đánh giá ảnh hưởng của thay đổi thủy văn lên canh tác nông nghiệp vùng an giang - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TNTN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI THỦY VĂN
LÊN CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG AN GIANG

Sinh viên thực hiện
ĐẶNG NGUYỄN ĐÔNG PHƯƠNG MSSV 3113830

Cán bộ hướng dẫn
ThS. VÕ QUỐC THÀNH

Cần Thơ, tháng 12 - 2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TNTN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI THỦY VĂN
LÊN CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG AN GIANG

Sinh viên thực hiện
ĐẶNG NGUYỄN ĐÔNG PHƯƠNG MSSV 3113830

TÓM TẮT .................................................................................................................iv
ABSTRACT ............................................................................................................... v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................................vi
DANH SÁCH BẢNG .............................................................................................. vii
DANH SÁCH HÌNH .............................................................................................. viii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề .............................................................................................................. 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát ....................................................................................... 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ............................................................................................ 2
1.3 Nội dung nghiên cứu .............................................................................................. 2
1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................................... 2
1.4.1 Địa điểm nghiên cứu .................................................................................... 2
1.4.2 Thời gian và kế hoạch nghiên cứu ................................................................ 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................4
2.1 Tổng quan về Biến đổi khí hậu............................................................................... 4
2.2 Tổng quan lũ lụt tại Đồng bằng sông Cửu Long ..................................................... 6
2.3 Tổng quan vùng nghiên cứu ................................................................................ 9
2.3.1 Vị trí địa lý ..................................................................................................9
2.3.2 Đặc điểm địa hình ...................................................................................... 11
2.3.3 Đặc điểm khí hậu ....................................................................................... 11
2.3.4 Đặc điểm thuỷ văn ..................................................................................... 13
2.3.5 Đặc điểm Kinh tế – Xã hội ......................................................................... 14
2.4 Ứng dụng thống kê toán học trong nghiên cứu Khí tượng – Thuỷ văn.................. 16
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 19
3.1 Các phương pháp thống kê toán học để phân tích số liệu ..................................... 19
3.1.1 Phương pháp chuẩn sai tích luỹ.................................................................. 19
ii



Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông (vụ 3), phần lớn các mùa vụ đều bị ảnh hưởng trong thời
gian mùa lũ. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được một số rủi ro trong canh tác lúa,
chủ yếu là đối với vụ Hè Thu và Thu Đông.
Từ khoá: động thái lũ, lịch thời vụ, tỉnh An Giang.

iv


ABSTRACT
An Giang province has potential economic development in the Vietnamese Mekong
Delta. Especially, agriculture is certainly acknowledged as a strength, focusing mainly on
rice cultivar. Rice production is annually increasing to 3,84 million tons in 2011. However,
the annual flood has been creating a very dangerous situation for agricultural activities.
Therefore, the study was conducted with the objectives of identifying the flood dynamics
during the period of 1998 – 2011 and assessing the impact of water level changes on rice
crops. An Giang’s rice crop calendar was used to compare to hydrographs of the flood period
in several years. Besides, some basic statistic approaches were also applied to analyze flood
characteristics (based on measured data at Tan Chau and Chau Doc gauge stations). The
outcomes showed that flood dynamics in recent years had significant changes. In heavilyflooded years, flood season usually occurs earlier and lasts longer than in regular ones.
Moreover, flood peaks also exceed the 3rd stage warning water level (based on Decision
17/2011/QD-TTg) and the period of high water level of flood lasts too long. Apart from
seriously-flooded years, there are some tightly-flooded years, with low flood peaks and short
flood season. Additionally, in An Giang, agricultural production takes place in three crops,
which are winter-spring (Dong Xuan), summer-autumn (He Thu) and autumn-winter (Thu
Dong) season. Most crops are affected in flood season. Especially, the study result also
presented several risks in agriculture production, majoring in summer-autumn and autumnwinter season.
Keywords: flood dynamics, seasonal calendar, An Giang province.

