một số đặc điểm sinh học và sự mẫn cảm của ong đa phôi copidosomopsis nacoleiae (eady) (hymenoptera: encyrtidae) với một số loại thuốc trừ sâu - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÂM VĂN LINH

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỰ MẪN CẢM
CỦA ONG ĐA PHÔI Copidosomopsis nacoleiae (Eady)
(Hymenoptera: Encyrtidae) VỚI MỘT SỐ
LOẠI THUỐC TRỪ SÂU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ – 2014


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỰ MẪN CẢM
CỦA ONG ĐA PHÔI Copidosomopsis nacoleiae (Eady)
(Hymenoptera: Encyrtidae) VỚI MỘT SỐ
LOẠI THUỐC TRỪ SÂU

Giáo viên hƣớng dẫn:
Ths. Phạm Kim Sơn

Sinh viên thực hiện:

LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha mẹ đã hy sinh cả cuộc đời này cho con và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tốt
đẹp nhất cho con đƣợc ăn học đến ngày hôm nay.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Cô Nguyễn Thị Thu Cúc đã tận tình hƣớng dẫn, gợi ý và cho những lời khuyên
hết sức quý giá trong nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Thầy Phạm Kim Sơn đã tận tình hƣớng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm
quý báu giúp em hoàn thành bài luận văn này.
Chị Từ Ngọc Hiếu đã đóng góp nhiều ý kiến quý giá trong quá trình làm việc.
Anh Danh Thanh Toàn và Trần Thanh Văn lớp cao học Bảo Vệ Thực Vật k19 đã
cho nhiều lời khuyên giúp em vƣợt quá khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài.
Các bạn Huỳnh Thành Đạt, Huỳnh Thanh Suôl, Huỳnh Hƣng, Vũ Đình Tuấn, Lê
Thanh Bình lớp Bảo Vệ Thực Vật K37, đã chia sẽ với tôi nhiều kiến thức trong quá
trình hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn
Thầy cố vấn học tập Nguyễn Chí Cƣơng đã quan tâm và dìu dắt em hoàn thành
khóa học. Quý thầy cô, trƣờng Đại Học Cần Thơ, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng
dụng đã tận tình truyền dạy nhiều kiến thức trong suốt thời gian học tại trƣờng.
Các bạn lớp Bảo Vệ Thực Vật K37 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học
tập tại trƣờng.

Lâm Văn Linh

iii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và các
kết quả trình bày trong luận văn trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trƣớc đây.

thƣờng vũ hóa từ 21 giờ đến 8 giờ sáng hôm sau, 1–2 giờ sau vũ hóa ong đã bắt cặp.
Tỷ lệ vũ hóa của ong đa phôi trong điều kiện tự nhiên khá cao lên đến 96%, không có
khác biệt giữa quần thể đực và cái. Mật số trung bình của một quần thể ong đực
(245,5±47,9) thƣờng thấp hơn mật số trung bình của một quần thể cái (274,8±37,2).
2. Trong điều kiện phòng thí nghiệm và điều kiện nhà lƣới, cả ba loại thuốc
Virtako, Abatimec, Voliam Targo đều có tác động mạnh đến thành trùng ong C.
nacoleiae (ong có tỷ lệ chết 100% ở thời điểm 12 giờ SXL trong điều kiện phòng thí
nghiệm và 24 giờ trong điều kiện nhà lƣới), trong khi Chess có tác động thấp hơn
nhiều. Bên cạnh đó, thuốc Chess cũng không ảnh hƣởng đáng kể đến sự ký sinh của
ong khi trứng sâu cuốn lá nhỏ bị nhiễm thuốc, trái lại 3 loại thuốc Virtako, Voliam
Targo và Abatimec đều tác động mạnh đến sự sống sót của ong đa phôi. Tuy nhiên cả
4 loại thuốc khảo sát đều không ảnh hƣởng đến tỷ lệ vũ hóa của ong đa phôi khi sâu
cuốn lá nhỏ (đã nhiễm ong đa phôi) tiếp xúc với từng loại thuốc trong khoảng thời
gian ngắn. Kết quả còn cho thấy, Virtako và Chess có mức độ lƣu tồn khá cao trên các
cây lúa. Hai loại thuốc còn lại có độ lƣu tồn thấp, đặc biệt là Abatimec.

