1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs Cộng sự
Tr Trang
n Số con
STT Thứ tự
Đvt Đơn vị tính
h Giờ
g Gam
Kg Kilogam
đ Đồng
% Phần trăm
kl khối lượng
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
1
1
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hòa cùng với sự phát triển của nền kinh tế các nước trên thế giới và trong khu
vực, nền kinh tế nước ta cũng có những bước phát triển, nhu cầu của người tiêu
dùng về thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao ngày càng được người tiêu dùng quan
tâm. Cùng với nghề nuôi gấu lấy mật, nuôi hươu lấy nhung, nuôi ong lấy mật thì
nghề nuôi nhím đang phát triển rầm rộ trong vài năm gần đây và hiện đang trở
thành nghề chăn nuôi có giá trị thu nhập cao.
Nhím bờm là loại động vật hoang dã quý hiếm sống trong rừng núi ở nhiều địa
phương của nước ta và các nước trên thế giới. Đây là loài động vật đặc sản quý
hiếm: Thịt có mùi thơm đặc biệt, tỷ lệ đạm cao, rất bổ phù hợp với thị hiếu của
nhiều người tiêu dùng được bán trên thị trường với giá tướng đối cao. Nhím bờm có
tầm vóc cơ thể khá lớn, chịu được kham khổ, dễ nuôi, chống chịu bệnh tật tốt,
- Những nội dung nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng vào thực tiễn chăn
nuôi của người dân nhằm nâng cao thu nhập cho người dân.
- Góp phần đẩy mạnh chương trình phát triển chăn nuôi nhím trong nông hộ
ở khu vực miền núi phía Bắc.
Chương 1
3
3
4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vị trí phân loại của nhím trong hệ thống phân loại động vật
Nhím Bờm có tên khoa học là Acanthion Subcristatum. Tiếng la tinh có
nghĩa là: Quill big (lợn lông) mặc dù nó chẳng phải là lợn.
Theo Lê Hiền Hào 1973[7] nhím bờm là một loài động vật hoang dã có tên
khoa học là Acanthionsubcristatum.
Tiếng Anh là Porcupine.
Tiếng Thái là Tô Miển.
Nhím thuộc loài: Hytrixhodgsoni.
Họ Nhím Hysticidac có bộ răng 1.0.1.3./1.0.1.3 = 20 chiếc
Bộ gặm nhấm Rodentia.
Theo Lê Hiền Hào 1973 [7], loài nhím bờm phân bố ở một số nước như
Nêpan, Axan, Têlaxêrim, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia,Việt Nam, Trung
Quốc (ở tỉnh thiểm tây và các tỉnh phía nam lưu vực sông Trường Giang và có cả ở
đảo Hải Nam).
Nhím bờm là loài thú phổ biến gặp ở các địa phương vùng núi và trung du
trừ đồng bằng Miền Bắc Việt Nam. Nhím cùng thường gặp trên các đảo gần bờ ở
phía Đông Bắc Bộ, Võ Văn Sự và cs 2006 [31].
Nhím lông hay thường được gọi là nhím là tên gọi cho một số loài động vật
thuộc bộ Gậm Nhấm (Rodentia). Chúng phân bố trên cả Cựu Thế Giới và Tân Thế
Giới. Tên gọi nhím trong tiếng Việt cũng có thể đề cập đến một số loài trong bộ
nhím gai (Erinaceomorpha) hay họ Tachyglossidae của bộ Monotremata, có nhiều
Phân bộ Hystricomorpha
Cận bộ Hystricognathi
Họ Hystricidae: Nhím lông Cựu Thế Giới
Nhím đuôi chổi châu Phi, Atherusrus apricanus
Nhím đuôi chổi châu Á, Atherusrus macrourus
Nhím châu Phi, Hyrtrix cristata
Nhím Cape, Hyrtrixafricaeaustralis
Nhím Himalaya, Hyrtrix hodgsoni
Nhím Ấn Độ, Hyrtrix indicus
Nhím Ma Lai, Hyrtrix brachyura
5
5
6
Nhím Suda, Hyrtrix javanica
Nhím Sumatra, Hyrtrixsumatrae
Nhím Borneo, Thecurus crassispinis
Nhím Philippine,Thecurus pumilis
Nhím đuôi dài, Trichys pasciculata
Họ Thryonomyidae: Chuột mía
Họ Petromuridae: Chuột đa man (đề thỏ)
Họ Bathyergidae: Chuột chũi châu phi
Họ Caviidae: Chuột lang
Họ Dasyproctidae: Agouti và acouchi
Họ Erethirontidae: Nhím lông Tân thế giới
Nhím Brasil, Coendou prehensilis
Nhím gai hai màu, Coendou bicolor
Nhím Koopman, Coendou koopmani
Nhím Rothschild, Coendou rothschildi
Nhím cây Mexico Sphiggururus mesicanus
Nhím cây Nam Mỹ Sphiggururus spinosus
tròn, mũi ngắn mắt và tai nhỏ. Chân nhím bờm ngắn, khỏe. Bàn chân có 5 ngón và
được bọc bằng các móng sắc nhọn, chia thành các đoạn đen, nâu, hơi vàng và trắng.
