TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG XÂM NHẬP MẶN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP CHO HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Bá Thọ
3113848
Cán bộ hướng dẫn
Ths. BÙI THỊ BÍCH LIÊN
Cần Thơ, tháng 12 - 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG XÂM NHẬP MẶN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
CHO HUYỆN NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
i
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
i
Mục lục
ii
Danh sách từ viết tắt
v
Danh sách bảng
vi
Danh sách hình
vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU .......................................................................................... 1
1.1
ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ............................................ 18
3.2
PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU ........................................................... 18
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 18
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu ............................................................. 18
3.3.2 Phương pháp xác định vị trí................................................................ 18
3.3.3 Phương pháp khảo sát, đo đếm ngoài thực tế ...................................... 18
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu .................................................................. 19
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN .................................................................... 20
4.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ KẾT QUẢ PHỎNG VẤN ........................... 20
4.1.1 Thông tin về trình độ học vấn ............................................................. 20
4.1.2 Nghề nghiệp của hộ gia đình .............................................................. 21
4.1.3 Xếp loại hộ gia đình ........................................................................... 21
4.1.4 Nguồn nước ăn uống và sinh hoạt của hộ gia đình .............................. 22
4.2 TÌNH HÌNH XNM TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2013 ............................ 23
4.2.1 Nguyên nhân xâm nhập mặn .............................................................. 23
4.2.2 Tình hình xâm nhập mặn .................................................................... 25
4.2.3 Những tác động của XNM đến đời sống và sản xuất của người dân ... 37
4.2.3.1 Khó khăn ...................................................................................... 37
4.2.3.2 Thuận lợi ...................................................................................... 37
4.3 ỨNG PHÓ VỚI XÂM NHẬP MẶN ...................................................... 38
4.3.1 Đối với chính quyền khu vực khảo sát................................................ 38
4.3.1.1 Giải pháp công trình: cống, đập ngăn mặn .................................... 38
4.3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng thích ứng với vùng đất nhiễm mặn. 39
4.3.2 Đối với người dân ở khu vực khảo sát ................................................ 39
4.4 ĐỀ XUẤT ỨNG PHÓ XÂM NHẬP MẶN ............................................ 40
4.4.1 Áp dụng mô hình Lúa - cá .................................................................. 40
Tên Bảng
Trang
2.1
Độ mặn cao nhất từ năm 2008 – 2014 trong tỉnh Sóc Trăng
12
4.1
Tuổi của chủ hộ theo hộ dân phỏng vấn
20
4.2
Thông tin các vị trí cống ngăn mặn
23
4.3
Thông tin về vị trí các điểm đo mặn
34
vi
20
4.2
Nghề nghiệp chính của chủ hộ trả lời phỏng vấn
21
4.3
Xếp loại gia đình ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
22
4.4
Nguồn nước ăn uống và sinh hoạt của các hộ dân được phỏng vấn
23
4.5
Vị trí cống ngăn mặn huyện Ngã Năm
24
4.6
Vị trí các cống ngăn mặn trên Google earth
30
4.12
Biểu đồ diễn biến mặn năm 2012 tại 8 trạm đo
31
4.13
Biểu đồ đo mặn năm 2013 tại 8 vị trí
32
4.14
Bản đồ các vị trí cống ngăn mặn và điểm đo mặn trên toàn huyện
33
4.15
Vị trí các điểm đo thực tế trên Google earth
34
4.16
Thời gian bị nhiễm mặn ở huyện Ngã Năm
Ảnh hưởng của XNM đến sản xuất, đời sống của người dân
37
4.21
Một cống ngăn mặn ở huyện Ngã Năm
38
4.22
Tỷ lệ người dân có khả năng ứng phó XNM
40
4.23
Kiểm tra cá giống trong dự án cá – lúa ở xã Mỹ Trung (Cái bè)
41
4.24