v


MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG .................................................................................................ix
DANH SÁCH HÌNH ..................................................................................................ix
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT .................................................................................... xi
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG I LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU..................................................................... 2
1.1 TÌNH HÌNH DỊCH HẠI TRÊN CÂY LÚA ...................................................... 2
1.1.1 Tình hình chung........................................................................................... 2
1.1.2 Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal. ................................................................. 2
1.1.3 Sâu phao Nymphula depunctalis Guenée ..................................................... 3
1.1.4 Rầy lƣng trắng Sogatella furcifera Horvath ................................................. 3

1.7.3 Virtako 40WG ........................................................................................... 19
1.7.4 Voliam Targo 63SC ................................................................................... 20
CHƢƠNG II PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP ............................................ 21
2.1 PHƢƠNG TIỆN .............................................................................................. 21
2.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu ................................................................................. 21
2.1.2 Thời gian và địa điểm thực hiện: ................................................................ 21
2.1.3 Vật liệu dùng trong thí nghiệm ................................................................... 21
2.1.4 Chuẩn bị vật liệu cơ bản cho thí nghiệm: .................................................... 21
2.2 PHƢƠNG PHÁP THỰC HIỆN ....................................................................... 23
2.2.1 Khảo sát một số đặc điểm sinh học của ong đa phôi
C. nacoleiae trong điều kiện phòng thí nghiệm. .................................................. 23
2.2.1.1 Thời gian phát triển vòng đời của ong đa phôi. ..................................... 23
2.2.1.2 Sự sinh sản ........................................................................................... 24
2.2.2 Tác động của một số loại thuốc trừ sâu đến ong đa phôi. ............................ 25
2.2.2.1 Trong điều kiện phòng thí nghiệm. ....................................................... 25
a. Tác động của thuốc trừ sâu đến sự sống sót của ong đa phôi ...................... 25
b. Ảnh hƣởng của 4 loại thuốc trừ sâu đến khả năng ký sinh
của OĐP khi trứng SCLN bị nhiễm thuốc. .................................................... 25
c. Ảnh hƣởng của 4 loại thuốc đến khả năng vũ hóa của OĐP
khi sâu cuốn lá nhỏ nhiễm đa phôi bị nhiễm thuốc. ........................................ 27
2.2.2.2 Trong điều kiện nhà lƣới ....................................................................... 27
a. Tính độc của 4 loại thuốc trừ sâu đối với ong đa phôi C. nacoleiae............ 27

vii


b. Sự lƣu tồn của 4 loại thuốc trừ sâu và ảnh hƣởng của sự lƣu tồn thuốc
đến sự sống sót của ong đa phôi. ................................................................... 28
CHƢƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................... 30
3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ONG ĐA PHÔI

DANH SÁCH BẢNG
Bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Nồng độ sử dụng các loại thuốc trong khảo sát tính độc của thuốc

23

3.1

Sự liên hệ giữa thời gian phát triển của ong đa phôi C. nacoleiae
(Eady) với ký chủ Cnaphalocrosis medinalis Guenée trên giống lúa
Jasmine 85 trong điều kiện nhà lƣới

30

3.2

Thời gian phát triển và vòng đời của ong đa phôi

33

3.3

Khả năng ký sinh của OĐP và sự sống sót của ong đa phôi trong quá


3.8

Tỷ lệ vũ hóa và thời gian sống sót của ong C. nacoleiae
từ các SCLN (đã bị nhiễm ký sinh) bị nhiễm thuốc.

45

3.9

Tác động của 4 loại thuốc đến sự sống sót của thành trùng ong đa
phôi C. nacoleiae trong điều kiện nhà lƣới theo từng thời điểm khảo
sát

47

3.10

Thời gian lƣu tồn và tác động của sự lƣu tồn thuốc đến sự sống sót
của ong đa phôi C. nacoleiae.