Lông lưng, hai sườn, và đuôi có lẫn với các loại lông mềm khác. Độ dài của lông
thay đổi theo bộ phận trên thân, lông lưng giao động từ 2,5 cm đến 30 cm. lông
thường nằm bẹp úp với thân, chỉ có khi nào gặp kẻ thù nó mới dựng và xù lên, lông
cũng dễ bứt ra khỏi da.
* Nơi ở: Nhím Nam Phi thường sống ở vùng đồi núi, núi đá, nhưng cũng rất rễ
thích nghi ở các địa hình khác. Người ta còn phát hiện nhím này có ở vùng núi
Mt.Kilimanjaro, cao 11,480 feet. Chúng thường sống trong các hốc đất, gốc cây, hang
đá đã được sửa chữa cho phù hợp với yêu cầu của chúng. Nhím cũng có thể ở trong
các hang hốc mà con vật khác đã làm, nhưng chúng cũng có thể tự đào lấy hang riêng
cho mình. Nếu chúng sống ở một hang hố nào đó vài ba năm thì hang hố đó có thể có
một vài cửa ra - vào theo Phùng Quang Trường (2006) [39].
7
7
8
* Tập tính: Là một loài vật được vũ trang tốt, nguy hiểm nhím luôn cảnh báo
với các kẻ thù tiềm ẩn khác. Khi có báo đông, nhím dẫm mạnh chân, nghiến răng,
dựng và xù ra bộ lông điển hình của loài này. Khi xù lông đuôi vây nó tạo thành
tiếng động. Nếu kẻ thù cứ tiếp tục tấn công thì nó sẽ lùi lại và chọc lông vào kẻ thù.
Thường quả đánh đó rất hiệu quả vì phần mông của nhím nặng nhất và lông thường
cắm thẳng vào đuôi.
Nhím thích đi dọc đường, lối mòn vào ban đêm chúng có thể đi xa đến 9 dặm
để kiếm ăn. Thức ăn chính của nó chủ yếu là rễ cây, củ, quả, hoa quả tự nhiên
nhưng cũng rất thích ăn các loại củ quả do con người trồng như sắn, khoai lang và
cà rốt Mặc dù là động vật ăn chay, nhưng chúng cũng thích ăn cả xương động vật
và các loại khoáng chất khác.
* Đời sống tình dục: Nhím Bờm Châu Phi có số ngày mang thai là 112 ngày.
Một lứa có thể đẻ được từ 1 đến 4 con. Nhím con phát triển nhanh và mở mắt ngay
khi đẻ ra. Hai tuần sau nhím con có thể rời tổ và lông bắt đầu cứng. Nhím con khá
thành băng (ice) xung quanh khu vực người ở, chúng gặm nhấm tất cả những gì có
chứa muối. Nhím Châu Mỹ cũng rất thích ăn cả xương động vật cũng như nhím
Châu Phi.
Sinh sản xẩy ra vào đầu mùa đông. Nhím cái thuộc loại động dục nhiều lần
(Polyestrous) và chu kỳ động dục này là 25 - 30 ngày nếu như thụ thai không xảy ra
trong thời kỳ rụng trứng. Rụng trứng xảy ra đồng thời và có thể thay nhau từ buồng
trứng phải đến buồng trứng trái. Thời gian động dục kéo dài 8 đến 12 giờ. Nhím
đực thường đánh nhau tranh giành con cái. Cuộc vuốt ve thường bao gồm các công
đoạn: Kêu to một điệu múa khôi hài ngắn và con đực vãi nước tiểu vào người con
cái, noãn hoàn của nhím đực xa xuống bìu, nhím cái khi muốn giao phối nước tiểu
của chúng cũng nặng mùi.