Các giống lúa ngoài thực địa
42
4.25
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sóc Trăng là một tỉnh thuộc ĐBSCL nên có địa hình tương đối bằng phẳng, có
xu hướng cao dần về phía biển và sông Hậu. Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió
mùa (có hai mùa trong năm: mùa khô và mùa mưa), đồng thời bị ảnh hưởng bởi chế độ
bán nhật triều của biển Đông thông qua hai sông Hậu và Mỹ Thanh và chiều dài bờ
biển 72 km nên Sóc Trăng thường xuyên chịu tác động của hiện tượng mặn xâm nhập
sâu vào đất liền, có năm diễn ra rất gay gắt trong đó có các huyện vùng trũng như Ngã
Năm, Mỹ Tú, Thạnh Trị.1
Huyện Ngã Năm là một huyện trực thuộc tỉnh Sóc Trăng với địa hình thấp, bị
phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi. Trong những năm
gần đây tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn huyện diễn biến phức tạp, mặn xâm nhập
ngày càng sâu vào trong nội đồng làm ảnh hưởng đến các vùng sản xuất, đặc biệt là
các vùng ngọt hóa; môi trường đất; nước bị nhiễm mặn; phèn ngày càng gia tăng,
nhiễm mặn nước ngầm đang là vấn đề gây ra nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh
tế - xã hội cũng như đảm bảo mức sống cho người dân trong huyện Ngã Năm.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Hiện trạng xâm nhập mặn và đề xuất giải
pháp cho huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng” là việc làm cấp thiết và quan trọng
nhằm xác định hiện trạng đề xuất các giải pháp hạn chế ứng phó xâm nhập mặn trong
thời gian tới một cách có hiệu quả.
1.2
1
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường, 2010, Báo cáo xâm nhập mặn tỉnh Sóc Trăng
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
1
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
-
Xác định tọa độ các hộ dân phỏng vấn, các cống ngăn mặn và các điểm đo mặn
bằng máy GPS và đưa vào bản đồ bằng phần mềm MapInfo 10.5.
-
Thu thập các số liệu thứ cấp về tình trạng xâm nhập mặn.
-
Tìm hiểu các giải pháp hạn chế ảnh hưởng, ứng phó XNM đã được áp dụng
trong các hoạt động sản xuất và đời sống người dân.
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
2
Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông.
Hình 2.1 : Bản đồ hành chính của tỉnh Sóc Trăng
2
Nguồn: www.soctrang.gov.vn
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
3
Luận Văn Tốt Nghiệp
b)
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Điều kiện tự nhiên
Khí hậu: Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa.
Hàng năm có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình năm là 1.864 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10.
Độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C. Thời điểm nóng nhất trong năm làvào
tháng 4 (28,70C) và nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12 (25,30C) và tháng 1
(24,300C).
Đất đai: Sóc Trăng có tổng diện tích đất tự nhiên là 331.176,29 ha. Trong đó,
đất sản xuất nông nghiệp là 205.748 ha (chiếm 62,13%); đất lâm nghiệp có rừng
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Vùng đất phèn có địa hình lòng chảo ở phía Tây và ven kênh Cái Côn có cao trình rất
thấp, từ 0 - 0,5 m. Mùa mưa nơi đây thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạt động
sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng. Vùng cù lao trên sông Hậu cũng có cao
trình thấp, thường bị ngập khi triều cường, vì vậy để đảm bảo sản xuất phải có hệ
thống đê bao chống lũ.
Sông ngòi: Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hường của chế độ thủy
triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy
triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân
địa phương mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du
lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên. Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông
Hậu đổ ra biển Đông Nam Bộ, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá, Sóc Trăng có đủ điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển tổng hợp.
Tài nguyên rừng và biển: Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng chiếm diện
tích 11.356 ha với các loại cây chính: tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 45
huyện Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ Tú và Cù Lao Dung. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ
rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.