v


NĐTB

Nhiệt độ trung bình

TC

Tân Châu

UN

United Nations

VKHKTTVMT

Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường

vi


DANH SÁCH BẢNG
Bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1 Tổng hợp thiệt hại do lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2001 ............ 9
Bảng 2.2 Tổng lượng mưa tháng từ năm 2001 đến năm 2009 tại trạm Châu Đốc ...... 13
Bảng 2.3 Dân số Tỉnh An Giang ................................................................................ 15
Bảng 3.1 Bảng tham chiếu ý nghĩa hệ số tương quan ................................................. 23

Hình 3.3 Xu thế tăng rồi giảm sau đó tăng và Xu thế giảm rồi tăng sau đó giảm ....... 20
Hình 3.4 Đồ thị diễn tả một quá trình lũ .................................................................... 26
Hình 4.1 Đồ thị diễn biến mực nước đỉnh lũ tại trạm Tân Châu (A) và trạm Châu Đốc
(B) giai đoạn 1998 – 2011 ......................................................................................... 27
Hình 4.2 Đồ thị phân tích xu thế diễn biến mực nước tại trạm Tân Châu (A) và trạm
Châu Đốc (B) giai đoạn 1998 – 2011 bằng phương trình hồi quy .............................. 28
Hình 4.3 Đồ thị phân tích xu thế diễn biến mực nước tại trạm Tân Châu và trạm Châu
Đốc giai đoạn 1998 – 2011 bằng phương pháp chuẩn sai tích luỹ ............................. 29
Hình 4.4 Thời gian mùa lũ theo hai trạm Tân Châu và Châu Đốc từ năm 1998 đến
năm 2011 ................................................................................................................... 30
Hình 4.5 Thời gian mực nước tại trạm Tân Châu vượt các cấp báo động trong mùa lũ
từ năm 1998 đến năm 2011 ........................................................................................ 31

viii


Hình 4.6 Thời gian mực nước tại trạm Châu Đốc vượt các cấp báo động trong mùa lũ
từ năm 1998 đến năm 2011 ........................................................................................ 31
Hình 4.7 Lịch thời vụ trồng lúa ở An Giang ............................................................... 34
Hình 4.8 So sánh lịch thời vụ trồng lúa ở An Giang với mực nước lũ trung bình nhiều
năm tại trạm Tân Châu và Châu Đốc......................................................................... 35
Hình 4.9 So sánh lịch thời vụ trồng lúa ở An Giang với mực nước lũ năm 2000 tại
trạm Tân Châu và Châu Đốc ..................................................................................... 36
Hình 4.10 So sánh lịch thời vụ trồng lúa ở An Giang với mực nước lũ năm 2011 tại
trạm Tân Châu và Châu Đốc ..................................................................................... 36
Hình 4.11 So sánh lịch thời vụ trồng lúa ở An Giang với mực nước lũ năm 1998 tại
trạm Tân Châu và Châu Đốc ..................................................................................... 37
Hình 4.12 So sánh lịch thời vụ trồng lúa ở An Giang với mực nước lũ năm 2010 tại
trạm Tân Châu và Châu Đốc ..................................................................................... 37


Hình 1.1 Bản đồ địa giới hành chính các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

1


Luận văn tốt nghiệp

Ngành Quản lý MT & TNTN

Diễn biến lũ những năm gần đây ở ĐBSCL trở nên phức tạp hơn, gây nhiều
thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người dân
địa phương. Vấn đề này ngày càng trở nên phức tạp hơn khi hiện tượng BĐKH xảy ra
cùng với việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và
đô thị ở ĐBSCL (Văn Phạm Đăng Trí et al., 2013). Lũ lụt năm 2000 được xem như là
lũ lịch sử với mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu (TC) là 506 cm và tại Châu Đốc (CĐ) là
490 cm, tiếp theo năm 2001 và năm 2002 đều là những năm lũ lớn tại ĐBSCL. Lũ lớn
và kéo dài gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp (Trần Như Hối, 2005). Những năm
lũ lớn, về sớm, nước lũ lên quá nhanh, cây lúa không vươn kịp theo nước sẽ chết hàng
loạt. Ngoài ra, tại ĐBSCL, mùa vụ, tập quán canh tác và sự hình thành các vùng trồng
lúa khác nhau còn tuỳ thuộc vào điều kiện thuỷ văn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Do đó,
sự thay đổi của chế độ thuỷ văn có ảnh hưởng lớn trong sản xuất nông nghiệp ở
ĐBSCL. Xuất phát từ thực tiễn, đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của thay đổi thuỷ văn
lên canh tác nông nghiệp vùng An Giang” được thực hiện nhằm xác định mối quan
hệ giữa sự thay đổi chế độ thuỷ văn với sản xuất nông nghiệp. Từ đó, góp phần làm cơ
sở để xây dựng lịch thời vụ phù hợp nhằm giảm tổn thất do lũ gây ra và nâng cao năng
suất trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn góp phần hỗ trợ để
quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.