48

3.11

Thời gian lƣu tồn và tác động lƣu tồn của một số loại thuốc trừ sâu
đến sự sống sót của OĐP.

49


3.1 Ong C. nacoleiae ký sinh lên trứng sâu cuốn lá nhỏ

31

3.2

Ấu trùng SCLN bị ký sinh kéo tơ hình thành bao nhộng

31

3.3 Ấu trùng sâu cuốn lá nhỏ bị ký sinh

32

3.4 Ống trứng của ong C. nacoleiae

33

3.5 Ấu trùng sâu cuốn lá nhỏ bị ký sinh bởi ong C. nacoleiae

34

3.6 Ấu trùng của ong C. nacoleiae

35

3.7 Ấu trùng ong đa phôi mới hóa nhộng

36


50

x


DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Từ viết thƣờng

Ha

Hecta

SCLN

Sâu cuốn lá nhỏ

OĐP

Ong đa phôi

SXL

Sau khi xử lý

SBKS

Sâu cuốn lá nhỏ bị nhiễm đa phôi.

bƣớc đầu xác định một số đặc điểm sinh học cũng nhƣ tập tính ký sinh của ong
đa phôi Copidosomopsis nacoleiae (Eady) và xác định tác động của bốn loại
thuốc trừ sâu (hiện nay đƣợc sử dụng phổ biến) đến sự sống sót của
Copidosomopsis nacoleiae nhằm khuyến cáo sử dụng các loại thuốc này trên
đồng ruộng.

1


CHƢƠNG I
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH DỊCH HẠI TRÊN CÂY LÚA
1.1.1 Tình hình chung
Các tỉnh miền Bắc qua điều tra sơ bộ (năm 1967–1968) đã xác nhận có 88
loài sâu hại trên lúa trong tổng số 461 loài côn trùng có mặt trên cây lúa. Ở các
tỉnh miền Nam (1977–1979) đã phát hiện 78 loài sâu hại lúa. Năm 1999 theo báo
cáo tổng kết của Cục BVTV thì trên cây lúa trên cả nƣớc có các loài sâu hại chủ
yếu gây thiệt hại đáng kể tới năng suất lúa sau đây: rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, sâu
đục thân hai chấm, bọ xít dài, sâu năng, sâu phao, bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá,
ốc bƣơu vàng và chuột hại (Hà Quang Hùng, 2005).
Theo báo cáo của Cục BVTV, trong 30 năm (1976–2005) đã thu thập đƣợc
27 loài côn trùng gây hại và 16 loài bệnh hại và 3 loài động vật khác gây hại phổ
biến trên cây lúa. Các loài côn trùng này thuộc 15 họ, 6 bộ. Trong số này, bộ
Lepidoptera có số lƣợng loài lớn nhất gồm 12 loài thuộc 3 họ, trong đó họ
Pyralidae và Noctuidae có số loài chiếm ƣu thế là 11 loài. Bộ Coleoptera có 5
loài thuộc 3 họ, trong đó họ Coreidae và Pentatomidae mỗi họ có 2 loài. Bộ
Homoptera có số họ lớn nhất (4 họ), 5 loài trong đó họ Delphacidae có hai loài,
các họ khác mỗi họ có một loài. Bộ Diptera có 3 họ, mỗi họ có 1 loài. Bộ
Orthoptera và Thysanoptera mỗi bộ có 1 họ, mỗi họ có 1 loài. Về bệnh hại, nhóm
nấm Mycelia moniliales có số lƣợng loài lớn nhất, 8 loài thuộc 3 họ trong đó họ