Sóc Trăng có 72 km bờ biển với 3 cửa sông lớn là sông Hậu (đổ theo 2 cửa
sông lớn Trần Đề, Định An) và sông Mỹ Thanh nên có nguồn hải sản đáng kể bao gồm
cá đáy, cá nổi và tôm. Sóc Trăng có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế biển tổng
hợp, thuỷ hải sản, nông - lâm nghiệp biển, công nghiệp hướng biển, dịch vụ cảng biển,
xuất nhập khẩu, du lịch và vận tải biển.
2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a)
Dân số
Theo Niên giám thống kê 2011 thì dân số tỉnh Sóc Trăng là 1.303.700 người;
Thủy sản: Sóc Trăng có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế biển nên những năm
gần đây tỉnh tập trung đầu tư khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Chính việc
đem lại hiệu quả kinh tế cao nên ngành thủy sản đã góp phần cải thiện đời sống người
dân và làm thay đổi bộ mặt nhiều làng quê vùng ven biển. Vùng biển Sóc Trăng có
nhiều ngư trường với nguồn lợi hải sản đa dạng, phong phú. Hàng năm, nước biển xâm
lấn tạo thành một vùng nước mặn - lợ, chưa kể hơn 50 nghìn ha đất bãi bồi ven sông,
biển là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề đánh bắt kết hợp với nuôi trồng thủy sản.
Cũng theo kết quả báo cáo 8 tháng đầu năm 2012 của Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng thì
lĩnh vực khai thác thủy sản tiếp tục trúng mùa, được giá. Sản lượng thủy sản khai thác
ước đạt 31.226 tấn, tăng 14,35% so với cùng kỳ mặc dù sản lượng nuôi trồng thủy sản
năm nay trên địa bàn đang gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, sản xuất công nghiệp tiếp tục
ổn định và có xu hướng tăng trưởng tích cực. Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương
trong 8 tháng đầu năm 2012 là 4.355,2 tỷ đồng, tăng 0,25% so với cùng kỳ năm 2011.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu là: cá, mực đông lạnh 1.633 tấn, chả cá đông
lạnh 7.808 tấn, đường kết tinh 21.885 tấn, gạch nung các loại 64.425 ngàn viên, gạo
xay xát 739,4 ngàn tấn,...
Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù
Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành
tạo nên các địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái.
2.2.2 Khái quát về huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
2.2.1.1
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Ngã Năm là một huyện nằm ở phía Tây, thuộc vùng trũng của tỉnh Sóc Trăng.
Huyện được thành lập vào năm 2003 theo Nghị định số 127/2003/NĐ-CP ngày 31
tháng 10 năm 2003 của Chính phủ, có tổng diện tích tự nhiên là 24.224,35 ha, với 08
đơn vị hành chính, gồm 07 xã và 01 thị trấn.
-
từ 30 - 60 cm, thời gian ngập kéo dài khoảng 2 đến 2,5 tháng, bao gồm các xã: Mỹ
Bình, Mỹ Quới, Vĩnh Quới, Vĩnh Biên. Tình hình ngập sâu ở khu vực này không đồng
đều. Một số ít diện tích các xã Vĩnh Quới, Vĩnh Biên và Mỹ Quới có độ sâu ngập
nhiều hơn và thời gian ngập cũng lâu hơn so với toàn khu vực.
Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên ton huyện Ngã Năm là 24.224,35 ha, chiếm
khoảng 7,3% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Sóc Trăng. Trong đó, đất nông nghiệp là
3
Nguồn: Văn phòng HĐND và UBND huyện Ngã Năm, 2012, Lịch sử hình thành và phát triển Huyện Ngã Năm
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
7
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
21.775,22 ha, chiếm 89,6% diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp là 2.449,13 ha,
chiếm 10,4%; Ngã Năm không có đất chưa sử dụng.
Đất ở Ngã Năm có 03 nhóm chính:
Một là, nhóm đất phèn: bao gồm 02 loại đất chính - đất phèn tiềm tàng nhiễm
mặn đọng mùn và đất phèn hoạt động nhiễm mặn đọng mùn.