Quá trình sinh tinh xảy ra cực điểm vào tháng 10, sau khi giao phối nhím cái
xua đuổi nhím đực. Thời gian chửa là 90 - 95 ngày và con sinh ra vào tháng 4 đến
tháng 6.
Nhím mẹ nuôi con đến 6 tháng tuổi, tại phòng thí nghiệm người ta nuôi nhím
con trong vài tháng, nhưng trong cuộc sống hoang dã nhím con có thể tồn tại được
vài tuần sau khi sinh với thức ăn cây cỏ. Sau 2 tuần nhím con có thể ăn thức ăn
9
9
10
cứng, 16 đến 24 tháng tuổi nhím đạt độ thành thục. Nhím có thể sống được 10 năm,
trong điều kiện hoang dã nhím có thể sống được 5 - 6 năm. Nhím thường sống độc
thân, tuy nhiên nhiều lúc cũng sống thành từng nhóm đặc biệt là vào mùa đông,
mùa đông chúng thường trú ẩn trong hang hốc. Khi gặp thời tiết xấu chúng cũng
không rời khỏi nơi trú ngụ. Mùa hè chúng thường leo lên cây để tránh sâu bọ.
Nhím nhìn kém, nhưng bù lại cảm giác và khứu giác khá tốt. Nhím thuộc
loài ăn đêm nhưng đôi lúc cũng bò ra kiếm ăn băn ngày. Chúng thường ở một nơi
qua nhiều năm, chúng cũng hay di cư từ nơi này sang nơi khác để kiếm sống.
Nhím không bắn lông nhưng cũng dễ cắm lông chúng vào con vật tấn
công chúng.
“lách cách”, “lè xè” để dọa nạt kẻ thù và thông báo với những con vật cùng đàn
những tín hiệu để lẩn tránh kẻ thù theo Ngô Trọng Lư (2002) [14].
Nhím có 4 chiếc răng cửa dẹt và rất sắc, tai nhỏ chân ngắn, móng chân nhọn
và rất sắc dùng để đào bới kiếm ăn và làm hang để ở.
1.2.4. Một số bài thuốc từ con nhím
Ngoài ra, các bộ phận khác của nhím cũng được sử dụng vào nhiều việc :
Mật nhím được dùng để chữa đau mắt và xoa bóp các vết thương và cũng có thể
dùng để chữa đau lưng. Thịt, ruột già, gan và cả phân nhím cũng được sử dụng để
chữa bệnh phong nhiệt, đặc biệt dạ dày của nhím lại là vị thuốc rất độc đáo để chữa
cho chính dạ dày của người. Vì vậy, người ta săn bắt nhím nhiều cũng là bởi muốn
lấy được cái dạ dày của chúng, người Trung Quốc rất mê vị thuốc này.
Theo Đỗ Tất Lợi (2001) [13], dạ dày của nhím có thể chữa được nhiều bệnh.
Người ta gọi dạ dày nhím là thích vị bì, ta không dùng cả cái dạ dày mà chỉ bóc lấy
lớp màng bao phủ dạ dày sau đó đem sấy khô để dùng dần. Khi dùng sao chúng
bằng cát nóng, màng sẽ nở phồng lên, sắc thuốc hoặc tán thành bột để uống.
Dạ dày nhím có vị đắng, ngọt, tính bình nó có tác động vào kinh vị và đại
tràng và có tác dụng lương huyết (mát máu), giải độc, giảm đau, trị lậu ra huyết. Có
thể dùng nó để chữa những trường hợp trĩ lòi dom chảy máu, di mộng tinh, nôn
mửa, lỵ ra máu. Người ta vẫn thường dùng với liều lượng từ 6 - 16 gam dưới dạng
thuốc bột hay sắc uống. Một số đơn thuốc có sử dụng dạ dày nhím mà theo Đỗ Tất
Lợi (2001) [13] đã nêu ra như sau.