11 năm 2014.
Một số công việc và tiến độ thực hiện đề tài như sau:
CV1: Viết đề cương nghiên cứu. Thời gian thực hiện: 01/08/2014 – 20/08/2014
CV2: Thu thập số liệu về thuỷ văn và canh tác nông nghiệp. Thời gian thực
hiện: 15/08/2014 – 31/08/2014
CV3: Xác định động thái lũ. Thời gian thực hiện: 01/09/2014 – 30/09/2014
CV4: Xác định tương quan giữa thay đổi thuỷ văn và canh tác nông nghiệp.
Thời gian thực hiện: 01/10/2014 – 31/10/2014
CV5: Phân tích và viết báo cáo tổng hợp. Thời gian thực hiện: 01/09/2014 –
30/11/2014

Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

3


Luận văn tốt nghiệp

Ngành Quản lý MT & TNTN

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về Biến đổi khí hậu
Theo IPCC (1995), Biến đổi khí hậu là hiện tượng thay đổi các yếu tố khí hậu
(trong chuỗi thời gian quan trắc nhiều năm), nguyên nhân của hiện tượng này là do sự
tương tác giữa các yếu tố khí hậu (biến đổi tự nhiên), hoặc do các hoạt động của con
người gây ra như thải khí nhà kính ra khí quyển.
Khái niệm về BĐKH là sự thay đổi của khí hậu (định nghĩa của Công ước khí
hậu) được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi
thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự
nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt

hạn hán, …) cũng xuất hiện thường xuyên hơn. Đặc biệt, mực nước biển dâng cao hơn
do sự tan băng ở hai cực, nguyên nhân của sự dãn nở vì nhiệt của khối nước biển, đại
dương (Lê Anh Tuấn, 2011).

Hình 2.2 (A) Mức tăng nhiệt độ trung bình năm và (B) Mức thay đổi lượng mưa năm
của Việt Nam trong 50 năm qua (Nguồn: VKHKTTVMT, 2010)

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề do ảnh hưởng của
BĐKH và nước biển dâng (NBD), sau Bangladesh và các quốc đảo khác (Thayer,
2007; UN, 2009). Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa là rất khác
nhau trên các vùng trong 50 năm qua. NĐTB năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả
nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở nửa phần phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ
(BTNMT, 2011; VKHKTTVMT, 2012). Theo tóm tắt kịch bản BĐKH, NBD cho Việt
Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

5


Luận văn tốt nghiệp

Ngành Quản lý MT & TNTN

Nam (2012), đến cuối thế kỷ 21, NĐTB năm tăng từ 1,6oC – 3,7oC trên phần lớn diện
tích Việt Nam tuỳ theo kịch bản phát thải. Lượng mưa năm tăng hầu hết trên lãnh thổ
với mức tăng phổ biến từ 2% - 10% theo kịch bản phát thải cao. Đặc biệt, nếu mực
nước biển dâng lên 1 m, sẽ có khoảng 39% diện tích ĐBSCL, trên 10% diện tích Đồng
bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền
Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập (BTNMT,
2012).
Những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển do BĐKH sẽ dẫn đến

Tô Văn Trường, 2005). Theo đó, mùa lũ ở ĐBSCL thường được chia ra ba giai đoạn.
Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

