa bị rơi
rụng rất nhiều khiến cho cây khó ra hoa đúng mùa và đẹp mắt (Trần Văn
Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007).
e. Đất đai
Do có sức sống dẻo dai khỏe mạnh nên mai vẫn có thể sống được trong
môi trường đất sét, đất pha cát, đất lẫn đá sỏi hoặc một số loại đất nghèo nàn
chất dinh dưỡng mà một số loại cây trồng khác khó có thể phát triển được.
Tuy sống khỏe là vậy, nhưng muốn cây mai phát triển thật tốt, ra hoa đẹp như
ý muốn thì tốt nhất là phải chú ý lựa chọn loại đất màu mỡ giàu chất dinh
dưỡng nhất để trồng (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007).
Đất dự định trồng mai phải thật tơi xốp. Đặc biệt nếu tận dụng lại những
loại đất đã qua trồng trọt hoặc bỏ hoang lâu ngày hay đất rừng mới được khai
phá phải hết sức kỹ lưỡng để cải tạo lại bằng cách cày xới thật kỹ ít nhất là hai
lần, không những thế còn phải thu gom hết các gốc rễ tạp chất lẫn trong đất,
ngoài ra còn phải phơi nắng nhiều tháng để những mầm móng sâu bệnh bị diệt
trừ hết mới có thể lên liếp khai thông mương rãnh bắt đầu trồng mai được.
Ngay cả khi chọn được chỗ đất tốt để trồng mai cũng cần lưu ý địa thế chỗ đất
đó, nếu như rơi đúng vào chỗ thấp trũng, mỗi lần mưa xuống lại bị ngập úng
thì chỉ cần sau hai ngày cây mai sẽ bị vàng lá và chết do bộ rễ bị thúi. Để khắc
phục tình trạng này nên lên liếp trước rồi mới trồng mai xuống. Ngoài ra cũng
cần đào thêm một số mương rãnh thoát nước ở xung quanh để đề phòng
trường hợp mưa quá to hoặc ngập lụt bất ngờ cũng giữ được cây mai khỏi bị
ảnh hưởng đáng tiếc (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007).
f. Tƣới nƣớc
Thanh Phong, 2004), việc cành lá sinh trưởng quá yếu, khả năng đồng hóa sẽ
kém, ngược lại cành lá sinh trưởng quá mạnh, thời gian sinh trưởng kéo dài,
tiêu hao nhiều dinh dưỡng cho phần non trên cành, do đó việc phân hóa mầm
hoa gặp nhiều khó khăn, bởi vậy những cành lá phát triển với một mức độ vừa
phải là tốt nhất (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
h. Bón phân
Cây mai trồng dưới đất trong tự nhiên yêu cầu về phân bón không cao, vì
bộ rễ của nó có thể tự vươn xa để tìm nguồn dinh dưỡng cho cây (Thái Văn
Thiện, 2008), việc bổ sung thêm phân bón sẽ cải thiện được các khiếm khuyết
như: ít hoa, hoa nhỏ, dễ rụng (Huỳnh Hoàng Thắng, 2001). Ngược lại, cây mai
trồng trong chậu, nhu cầu phân bón cho cây là vấn đề quan trọng. Mai là cây
đa niên, khác hẳn cây ngắn ngày, do đó cần cung cấp nguồn dinh dưỡng thật
đúng và hợp lý mới có thể giúp cho cây sống bền với thời gian (Thái Văn
Thiện, 2008).
7
Theo Huỳnh Văn Thới (2006) thì ở giai đoạn phục hồi và phát triển, cây
mai tăng trưởng ra chồi nên lá cần thêm phân, có thể dùng phân: NPK 30 – 10
– 10 (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007). Còn ở giai đoạn làm nụ,
để kích thích cho cây ra hoa nhiều thì nên tăng hàm lượng P và K cao hơn, có
thể dùng phân: NPK 10 – 30 – 30 (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh,
2007).
Theo Thái Văn Thiện (2008), đối với cây mai có ba giai đoạn phát triển
cụ thể như sau: giai đoạn phục hồi và phát triển (từ tháng 2 đến tháng 5 âm
lịch), giai đoạn làm nụ (từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch), giai đoạn làm bông tết
(từ tháng 10 âm lịch trở đi). Và cách bón phân cho từng giai đoạn được thể
hiện chi tiết như sau:
Bảng 1.1: Lịch bón phân cho cây mai vàng theo Nguyễn Văn Hai, 2007.
Từ tháng 10
âm lịch trở đi
a. Rong biển (Seaweet)
b. KNO3
Hai loại này là phân bón qua lá. Tùy theo tình trạng lá mà
chọn loại thích hợp. Nó sẽ giúp hoa đẹp và lâu tàn
1.2 Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây mai vàng
Do chưa có vùng trồng mai đại trà nên các nghiên cứu về sâu bệnh trên
mai chưa nhiều. Thông thường mai bị các loại sâu chủ yếu là sâu ăn lá, nhện
đỏ và quan trọng nhất là bọ trĩ Frankliniella sp. gây hại trên đọt và lá non
(Đặng Phương Trâm, 2005).
8
Thành phần loài côn trùng gây hại trên cây mai vàng bao gồm: sâu đục
thân, sâu tơ, ong cắt lá, rầy đen, rầy bông (Huỳnh Văn Thới, 2002). Theo Trần
Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh (2007) thì thành phần loài côn trùng gây
hại trên cây mai vàng gồm có bọ trĩ, nhện đỏ, rầy bông, sâu đục thân, sâu nái,
sâu tơ.
Theo Việt Chương và Phúc Quyên (2006) thì những loài côn trùng gây
hại trên mai bao gồm bọ trĩ, nhện đỏ, sâu đục thân, sâu nái.