Đất phèn tiềm tàng nhiễm mặn đọng mùn được phân bố tại các khu vực tương
đối trũng như xã Long Bình, Vĩnh Biên và một phần của xã Vĩnh Quới hướng về phía
tỉnh Bạc Liêu song song với kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp.
Đất phèn hoạt động nhiễm mặn đọng mùn được phân bố rải rác tại các xă, thị
trấn trên địa bàn huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã Vĩnh Biên, Tân Long, Long Tân
và thị trấn Ngã Năm.
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
không đều giữa các tháng trong năm. Mùa mưa lượng mưa chiếm trên 90% tổng lượng
mưa cả năm. Trên địa bàn huyện có 02 hướng gió chính: gió mùa Tây Nam vào mùa
mưa, gió mùa Đông Bắc vào mùa khô, tốc độ gió trung bình khoảng 3,9 m/s.
Chế độ thủy văn của Ngã Năm chịu ảnh hưởng lớn bởi hệ thống kênh Quản Lộ
- Phụng Hiệp, thông qua hệ thống kênh trục và kênh đồng. Từ khi hệ thống ngọt hóa
bán đảo Cà Mau hoàn thành, hướng thoát nước hiện nay chủ yếu theo hướng ra vịnh
Thái Lan. Do Thị Trấn Ngã năm ít bị ảnh hưởng của thủy triều. Mực nước cao nhất ở
Thị trấn Ngã Năm theo kinh nghiệm người dân địa phương là +0,7 m. Kênh Quản Lộ Phụng Hiệp có chiều rộng trung bình 30 - 40m và sâu 5 - 7m, tại Thị trấn dòng chảy
vẫn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, nhưng biên độ nhỏ (0,2 - 0,4m).
Toàn bộ diện tích đất trên địa bàn huyện hầu như có nước ngọt quanh năm, sự
thay đổi môi trường từ sinh thái ngập mặn sang sinh thái được ngọt hóa đã làm chuyển
biến đáng kể ngành nông nghiệp của huyện trong những năm qua.
Với vị trí của huyện nằm ở cuối nguồn sông Hậu thuộc hệ thống sông Cửu
Long và nằm sâu trong đất liền nên chế độ thủy văn tương đối ổn định, ảnh hưởng
không đáng kể đến sản xuất nông nghiệp.
2.2.1.2
a)
Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân số
Dân số toàn huyện 19.347 hộ, với 80.423 nhân khẩu, gồm dân tộc Kinh - Hoa Khmer (trong đó: dân tộc kinh 73.570 người chiếm 92,34%, Hoa 798 người 1%,
Khmer 5.286 người 6,33%, dân tộc khác chiếm 23%.4
b)
Tình hình phát triển kinh tế
được bà con nông dân tích cực tham gia.
Màu, cây ăn trái: Diện tích và sản lượng màu chuyên canh liên tục tăng hàng
năm, từ 1.200 ha năm 2004 lên 3.500 ha năm 2013, tăng bình quân hàng năm 9,04%;
sản lượng màu đạt 24.620 tấn, tăng bình quân hàng năm 5,17%. Diện tích trồng cây ăn
trái hiện nay chủ yếu tập trung tại xã Long Tân trên 500 ha (chủ yếu là cây ăn trái như:
cam, quít, xoài, bưởi, v.v.... ), hiện nay đang được bà con nông dân tích cực phát triển
mở rộng diện tích.
Chăn nuôi gia súc - gia cầm: trong những năm qua đã có những bước phát triển
khá ổn định do ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, chuyển từ chăn
nuôi phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại. Đến cuối năm 2013,
tổng đàn heo đạt 91.788 con, tăng bình quân hàng năm 8,74%; đàn gia cầm đạt
1.200.000 con, tăng bình quân hàng năm 10,06%; đàn trâu, bò có chiều hướng giảm do
chăn nuôi chưa mang lại hiệu quả, tổng đàn hiện còn 570 con. Giá trị sản xuất ngành
chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33,6% trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, đời
sống người chăn nuôi được cải thiện và nâng lên đáng kể.