khoảng 1,2mm, đầu màu vàng nhạt. Từ tuổi 2, mình sâu chuyển thành màu xanh
lục, trong suốt. Sau có 5 tuổi, phát triển từ 15 đến 25 ngày. Sâu có sáu đôi mang
giả ở dọc hai bên cơ thể do đó sâu không thở bằng khí khẩu mà thở bằng mang
giả bằng cách lấy oxy từ nƣớc chứa trong ống phao. Vòng đời sâu từ 19–37 ngày
(Lê Thị Sen, 1999).
1.1.4 Rầy lƣng trắng Sogatella furcifera Horvath
Thành trùng có kích thƣớc cơ thể dài từ 3–4mm, thân màu nâu đen. Giữa
ngực trƣớc có một vệt màu vàng lợt. Cánh trong suốt và có một đốm đen ở ngay
giữa cạnh sau của cánh trƣớc, khi cánh xếp lại tạo thành một đốm đen to trên
lƣng. Thành trùng cái vừa có dạng cánh ngắn và dạng cánh dài, trong khi rầy đực
chỉ có một dạng cánh dài. Tuổi thọ của thành trùng từ 15–20 ngày. Rầy cái dùng
bộ phận đẻ trứng bén nhọn ở cuối bụng rạch bẹ lá hoặc gân lá đẻ thành từng hàng
trứng vào trong bẹ cây lúa, mỗi ổ từ 5–20 cái, một rầy cái có thể đẻ từ 300–350
trứng trong vòng hai tuần. Trứng tƣơng tự trứng Rầy Nâu nhƣng nấp nhọn hơn
và dài hơn. Trứng đƣợc đẻ vào trong bẹ lá hay gân chính của lá, gần cổ lá. Thời
gian ủ trứng từ 5–7 ngày. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 15–20
ngày. Khi mới nở màu trắng sữa, trông rất giống ấu trùng Rầy Nâu; nhƣng bắt
đầu sang tuổi 2 toàn thân rầy có màu xám, giữa bụng ở mặt lƣng có một đốm
trắng, cuối bụng nhọn hơn phần cuối bụng của Rầy Nâu (Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen, 2011).
1.1.5 Bù lạch Stenchaetothrips oryzae Bagnall

3


Bù lạch rất nhỏ, dài từ 1–1,5mm, màu nâu đen hoặc màu nâu đỏ. Hai đôi
cánh hẹp, mang nhiều lông nhƣ lông chim trĩ nên còn có tên là "bọ trĩ", xếp dọc
trên lƣng khi nghỉ. Thành trùng cái đẻ khoảng 12–14 trứng, nhiều nhất là 25–30
trứng. Đa số bù lạch sinh sản theo phƣơng thức đơn tính, tỉ lệ cái/đực thƣờng rất
lớn (trên 95%). Tuổi thọ của thành trùng cái từ 15–30 ngày. Ấu trùng có 4 tuổi,

Quốc, Thái Lan và Việt Nam (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011; Lê

4


Lƣơng Tề, 2000). Ở nƣớc ta sâu cuốn lá nhỏ gây hại phổ biến ở tất cả các vùng
ruộng trồng lúa.
1.1.7.2 Phạm vi ký chủ
Ngoài lúa là thức ăn chính, sâu cuốn lá nhỏ còn phá hại trên mía, bắp,
sorgho, củ cải đƣờng,… (Pathak, 1994; Reissig et al., 1993). Theo Reissig et al.
(1993) và Nguyễn Công Thuật (2002) thì một số loại cỏ cũng là ký chủ phụ của
sâu cuốn lá nhỏ nhƣ cỏ lồng vực, mần chầu, cỏ bắc, cỏ cựa gà, cỏ đuôi voi, cỏ
đẳng hoa, lông tây, san sát, cỏ mía, cỏ tranh, lúa ma, stylosanthes. Ngoài ra, sâu
cuốn lá nhỏ còn có thể phá hại trên lúa mì, kê, lau, cỏ lồng vực, cỏ lá tre (Nguyễn
Đức Khiêm, 2006).
1.1.7.3 Đặc điểm gây hại và tập tính sinh sống
Cùng với việc sử dụng các giống lúa cải tiên kết hợp với sử dụng nhiều
phân bón và thuốc hóa học, sâu cuốn lá nhỏ đã trở thành một trong những sâu hại
lúa quan trọng nhất ở Việt Nam. Dựa trên mức độ quan trong về kinh tế sâu cuốn
lá nhỏ đã đƣợc phân loại vào nhóm 1 là nhóm dịch hại chủ yếu, hằng năm thƣờng
phát sinh trên diện rộng ở nhiều vùng trồng lúa và gây thiệt hại đáng kể về kinh
tế (Nguyễn Công Thuật, 2002).
Sâu non mới nở ra rất nhanh nhẹn, bò khắp trên lá, thân và chui vào lá non,
mặt trong của bẹ lá ăn phần xanh, chừa lại lớp màng trắng mỏng trên lá lúa. Sang
tuổi 2, sâu bò đến các lá già nhả tơ ở 2 bìa lá lúa khoảng giữa lá, sợi tơ gặp không
khí sẽ khô và rút hai bìa lá lại, mặt trên cuốn vào bên trong thành một cái bao
theo chiều dọc lá lúa, sâu ẩn trong đó và cạp ăn phần xanh của lá lúa để sinh
sống. Chỉ có một sâu trong một cuốn lá. Sâu tuổi lớn có thể ăn 1–2 lá lúa trong
một ngày và có khả năng nhả tơ dệt gập lá theo chiều ngang, đối khi chập 2–5 lá
cuốn thành một bao. Sâu nằm trong bao, có thể cắn phá suốt ngày đêm. Sâu còn