1.2.1 Đặc điểm một số loài gây hại phổ biến
1.2.1.1. Bọ trĩ Scirtothrips dorsalis Hood (Thysanoptera: Thripidae)
Sự phân bố
Pakitan, Nhật Bản, các quần đảo Solomon, Australia, Ấn độ,
non hoặc trong cành non. Chu kỳ sinh trưởng 13 – 20 ngày, giai đoạn nhộng 3
– 4 ngày. Sau khi hoàn thành giai đoạn tuổi 2, một số ấu trùng sẽ rơi xuống đất
để hóa nhộng, một số khác hóa nhộng trong các khe nứt của cây hoặc trong
các lá cuốn lại (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000).
Sự gây hại
Trên hoa, bọ trĩ tấn công từ giai đoạn còn búp cho đến khi hoa nở. Khi bị
gây hại, các cánh hoa bị khô, vết khô héo bắt đầu từ rìa của cánh hoa, sau đó
cả cánh hoa có màu nâu vàng úa và tóp lại nhưng không rụng (Nguyễn Thị
Thu Cúc và Trần Thị Thu Thủy, 2014).
Trên lá, sự gây hại của bọ trĩ sẽ tạo nên những chấm nhỏ li ti có màu nâu
rải rác trên lá, khi bị gây hại nặng các vết chích sẽ liên kết tạo thành những
mảng lớn biến màu. Bọ trĩ S. dorsalis gây hại cả trong mùa nắng lẫn mùa mưa
nhưng mật số thường rất cao vào mùa nắng nóng (Nguyễn Thị Thu Cúc và
Trần Thị Thu Thủy, 2014).
Một số biện pháp phòng trị
Kỹ thuật canh tác: Sử dụng biện pháp phun nước lên cây có thể hạn chế
mật số bọ trĩ.
Biện pháp sinh học: Bọ trĩ Franklinothrips megalops, Scolothrips
indicus và Erythrothrips asiaticus là thiên địch phổ biến của S. dorsalis, ngoài
ra còn có loài Geocoris ochropterus cũng được ghi nhận là thiên địch quan
trọng của S. dorsalis.
Biện pháp hóa học: Mặc dù không phải là một biện pháp lý tưởng
nhưng cho đến nay biện pháp hóa học vẫn là biện pháp được áp dụng phổ biến
để phòng bọ trĩ. Nhiều loại thuốc có hiệu quả cao đối với bọ trĩ, có thể sử dụng
các loại thuốc sâu phổ biến như Comite, Carsulfan, Phosalone, Benfuracarb,
Prothiophos, Confidor, Regent, Trebon, Cypermethrin, Disulfoton, Sagolex…
Tuy nhiên cũng giống nhện gây hại, bọ trĩ cũng có thể lờn thuốc nhanh vì vậy
cần luân phiên sử dụng các thuốc có gốc hóa học khác nhau (Nguyễn Thị Thu
Cúc, 2000).
1.2.1.2. Nhện đỏ họ Tetranychidae – Acari
nhện còn truyền các bệnh virus, nấm nguy hiểm cho cây (Nguyễn Văn Đỉnh,
2004).
Tác hại dễ nhận thấy do nhện gây nên thường là làm mất màu lá, quả và
cây: đây là hiện tượng phổ biến nhất. Đa số các loại nhện nhỏ hại khi hút dịch
trên cây tạo nên các vết chấm nhỏ li ti, ban đầu những vết nhỏ có màu vàng,
khi mật độ quần thể nhện hại tăng, nhiều vết chấm gộp lại với nhau tạo nên
một diện tích lá hoặc quả mất màu xanh đặc trưng. Những diện tích có các tế
bào đã chết không phục hồi được mà các hoạt động sinh lý sinh hóa tiếp tục
xấu đi, màu sắc tiếp tục biến vàng (Nguyễn Văn Đỉnh, 2004).
1.2.1.3. Nhện đỏ Tenuipalpus pacificus Baker (Acari: Tenuipalpidae)
Kết quả nghiên cứu của Baker and Bambara (1994) về nhóm nhện gây
hại thuộc họ Tenuipalpidae (Acari) ghi nhận có khoảng gần 10 loài khác nhau
gây hại trên rất nhiều đối tượng cây trồng từ cây cảnh, cây ăn trái, rau cải…
Tuy nhiên đa số trong chúng gây hại trên họ Phong Lan (Orchidaceae), những
11
loại gây hại quan trọng ghi nhận được ở Mỹ gồm có: Tenuipalpus orchidarum,
Tenuipalpus pacificus, Tenuipalpus orchidofilo, Brevipalpus oncidi. Một số
loại khác như: Brevipalpus inornatus gây hại quan trọng trên cây cảnh than gỗ
ở Đông Bắc Mỹ, loài Brevipalpus phoenicis gây hại đặc biệt nghiêm trọng
trong điều kiện trồng ở nhà kính trên các đối tượng thuộc nhóm citrus… Họ
Tenuipalpus (Acari) được phát hiện ở khắp Bắc Mỹ, một phần Châu Âu, Đông
Nam Á và Australia.
Nhện đỏ Tenuipalpus pacificus (Baker) (họ Tenuipalpidae) gây hại phổ
biến trên cây hoa lan được trồng trong điều kiện nhà kính ở Florida. Được biết
loài này cũng hiện diện và gây hại ở Australia, Brazil, Anh, Đức, Hà Lan,
Philippin, Panma, Hoa kỳ… Loại này không giăng tơ như các loại nhện gây
hại khác. Đây là loại gây hại trên lan ở vùng nhiệt đới và có thể trở thành dịch
hại của nhóm Dương Xỉ (Filicinae). Vòng đời của chúng thường khoảng 2