11
11
12
1. Chữa lòi dom chảy máu
Dạ dày nhím sao phồng (với hoạt thạch rồi bỏ hoạt thạch) dùng 10g hoa hoè
sắc kĩ với 100 ml nước. Sau đó dùng 3 - 6 gam dạ dày nhím đã sao vàng và tán
thành bột hoà với nước hoa hoè đã sắc chia làm 3 lần uống trong ngày.
2. Chữa thuỷ thũng, cổ trướng, hoàng đản
Đốt dạ dày nhím và tán mịn. Mỗi lần lấy 8g hoà với rượu và uống, bệnh sẽ
c, - Da nhím 30g - Nhộng tằm 100g
- Tổ bọ ngựa ở cây dâu (tang phiêu tiêu)
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc còn lại sấy cho khô, tất cả tan bột,
ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước sôi có pha 50 % rượu vang. Cần uống liên tục
1 tháng, trong thời gian uống thuốc không gần phụ nữ.
4. Thuốc chữa di tinh
a, - Da nhím 20g - Ngó sen 100g - Lá đậu ván 150g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn. Ngày uống
1 lần trước khi đi ngủ, lượng thuốc 10g với 30ml rượu vang hâm nóng.
b, - Da nhím 50g - Hạt sen 100g
- Cam thảo 30g - Hoa mướp 50g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn. Ngày uống
1 lần trước khi đi ngủ, lượng thuốc 10g với 30ml rượu vang hâm nóng.
c, - Da nhím 60 g - Dây tơ hồng 60g (có thể dùng hạt)
- Ngũ vị tử 30g - Phá cố chỉ 30g
Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn. Ngày uống
3 lần, mỗi lần 5g thuốc với 30ml rượu vang hâm nóng.
5. Thuốc chữa viêm tuyến tiền liệt
- Da nhím 35g - Bột hoạt thạch 300g
Da nhím tươi làm sạch cắt thành miếng dài 5cm rộng 3 cm, cho vào bột hoạt
thạch sao nhỏ lửa, khi da nhím khô vàng là được. Lấy da nhím tán bột. Ngày uống 2
lần sáng, tối, mỗi lần 6g thuốc với nước cơm.
6. Thuốc thông sữa
a, - Da nhím 25g - Da lợn 50g
Cả hai sao cát cho khô, tán bột uống mỗi lần 10g với 10ml rượu vang hâm
nóng, ngày hai lần.
13
13
14
b, - Thịt nhím 50g - Móng lợn 1 đôi (300g) - Vẩy tê tê 3 cái
1.3.1. Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng
Một số tính trạng năng suất của nhím đều có chung bản chất di truyền như
với các giống gia súc khác, nhưng những biểu hiện cụ thể về giá trị kiểu hình của
các tính trạng ấy lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về di truyền của
từng loài. Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1], Trần Đình Miên và cs (1995) [16],
Nguyễn Văn Thiện (1995) [36], Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [37]: hầu hết các
tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc như: khả năng
cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa, cho lông, cho da… đều là các tính
trạng số lượng. Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình (Phenotype Value - P)
của tính trạng do giá trị kiểu gen (Genotyp value - G) và sai lệch môi trường
(Environmental deviation - E) quy định. Quan hệ này được biểu thị bằng công thức
P = G + E.
Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do
nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành. Đó là gen mà hiệu ứng riêng
biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rất rõ
rệt tới tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene).
Các minor gen này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át
gen. Giá trị kiểu gen thể hiện qua công thức: G = A + D + I
Trong đó:
A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding value)
D: là sai lệch trội (Dominance deviation)
I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation)
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định
được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì
đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thấp nhất con đường thực nghiệm.
1.3.2. Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng ở nhím
- Khái niệm về sự sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận
15
sát theo TCVN (1977) [22].
16
16
17
2.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
* Yếu tố bên trong (di truyền)
- Ảnh hưởng di truyền của dòng, giống cá thể. Trong chăn nuôi gia súc,
dòng, giống có thể có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng. Con sinh ra tiếp thu từ
bố mẹ và truyền lại cho đời sau khả năng sinh trưởng mang tính đặc thù của dòng,
giống. Tính di truyền về khả năng sinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi.