6


Luận văn tốt nghiệp

Ngành Quản lý MT & TNTN

Trong giai đoạn I, từ tháng 7 đến tháng 8, nước lụt chảy vào các kinh và mương rạch
thiên nhiên vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Cao điểm lũ lụt xảy ra
trong giai đoạn II khi mực nước sông Tiền ở Tân Châu cao hơn 4,2 m và mực nước
sông Hậu ở Châu Đốc cao hơn 3,5 m. Nước lụt ở Đồng Tháp Mười và khu Tứ giác
Long Xuyên có 2 nguồn chính: nước tràn qua bờ sông Tiền và sông Hậu trong địa
phận Việt Nam có chứa phù sa và nước lụt tràn qua biên giới Việt – Miên rất ít phù sa.
Giai đoạn III bắt đầu từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến cuối tháng 12.
Vào những năm bình thường, khoảng 1/3 diện tích đồng bằng bị ngập lụt, có nơi sâu 3
– 4 m (Trần Đăng Hồng, 2009).
Hàng năm, diện tích ngập lụt toàn vùng khoảng 3 – 4 triệu ha, với độ sâu ngập
lụt từ 0,5 – 4,0 m (Tô Quang Toản et al., 2011). Lũ tràn là nguyên nhân chính gây
ngập lụt trên vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên với diện tích ngập hàng
năm khoảng 1,9 triệu ha (Nguyễn Sinh Huy, 2003). Dựa vào nghiên cứu sử dụng mô
hình thuỷ văn và thuỷ lực để xác định diễn biến lũ trong tương lai (hình 2.3), kết quả
cho thấy lũ trong kịch bản tương lai (2090s) sẽ lớn hơn rất nhiều so với kịch bản hiện
tại (2000s) về cả hai phương diện độ sâu và diện tích ngập lụt. Vùng ngập lũ sẽ mở
rộng về phía biển và diện tích ngập lũ sẽ tăng thêm khoảng 23% tổng diện tích
ĐBSCL (Nguyễn Duy Khang et al., 2010).

Hình 2.3 Phân bố độ sâu lũ tại thời điểm lũ mở rộng nhất với hai kịch bản hiện tại

(23 năm, chiếm 35%) và lũ nhỏ (16 năm, chiếm 24%). Trong đó, năm 1961 có đỉnh lũ
cao nhất tại Tân Châu là 512 cm, song những năm 1998 (281 cm) và 1988 (313 cm)
thì lại rất thấp. Ngoài ra, có 02 trường hợp mà 04 năm liền lũ lớn với mực nước đỉnh
lũ trên 430 cm (1937 – 1940; 1946 – 1949); 04 trường hợp 03 năm liền nhau xảy ra lũ
lớn (1960 – 1962; 1970 – 1972; 1994 – 1996; 2000 – 2002). Đặc biệt, trong những
năm lũ lớn, thời gian duy trì mực nước đỉnh lũ trên cấp báo động tại Tân Châu thường
là từ 60 – 80 ngày trên 350 cm; từ 40 – 50 ngày trên 450 cm (Trần Như Hối, 2005). Lũ
lớn thường gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản, song lũ nhỏ cũng mang lại những
khó khăn trong sản xuất, thiệt hại về mặt môi trường như: thiếu nước cho sản xuất, vệ
sinh đồng ruộng, xâm nhập mặn, dịch bệnh và chuột bọ trên ruộng (Đào Xuân Học et
al., 2003).
600

Hmax (cm)