quan trọng kinh tế của các loài sâu hại lúa đã đề cập đến sự thay đổi của sâu cuốn
lá nhỏ. Mức độ quan trọng của sâu cuốn lá nhỏ tăng dần từ thập niên 50 đến thập
niên 90 của thế kỷ 20. Trong những năm 50, 60 thì sâu cuốn lá nhỏ là dịch hại ít
gặp hay là thƣờng gặp nhƣng ít quan trọng về kinh tế, tuy nhiên từ thập niên 80
trở đi thì sâu cuốn lá nhỏ lại trở thành dịch hại thƣờng xuyên gây hại trên diện
rộng và đƣợc xếp vào nhóm những dịch hại chủ yếu. Điểm đáng lo ngại là mặc
dù có nhiều nổ lực to lớn trong cả nƣớc trong việc áp dụng IPM, nhƣng mức độ
sâu hại sâu cuốn lá không giảm là còn có xu thế tăng, năm sau cao hõn năm trƣớc
(Hà Quang Hùng, 2005). Các trận dịch sâu cuốn lá nhỏ liên tiếp xảy ra vào
những năm 1990–1991 trên cả nƣớc, năm 2001 ở các tỉnh Bắc Bộ. Trong 5 năm
1994–1998 diện tích bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ ở miền Bắc lên đến 939000 ha
(Nguyễn Công Thuật, 2002). Với diện tích lúa bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại trên cả
nƣớc là 938643 ha trong 5 năm 1999–2003 và có diện tích gây hại lớn nhất trong
các loài sâu hại trên lúa, diện tích bị gây hại nặng và mất trắng ở lần lƣợt là
182950,8 ha và 272,25 ha (Nguyễn Văn Ðĩnh và Bùi Sĩ Doanh, 2012; Hà Quang
Hùng, 2005). Năm 2002 tổng diện tích lúa bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ khoảng
998139 ha trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 275593 ha (tăng 1,5 lần so với
năm 2001), diện tích bị trắng lá do sâu gây ra không đáng kể. Ở các tỉnh miền
Bắc năm 2002 là năm thứ 2 liên tiếp sâu cuốn lá nhỏ có mật độ cao, diện tích
phân bố rộng trong khoảng 10 năm trở lại đây với diện tích bị nhiễm sâu là
748904 ha (giảm 12% so với năm 2001), trong đó diện tích bị nhiễm nặng là
270362 ha (tăng 1,5 lần so với năm 2001). Các tỉnh miền Nam diện tích bị nhiễm
sâu cuốn lá nhỏ là 294415 ha (tăng 1,9 lần so với năm 2001), trong đó có 5231 ha
6


bị nhiễm nặng. Mật số sâu thấp phổ biến 5–10 con/m2, nơi cao có 30 –50con/m2,
không có diện tích thiệt hại về năng suất (Trần Quý Hùng, 2003).
1.1.7.5 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của sâu cuốn lá nhỏ
Cnaphalocrosis medinalis