Ảnh hưởng của dòng, giống đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và
khẳng định trên các loại gia súc, gia cầm.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [30] cho biết: Yếu tố di truyền là một
trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục
của gia súc. Quá trình sinh trưởng phát dục của nhím tuân theo các quy luật sinh
học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống nhím khác nhau.
Nguyễn Thiện và cs (2005) [36] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt.
- Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone. Hormone tham gia vào
tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu.
Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến
giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau
điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên. Hormon của thuỳ
trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh
trưởng của cơ thể. Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [35]: STH có tác
dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự
tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các
xương dài). Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé
(nanismus) hoặc quá to (gigantismus). Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon
sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham
thể. Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối lượng cơ thể
tăng. Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc
trưởng thành. Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi và phot pho
xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non. Khi gia súc còn non khả năng tích luỹ canxi, phot
pho cao. Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm. Nhìn chung, gia súc non yêu cầu
can xi lớn hơn phot pho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu can xi giảm, nhu cầu
18
18
19
phot pho tăng lên. Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp thu và sử dụng canxi,
photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương. Ở gia súc non cần chú ý cung
cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho.
- Vai trò và nhu cầu về vitamin
Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọi quá
trình trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật.
Trong các loại Vitamin thì, Vitamin A và Vitamin D là hai loại Vitamin quan
trọng nhất cho sinh trưởng. Trong đó Vitamin A xúc tiến quá trình sinh trưởng, nếu
thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù lòa, tốc độ sinh trưởng giảm, lông xù, gầy còm,
năng suất sinh sản thấp. Vitamin D cần thiết cho sự trao đổi can xi, phốt pho để phát
triển bộ xương.
Nhu cầu Vitamin được thỏa mãn từ nguồn rau xanh, ngũ cốc và Vitamin
được tổng hợp bổ sung vào thức ăn ở dạng Premix.
- Thời tiết và khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển
của nhím.
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường.
Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn
ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Nếu nhiệt độ môi trường không
thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng
như cân bằng nhiệt của cơ thể nhím. Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
cho các loại khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng và
Theo tác giả Đặng Hữu Lanh và cs năm (1999) [12] cho biết các tính trạng
số lượng do nhiều gen kiểm soát. Mỗi alen của chúng có một hiệu ứng nhỏ và riêng
biệt. Nhưng hiệu ứng chung của chúng là rất lớn. Như vậy kiểu hình của một cá thể
phụ thuộc vào kiểu gen của nó ở một lô cút tương ứng, mà mỗi alen hoặc thêm vào
hoặc bớt đi một đơn vị hiệu ứng kiểu hình nên các tính trạng số lượng còn gọi là
tính trạng đa gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức.
- Cộng gộp: Hiệu ứng tích lũy của từng gen (A)
- Trội: Hiệu ứng do tương tác giữa các gen cùng một lô cút
Hiệu ứng cộng gộp A tạo nên giá trị giống (Breeding value) thường được tính
toán và có sử dụng trong chọn lọc. Để đo được giá trị truyển đạt từ bố mẹ cho đời sau
20
20
21
phải qua một giá trị có liện hệ với gen gọi là hiệu ứng trung bình (Aditive effect) của
các gen. Hiệu ứng trung bình của mỗi gen là sai lệch trung bình của cá thể so với
trung bình của quần thể mà nó đã nhận được gen của cha mẹ trong quần thể đó.
Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen mà cá thể đó được gọi là giá trị cộng gộp
hay giá trị giống của cá thể.
Hiệu ứng D (Dominante) và át chế I (Epitasis Interaction) là giá trị giống
thường đặc biệt khó có thể xác định trước được, mà chỉ xác định được qua thực
nghiệm và có ý nghĩa trong lai giống.
Do đó kiểu di truyền được xác định: G = A + D + I
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường E
(Environment).
Bộ phận di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được gọi là di truyền
học số lượng (Quanttative characte) hoặc di truyền học sinh trắc (Biomen Trical
gentics). Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật của di truyền học Men Đen
làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so với tính trạng chất
lượng nên đối tượng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở mức độ cá thể mà phải mở
rộng đến mức độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể khác nhau và sự sai khác nhau
loài trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó.