Tân Châu

Châu Đốc

500

400

300
Năm
1961
1963
1965
1967
1969


Trong lịch sử lũ lụt tại ĐBSCL, những năm 1961, 1978, 1984, 1991, 1994,
1996, 2000, 2001 và 2002 là năm có lũ đặc biệt lớn (Đào Xuân Học et al., 2003; Trần
Như Hối, 2005). Năm 1961, có đỉnh lũ cao nhất tại Tân Châu là 512 cm và Châu Đốc
là 489 cm (Tô Văn Trường, 2005). Riêng trận lũ năm 2000 được xem là lũ lịch sử tại
ĐBSCL với dạng lũ 2 đỉnh và thời gian lũ về sớm, mực nước tại Tân Châu vào ngày
02/08 là 422 cm và đạt cao nhất là 506 cm vào ngày 23/09. Ngoài ra, thời gian duy trì
mực nước trên 350 cm tại Tân Châu là 124 ngày và trên 450 cm là 56 ngày (Trần Như
Hối, 2005). Lũ lụt năm 2000 tại ĐBSCL đã gây ra nhiều thiệt hại to lớn về vật chất và
nhân mạng. Do lũ đến sớm và thuộc loại cao nên đã gây ra nhiều thiệt hại nặng nề cho
vụ Hè Thu và vụ ba, bên cạnh đó thì lũ cũng rút chậm, ngập lụt kéo dài gây nhiều khó
khăn cho sản xuất sau mùa lũ (Đào Xuân Học et al., 2003). Tại tỉnh An Giang, lũ năm
2000 đã giết chết 134 người, trong đó 94 là trẻ em, tổng thiệt hại là 842 tỷ đồng. Đến
trận lũ năm 2011, số người chết do lũ đã giảm đáng kể chỉ còn 23 người, trong đó 19
là trẻ em, tổng thiệt hại ước tính là 869,2 tỷ đồng (Chi cục Thuỷ lợi An Giang, 2011).
Đặc biệt, những thiệt hại về mặt môi trường sinh thái cũng rất lớn và khó đánh giá
được.
Bảng 2.1 Tổng hợp thiệt hại do lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2001

Long An
Đồng Tháp
An Giang
Cần Thơ
Kiên Giang
Tiền Giang
Vĩnh Long
Sóc Trăng
Bến Tre
Tổng thiệt hại


Số hộ
Tổng diện tích
bị ngập lúa bị ngập úng
(hộ)
(ha)
60.841
114.840
32.951
24.670
29.641
44.439
29.240
4.992
0
341.614

451
5.638,25
4.435
7.667
1.098,4
1.400,1
0
0
0
20.690

Tổng thiệt
hại
(Triệu đồng)

 Phía Đông Nam giáp với thành phố Cần Thơ;
 Phía Nam và Tây Nam giáp với tỉnh Kiên Giang;
 Phía Đông và Đông Bắc giáp với tỉnh Đồng Tháp;
 Phía Tây Bắc giáp với Vương quốc Campuchia.

Hình 2.5 Bản đồ địa giới hành chính tỉnh An Giang

An Giang cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km, cách trung tâm thành
phố Cần Thơ khoảng 60 km, có đường biên giới với Vương quốc Campuchia dài
khoảng 90 km được thông thương bằng các cửa khẩu quốc tế và quốc gia như Vĩnh
Xương (thị xã Tân Châu), Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên), cửa khẩu quốc gia Khánh
Bình và Vĩnh Hội Đông (huyện An Phú).
Với mục tiêu thúc đẩy giao thương, trong những năm gần đây mạng lưới giao
thông đi qua An Giang đang ngày càng phát triển nhanh chóng. Về đường bộ, quốc lộ
91 dài 150 km từ thành phố Cần Thơ – An Giang – Cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên và
nối vào Quốc lộ 2 của Campuchia. Năm 2012, khởi công xây dự án cầu Vàm Cống,
cầu Cao Lãnh, ước tính sẽ rút ngắn khoảng 50% thời gian đi lại từ An Giang đến thành
phố Hồ Chí Minh so với hiện nay. Về đường thuỷ, sông Tiền và sông Hậu chảy qua
địa phận An Giang khoảng 100 km, đây là hai con sông quan trọng thuộc hạ lưu vực
sông Mekong thông thương ra biển Đông. Ngoài ra, mạng lưới kênh rạch chằng chịt
của tỉnh cũng góp phần vận chuyển hàng hoá được thuận lợi hơn.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 353,7 nghìn ha, bằng 1,07% diện tích cả nước và
đứng thứ 4 ở ĐBSCL, trong đó diện tích đất nông nghiệp (tính đến 01/01/2009) là
280,0 nghìn ha chiếm tỷ lệ 79,16%, còn lại chủ yếu là đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng
và đất ở. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị xã
Châu Đốc, thị xã Tân Châu và các huyện An Phú, Châu Phú, Phú Tân, Tri Tôn, Tịnh
Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

10


Chế độ mưa bị phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến
tháng 11 (lượng mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 10) và mùa khô bắt đầu từ tháng
12 đến tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 1.355 mm/năm,
giá trị cao nhất đạt 2.020 mm/năm (2008) và thấp nhất 704,1 mm/năm (2002).
Số giờ nắng bình quân mỗi ngày ở các tháng mùa khô thường cao hơn khoảng 2
giờ so với các tháng mùa mưa, tổng số giờ nắng cao nhất trong năm là 2.480 giờ
(2002), vào tháng 7/2007 có tổng số giờ nắng thấp nhất (106 giờ/tháng) và tháng
5/2006 có tổng số giờ nắng cao nhất (291 giờ/tháng).

Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

11


Luận văn tốt nghiệp

Ngành Quản lý MT & TNTN

Nhiệt độ trung bình (ĐVT: oC)

30.0
29.0
28.0
27.0
26.0
25.0
24.0
23.0
Thời gian


ĐVT: mm
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

2001
30
32
153
75
93
99
210
132
437
24
9

2002


86
241
375
120

Năm
2005

75
117
240
122
209
341
389
122

2006
14
4
6
97
117
113
96
235
145
240
17
23

34
94
159
160
163
127
110
23
5

(Nguồn: www.mard.gov.vn)

2.3.4 Đặc điểm thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn ở An Giang phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bán nhật triều biển
Đông và chịu ảnh hưởng của các yếu tố dòng chảy sông Cửu Long (sông Tiền, sông
Hậu), chế độ mưa, đặc điểm địa hình và hình thái kênh rạch.
Sông Cửu Long chảy qua An Giang theo 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu. Lưu
lượng trung bình năm là 13.500 m3/s, vào mùa lũ 24.000 m3/s và mùa kiệt là 5.020
m3/s. Hệ thống sông nhánh, kênh rạch tự nhiên và kênh thủy lợi trong tỉnh có tổng
chiều dài hơn 5.500 km (mật độ 1,6 km/km2), đủ khả năng chuyển tải nguồn nước mặt
phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và vận tải thủy.
Hàng năm, vào mùa mưa tỉnh An Giang đón nhận nguồn nước lũ từ sông
Mekong đổ về và hình thành mùa nước nổi với khoảng 70% diện tích đất tự nhiên bị
ngập từ 1,0 m đến 2,5 m, thời gian ngập từ 2,5 tháng đến 5 tháng, thông thường vào
khoảng thời gian từ 15/8 đến 20/12 hàng năm. Lưu lượng đỉnh lũ trước khi tràn vào
ĐBSCL thường từ 50.000 ÷ 60.000 m3/ngày, có năm đến 70.000 m3/ngày.
Ngoài ra, An Giang còn có hệ thống sông và kênh rạch rất phát triển. Mạng lưới
giao thông thuỷ của tỉnh gồm hệ thống sông, rạch tự nhiên và các kênh cấp 1, cấp 2
phục vụ cho công tác tưới tiêu trong nông nghiệp và vận tải. Trên địa bàn tỉnh có hai
tuyến sông Tiền, sông Hậu có điều kiện khá thuận lợi cho giao thông thuỷ, chiều rộng



Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 – 2007 chuyển dịch theo hướng tăng tỷ
trọng ngành dịch vụ, công nghiệp – xây dựng; giảm tỷ trọng nông, lâm,
thuỷ sản (giảm từ 41,07% năm 2000 xuống 34,52% năm 2007).



GDP bình quân đầu người năm 2007 (giá thực tế) đạt 12,09 triệu đồng,
tương đương khoảng 530 USD (bằng 90% mức thu nhập bình quân của
cả nước) và theo giá cố định năm 1994 đạt 5,7 triệu đồng, tăng bình quân
9,6%/năm, cao hơn 1,75 lần mức thu nhập của năm 2000.



Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2007 là 4.652,4 tỷ đồng, tăng bình
quân 16,73%/năm (giai đoạn 2000 – 2007) và đạt tỷ lệ thu 9,2% so với
GDP nền kinh tế; chi ngân sách năm 2007 là 4.475,8 tỷ đồng, tăng bình
quân 19,2%/năm và đạt tỷ lệ 11,7% so với GDP nền kinh tế.

Đặng Nguyễn Đông Phương (MSSV: 3113830)

14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status