1994b).
1.1.8 Một số yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát sinh gây hại của sâu cuốn lá nhỏ
và quy luật phát triển.
7


Yếu tố thời tiết có ảnh hƣởng đến thời gian xuất hiện, đẻ trứng của trƣởng
thành và mật độ sâu non gây hại trên đồng ruộng. Nói chung nhiệt độ từ 25–29ºC
và ẩm độ trên 80% là điều kiện thuận lợi cho sâu này phát sinh gây hại, đặc biệt
trong điều kiện có mƣa nắng xen kẽ (Nguyễn Đức Khiêm, 2006). Mặc dù ngài
sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện quanh năm ở những vùng nhiệt đới, tuy nhiên xuất hiện
nhiều vào mùa mƣa, tùy từng vùng nhiệt độ cụ thể khác nhau nhƣng sâu cuốn lá
nhỏ thƣờng gây hại chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm với khoảng 4–5
thế hệ đƣợc hoàn thành trong thời gian này (Driesche et al., 2009). Theo Hà
Quang Hùng (2005) vào những ngày ít mƣa hoặc không mƣa thì số lƣợng trứng
của ngài đẻ giảm rõ rệt. Hằng năm sâu cuốn lá nhỏ có từ 6 lứa trong đó lứa 2
(tháng 4–5) và lứa thứ 4–5 (tháng 8–10) là những lứa gây hại đáng kể (Hà Quang
Hùng, 2005).
Mức độ bị hại của cây lúa nặng nhẹ tuỳ thuộc vào từng giống lúa khác
nhau, giai đoạn sinh trƣởng, thời vụ gieo cấy và chế độ bón phân (Nguyễn Công
Thuật, 2002). Nguyễn Trƣờng Thành (1999) chứng minh rằng bị hại tới 31,4% số
lá song năng suất lúa vẫn chƣa giảm một cách đáng kể. Lá đòng và lá sát lá đòng
có vai trò quan trọng nhất cho việc hình thành năng suất và thƣờng bị hại nhất.
Những lá bị hại nặng trở nên khô và những đám ruộng nhiễm nặng sẽ xuất hiện
với hình thức cháy lá. Khi lá cờ bị hại thì mức thiệt hại năng suất sẽ cao (Reissig
et al., 1993; Whipp, 1993).
Lƣợng đạm sử dụng trên lúa cũng ảnh hƣởng mạnh mẽ đến cấp gây hại của
sâu cuốn lá nhỏ nói riêng và dịch hại nói chung. Nếu tăng lƣợng đạm thì đồng
thời cấp của sâu cuốn lá nhỏ gây hại trên ruộng đó cũng tăng theo (Hill et al.,
2005). Theo Chau và Heong (2005) khi bón phân hữu cơ sẽ giúp giảm thiểu sự

).

nhỏ, sâu đục thân, sâu xám. Một số nƣớc tiên tiến đã có nhà máy sản xuất tự
động sản xuất ong mắt đỏ, có nhà máy một ngày đã sản xuất 20 triệu ong mắt đỏ.
Ở Trung Quốc đã phát hiện 17 loài Ong mắt đỏ trong đó có một số loài liên quan
đến nông nghiệp (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 20