Thủy sản: Phát huy thế mạnh của huyện vùng trũng, trong những năm qua
UBND huyện tranh thủ các nguồn vốn đã đầu tư xây dựng hệ thống bờ bao khép kín
và hỗ trợ những điều kiện cần thiết nhằm đáp ứng phục vụ phát triển diện tích thủy
sản, đến nay đạt 2.700 ha tăng gần gấp 2 lần diện tích so năm 2004 (năm 2004 là 1.447
ha), chủ yếu là nuôi cá đồng trên ruộng lúa, nuôi cá lóc trong ao, vèo,… kết hợp công
tác tăng cường tuyên truyền, vận động bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Xây dựng cánh đồng mẫu: Thực hiện và quy hoạch phát triển 17 cánh đồng
mẫu với tổng diện tích trên 2.000 ha (trong đó có 1 cánh đồng mẫu lớn liên xã Mỹ
Bình - Mỹ Quới - Vĩnh Biên, quy mô trên 600 ha, có 364 hộ tham gia). Qua đánh giá
mô hình cánh đồng mẫu vụ Đông Xuân 2012 - 2013 mang lại hiệu quả, lợi nhuận trên
5 triệu đồng/ha so sản xuất ngoài cánh đồng nên được bà con tích cực tham gia.
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: trong những năm qua có bước phát triển
nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện, toàn huyện có
58 doanh nghiệp vừa và nhỏ; 668 cơ sở công nghiệp và thương mại, dịch vụ hoạt động
thực hiện giá trị đạt trên 220 tỷ đồng tăng gấp 6 lần so năm 2004 (năm 2004 là 35,1 tỷ
Dịch vụ bưu chính - viễn thông trong thời gian qua phát triển nhanh, cơ bản đáp
ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; chất lượng dịch vụ ngày càng được cải
thiện; mạng lưới bưu điện phát triển đến nay gồm 1 bưu cục cấp II và 3 bưu cục cấp
III, 4 bưu điện văn hóa xã và 4 đại lý bưu điện; mạng lưới viễn thông cung cấp đến
hầu hết các xã. Mật độ thuê bao điện thoại ước đạt 19 máy/100 dân, trong đó mật độ
thuê bao điện thoại cố định đạt 8 máy/100 dân; mạng lưới Internet phát triển tương đối
nhanh, hầu hết các xã có thể truy cập được Internet; mật độ thuê bao Internet đạt 0,7
thuê bao/100 dân; tỷ lệ người sử dụng Internet chiếm khoảng 10% dân số.
Về ngân sách, tín dụng: hàng năm thu ngân sách nhà nước đều đạt và vượt chỉ
tiêu tỉnh giao; tốc độ thu ngân sách tăng bình quân hằng năm trên 15,2%, tính đến cuối
năm 2013 thu đạt 17 tỷ đồng tăng gần 3 lần so năm 2004 (năm 2004 là 5,8 tỷ đồng);
công tác chi ngân sách luôn gắn với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đảm bảo kịp
thời yêu cầu phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Các nguồn vốn tín
dụng được tích cực triển khai, bám sát định hướng phát triển kinh tế của huyện, thực
hiện tốt việc phát vay các dự án đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, sản
xuất - kinh doanh, đặc biệt chính sách cho vay đối với hộ nghèo, học sinh, sinh viên,…
góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Tổng dư nợ
tín dụng 605 tỷ 10 triệu đồng, tăng gấp 6 lần so năm 2004 (năm 2004 là 79 tỷ 152
triệu đồng). Trong đó: dư nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đạt 372
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