Quá trình hoạt động sinh sản của vật nuôi là do hệ thống thần kinh thể dịch
của cơ thể điều khiển và chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và các yếu tố
ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng ). Khả năng sinh sản
của vật nuôi được thể hiện qua các mặt: Chu kỳ động dục, tuổi và khối lượng phối
giống lần đầu, thời gian mang thai, số con đẻ trên lứa
Đặc tính sinh sản của nhím còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi,
ánh sáng, nhiệt độ, chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Lê Hiền Hào (1973) [ 7 ] đối với các động vật hoang dã được nuôi nhốt
trong môi trường bán hoang dã thì các tính trạng như khả năng đẻ con, sức sống của
thú con, khả năng cho sữa, tốc độ lớn thì phần biến dị cho sự đổi vật chất di truyền
thường là thấp. Các tính trạng về sức sản xuất của thú được nuôi trong điều kiện
bán hoang dã do nhiều gen chi phối. Hơn nữa các tính trạng này còn phụ thuộc vào
22
22
23
môi trường trong, môi trường ngoài. Điều này giải thích vì sao các tính trạng số
lượng lại biến dị trong phạm vi rộng, liên tục và không ngừng.
Cơ sở di truyền các tính trạng số lượng cũng là các gen nằm trên nhiễm sắc
thể do vậy cũng tuân theo các quy luật di truyền cơ bản như phân li, tổ hợp, liên kết,
hoán vị, trao đổi chéo
1.5. Đặc điểm sinh sản của nhím
Sinh sản là quá trình sinh lý quan trọng và cơ bản nhất của gia súc trong việc
duy trì nòi giống, là một quá trình mà ở đó có con đực và con cái đã thành thục về
tính dục, con đực sản sinh ra tinh trùng và con cái sản sinh ra trứng.
Theo http://www.trainhimtanhoa.com [51] sinh sản của nhím vào tháng 8 - 9
và tháng 3 - 4 hàng năm, mỗi lứa đẻ từ 2 - 4 con, nhím đẻ một năm 2 lứa, con cái có
thời gian mang thai là 90 - 95 ngày, con mới nở ra còn mọng nước vài giờ sau nước
mất dần lông nhỏ bám kín trên mình, sau đó các sợi lông cứng dần lên biến thành
gai dài 20 - 25 cm để thành bộ giáp. Nhím mẹ cho con bú khoảng 3 tuần tới tuần thứ tư
các mối quan hệ rất đa dạng giữa động vật với môi trường, giữa các cá thể cùng loài
hay khác loại, gắn bó hữu cơ với quá trình tiến hóa và sự biến đổi của ngoại cảnh.
Tác giả Phan Cự Nhân (1999) [26] tập tính được chia thành ba dạng chính là:
1.7.1.1. Tập tính bẩm sinh
Đây là các hoạt động bản năng, chúng không thay đổi, có lợi và đặc trưng
cho từng loài.
Tập tính bẩm sinh là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên lâu dài, được
khởi động từ những kích thích đơn giản. Dạng này ứng với các phản xạ không
điều kiện.
1.7.1.2. Tập tính tiếp thu
Đây là những tập tính được hình thành do "bắt trước, học tập" hoặc qua huấn
luyện hình thành qua một thời gian nhất định. Dạng tập tính này không có khả năng
di truyền, vì vậy dễ dàng thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh.
1.7.1.3 Tập tính hỗn hợp
Đa số các tập tính ở động vật bậc cao đều được coi là tập tính hỗn hợp, vì
trên đối tượng này phần tiếp thu tăng lên rõ rệt nên khó phân biệt giữa phần bẩm
sinh và phần tiếp thu.
Tập tính chịu ảnh hưởng của tính di truyền, các kiểu hoạt động thần kinh cấp
24
24
25
cao và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm và nước, strees, sự cách
ly và sự học tập.
1.7.2. Cơ sở di truyền tập tính ở động vật
Gần đây, nhờ các nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học đã chứng minh
được tính chất di truyền, cơ sở di truyền phân tử của tập tính. Nhưng việc xác định
vai trò cụ thể của các gen trong sự hình thành tập tính sinh học của động vật, nhưng
vai trò của môi trường cũng không nhỏ. Tác động thường xuyên và có tác động gián
tiếp tới sự hình thành tập tính của động vật.
- Cơ chế tập tính được ”chương trình hóa” trong bộ máy di truyền của loài,