ong/ha. Có thể thả liên tục 3–4 lần, mỗi lần cách nhau 1–2 ngày (Nguyễn Đức
Khiêm, 2006). Trong khi đó ở Ấn Độ cũng sử dụng thành công ong
Trichogramma japonicum để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ (Joop de Kraker, 1996b).
Năm 1971 Liên Xô cũng đã thả ong mắt đỏ trên 4 triệu ha cây trồng. Viện nghiên
cứu Nông Nghiệp Việt Nam cũng đã sản xuất ong mắt đỏ Trichogramma
japonicum để phòng trừ sâu hại lúa và sâu đục thân ngô có hiệu quả. Loài ong
mắt đỏ này mỗi năm có 40 thế hệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ký sinh ở
sâu cuốn lá nhỏ là 84,8% (Nguyễn Thế Nhã và Trần Công Loanh, 2002). Ở Ấn
Độ, ong Temelucha philippinensis có thể tiêu diệt đƣợc 21,7% sâu non cuốn lá
nhỏ vào tháng 4–5 hàng năm. Ở trang trại của IRRI, sâu cuốn lá nhỏ bị ký sinh
với tỷ lệ khoảng 40%. Ong Trichogramma sp. có thể tiêu diệt khoảng 20% trứng
sâu cuốn lá nhỏ. Ở nƣớc ta năm 1976, ong T. japonicum đƣợc tiến hành thả để
thử trừ sâu cuốn lá nhỏ (C. medinalis) tại trạm BVTV vùng Trung Du (Việt Yên,
Hà Bắc). Thí nghiệm đƣợc tiến hành trên diện tích 2887m2 lúa vụ mùa, với 3
công thức. Kết quả cho thấy trung bình tỷ lệ trứng sâu cuốn lá nhỏ bị ong mắt đỏ
9


ký sinh ở công thức thả ong T. japonicum đạt cao nhất (47,2–66,6%), sau đó là
công thức thả ong T. chilonis (34,5%) và thấp nhất là công thức thả hỗn hợp hai
loài ong trên (19,7% trứng bị ký sinh). Ở đối chứng không thả ong mắt đỏ không
thấy trứng bị ký sinh (Phạm Văn Lầm, 2002b; Phạm Thị Thùy, 2004).
1.2.1.1 Biện pháp hóa học

(chiếm 37,6% tổng số loài thiên địch) đứng thứ hai về số lƣợng loài là bộ cánh
cứng (Coleoptera) với 113 loài (24,5%). Nhiều thứ 3 về số lƣợng loài là bộ cánh
nữa cứng (Hemiptera) với 72 loài (15,6%). Bộ nhện lớn (Araneida) có 59 loài
(12,8%). Các bộ khác có số lƣợng loài thu đƣợc ít hơn, mỗi bộ có từ 1–16 loài.
Thành phần thiên địch trên đồng lúa đã phát hiện tƣơng đối nhiều, nhƣng chỉ có
10


khoảng 85 loài là thƣờng xuyên có mặt trên đồng lúa (Phạm Văn Lầm, 2002b).
Theo Phạm Văn Lầm (2002a) thì thành phần nhện lớn bắt mồi ở Việt Nam có
khoảng 77 loài thuộc 12 họ. Chúng tập chung chủ yếu ở các họ nhện lƣới
Araneidae (11 loài), nhện nhảy Salticidae (11 loài), họ nhện hàm to
Tetragnathidae (8 loài) và nhện sói Lycosidae (7 loài). Các họ khác nhƣ Metidae,
Theridiidae, Linyphiidae, Oxyopidae, Clubionidae, Thomisidae, Pisauridae,
Heteropodidae mỗi họ mới phát hiện đƣợc từ 1–4 loài. Bên cạnh đó Phạm Bình
Quyền (1999) đã thu thập 1667 mẫu vật nhện lớn ăn thịt tại Nghệ An, qua phân
tích định danh đƣợc 26 loài, thuộc 18 giống, 4 họ nhện lớn ăn thịt, ngoài ra còn 7
phenon chƣa đƣợc định loài. Tất cả 26 loài đƣợc tìm thấy lần đầu tiên trên đồng
lúa Nghệ An, trong đó có 5 loài lần đầu tiên đƣợc ghi nhận ở Việt Nam, gồm loài
Argiope aemula, Argiope luzana, Gasteracantha kuhlii, Trochosa sp., Thomicus
okinawensis. Các họ gặp nhiều loài là họ Araneidae – 7 loài, họ Salticidae –4
loài, Argiope – 3
1.4 MỘT SỐ HỌ ONG KÝ SINH QUAN TRỌNG TRÊN CÂY LÚA.
1.4.1 Ong nhảy nhỏ (Encyrtidae)
Họ ong nhảy nhỏ có thể ký sinh trên cả nhện và côn trùng. Đối với nhện hai
bộ chủ yếu bị ký sinh là Araneida và Acarina. Trên côn trùng, họ ong nhảy nhỏ
ký sinh trên hầu hết tất cả các bộ, cụ thể có 9 bộ: Neuroptera, Dictyoptera,
Orthoptera, Hemiptera, Homoptera, Diptera, Coleoptera, Lepidoptera,
Hymenoptera. Ong chủ yếu ký sinh lên trứng của côn trùng hay nhện (Noyes and
Hayat, 1984). Cơ thể bé nhỏ. Râu đầu nói chung có 11 đốt (8–12 đốt). Bàn chân