11
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
tỷ 317 triệu đồng; Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 152 tỷ 645 triệu đồng; Ngân hàng
16,7%0.6
5
Nguồn: Văn phòng HĐND và UBND huyện Ngã Năm, 2012, Báo cáo thành tựu sau 10 năm thành lập huyện
Ngã Năm, định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
6
Nguồn: Dự thảo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng, Báo cáo hiện trạng khai thác, sử dụng tài
nguyên nước, các tác động của biến đổi khí hậu và tình hình xâm nhập mặn tháng 03 năm 2014
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
12
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Bảng 2.1: Độ mặn cao nhất từ năm 2008 – 2014 trong tỉnh Sóc Trăng
Đơn vị: %o
Trạm Long Phú
Thạnh Phú
TP. ST
An Lạc Tây
Thạch Thới
23/04 2,3
28/04 0,8
07/03 -
-
-
-
2009
16,6
27/04 9,1
13/04 3,0
04/04 0,9
24/04 -
-
-
-
-
13,5
Tháng 6
2012
16,8
09/04 5,4
14/03 2,0
09/04 0,9
09/04 22,0
06/06 22,1
24/04
2013
18,1
01/03 10,6
12/04 5,5
Kế hoạch xuống giống vụ Hè Thu năm 2013: 177.500 ha, Trong đó: TP. Sóc
Trăng 3.700 ha, Kế Sách: 25.000 ha, Long Phú: 22.500 ha, Mỹ Tú: 25.000 ha, Châu
Thành 26.000 ha, Mỹ Xuyên: 8170 ha, Trần Đề: 22.350 ha, Thạnh Trị: 26.600 ha và
Ngã Năm: 18.180 ha.
Diện tích xuống giống vụ Xuân Hè: 65.193,28 ha, Trong đó: Long Phú: 15.129
ha, TP.Sóc Trăng: 2.156 ha, Kế Sách: 12.500 ha, Thạnh Trị: 7.184 ha, Mỹ Xuyên:
234,72 ha, Mỹ Tú: 6.100 ha và Ngã Năm: 8.576,97 ha.
Diện tích thu hạch: 12.230 ha, Trong đó Long Phú: 9.476 ha, TP. Sóc Trăng:
2.015 ha, Trần Đề 739 ha.
2.2.1.3
Diện tích bị ảnh hưởng do XNM
Theo báo cáo của các huyện đến ngày 06/05/2013 đã bị thiệt hại là 4.924,01 ha,
Trong đó:
a) Vùng Dự án Long Phú – Tiếp Nhựt
Thiệt hại do mặn: 3.469,42 ha, trong đó: huyện Trần Đề: 1.174,25 ha (thuộc các
xã Tài Văn: 388,83 ha, Đại Ân 2: 251,85 ha, Liêu Tú: 299,98 ha, Viên An: 4 ha, thị
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
13
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
trấn Lịch Hội Thượng: 89,59 ha, Trung Bình: 10 ha, Lịch Hội Thượng: 30 ha, và Viên
Bình: 100 ha); Huyện Long Phú: 2.295,17 ha (thuộc các xã Đại Ngãi: 20,4 ha, Long
Đức: 59,14 ha, Hậu Thạnh: 113,57 ha, Phú Hữu: 108,52 ha, Châu khánh: 327,15 ha,
tranh thủ tối đa các đợt giảm mặn để lấy nước tưới cứu diện tích còn lại.
-
Đề nghị UBND các huyện chỉ đạo cho các xã tổ chức bồi trúc đập thời vụ, bờ
bao để ngăn mặn vào đồng ruộng; tích cực chỉ đạo cho các địa phương ra quân
làm thủy lợi nội đồng trong các vùng thiếu nước; đẩy nhanh tiến độ nạo vét
khẩn cấp các tuyến kênh tưới cho các khu vực bị thiếu nước; theo dõi chỉ đạo
thực hiện lịch xuống giống vụ hè thu chính vụ (Theo thông báo số 345/SNNTT, ngày 25 tháng 3 năm 2013 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Đề nghị UBND huyện Ngã Năm chỉ đạo cho ngưng xuống giống ở các xã có
Nguyễn Bá Thọ (3113848)
14