thể ký chủ có thể lên đến vài hay chục vài trăm, thậm chí lên đến hàng ngàn. Ong
đa phôi Copidosoma floridanum có thể sản xuất 2000 cá thể từ một trứng ban đầu
(Grbic et al., 1996, Grbic and Strand 1998).
Giống Copidosomopsis (Encyrtidae) gồm nhiều loài hiện diện phổ biến với
khả năng phát triển đa phôi, trong đó có nhiều phôi tạo ra hai dòng ấu trùng sinh
sản và ấu trùng bảo vệ (Zhurov et al., 2004). Về phân loại trong họ Encyrtidae thì
Copidosoma thuộc chi Copidosomatini, chi phụ là Copidosomatina cùng với
Paralitomastix Marcet năm 1921 và Copidosomopsis Girault năm 1915
(Guerrieri và Noyes, 2005).
Chi Copidosoma Ratzeburg đƣợc ghi nhận là đã ký sinh trên hơn 20 loài
côn trùng trong bộ cánh vẩy, bao gồm hai họ Gelechiidae và Tortricidae. Các loài
trong họ Encyrtidae thì đƣợc biết đến là những loài ký sinh quan trọng và phổ
biến, chúng có tiềm năng đƣợc sử dụng nhƣ một tác nhân phòng trừ sinh học trên
côn trùng gây hại bộ cánh vẩy. Bên cạnh đó loài Paralitomastix varicornis
(Mercet 1921) hay Encyrtus varicornis đã đƣợc ghi nhận là thuộc Copidosoma,
một số loài khác cũng đƣợc phát hiện nhƣ P. varicornis ở miền Bắc nƣớc Ý, ký
sinh trên ấu trùng A. lineatella trong khi ở Mỹ thì loài Paralitomastix pyralidis
cũng đƣợc ghi nhận là ký sinh trên ấu trùng A. lineatella (Damos và SavopoulouSoultani, 2009).
Ấu trùng bảo vệ (larvae soldier) là một dạng ấu trùng đặc biệt của ong
Copidosomopsis tanytmemus Caltagirone ký sinh trên một loài bƣớm gây hại trên
lúa mì ở vùng Địa Trung Hải. Ấu trùng sớm phát triển từ những tế bào đa phôi
nhƣ những ấu trùng bình thƣờng, nhƣng chúng có hình thái khác với những ấu
trùng bình thƣờng với cấu trúc đầu, miệng rất phát triển và rất di động. Chúng
luôn chết trƣớc khi đạt đƣợc tuổi sinh sản. Khi làm thí nghiệm về sự cạnh tranh
giữa những ấu trùng ong khác nhau trong cùng một ký chủ thì ấu trùng sớm của
12


Copidosomopsis tanytmemus tấn công các ấu trùng của các loài ký sinh khác
trong thí nghiệm nhƣ Phanerotoma flavitestacea Fischer, Ichneumonids Venturia

số giống thƣờng gặp là: Crematus, Metopius, Pimpla, Campolex, Xanthopimpla
(Nguyễn Viết Tùng, 2006).
1.4.4 Họ ong mắt đỏ (Trichogrammatidae)

13


Trích đoạn Thiên địch thuộc nhóm ký sinh Voliam Targo 63SC Chuẩn bị vật liệu cơ bản cho thí nghiệm: Thời gian phát triển vòng đời của ong đa phôi Tác động của một số loại thuốc trừ sâu đến ong đa phôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status