ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Dƣơng Thị Phƣơng Nga
ĐÁNH GIÁ
ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN CHẤT LƢỢNG
MÔI TRƢỜNG NƢỚC Ở TỨ GIÁC LONG XUYÊN THUỘC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÔNG QUA
MỘT SỐ THÔNG SỐ THỦY LÝ HÓA VÀ SINH HỌC
Dƣơng Thị Phƣơng Nga
ĐÁNH GIÁ
ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN CHẤT LƢỢNG
MÔI TRƢỜNG NƢỚC Ở TỨ GIÁC LONG XUYÊN THUỘC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÔNG QUA
MỘT SỐ THÔNG SỐ THỦY LÝ HÓA VÀ SINH HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN XUÂN HUẤN
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2014
Ngƣời thực hiện Dƣơng Thị Phƣơng Nga
i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH
Biến đổi khí hậu
COND
Độ dẫn điện, độ dẫn
DO (dissolve oxygen)
Oxy hòa tan
DOC (dissolved organic carbon)
Cac bon hữu cơ hòa tan
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
ĐDSH
Đa dạng sinh học
ĐVKXS
Động vật không xƣơng sống
ĐVCXS
Động vật có xƣơng sống
IPCC (The Intergovernmental Panel
on Climate Change)
Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
LVS
2.3.1. Đánh giá biến động chất lƣợng nƣớc và biến động về khí tƣợng 34
2.3.2. Tính toán hệ số tƣơng quan giữa các thông số 35
2.3.3. Giám sát chất lƣợng nƣớc thông qua kết quả quan trắc sinh học 37
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Điều kiện tự nhiên và chất lƣợng nƣớc tại khu vực nghiên cứu 39
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 39
3.1.2. Chất lƣợng nƣớc LVS Mê Kông và những tác động đến quá trình sinh
hóa lƣu vực sông 45
3.2. Biến động về các yếu tố khí tƣợng tại 2 trạm nghiên cứu 50
iii
3.3. Đánh giá ảnh hƣởng của BĐKH đến môi trƣờng nƣớc dựa trên sự tƣơng quan
giữa thông số khí tƣợng và chất lƣợng nƣớc 52
3.3.1. Tƣơng quan tuyến tính giữa từng cặp thông số 52
3.3.2. Tƣơng quan tuyến tính đa biến giữa nhóm thông số khí tƣợng-thủy văn
và từng thông số chất lƣợng môi trƣờng nƣớc 64
3.3.3. Biến động chất lƣợng nƣớc thông qua kết quả giám sát sức khỏe sinh thái
tại 2 khu vực nghiên cứu 66
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 71
KẾT LUẬN 71
KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Diễn biến mức độ sai lệch nhiệt độ ở các châu lục qua các năm 6
Bảng 2. Những tác động từ BĐKH đến môi trƣờng nƣớc 18
Hình 7. Phân bố các dạng đất của Lƣu vực sông Mê Kông 40
Hình 8. Diễn biến hàm lƣợng Phốt pho tổng trong nƣớc tại 2 trạm (a) Châu Đốc, (b)
Cần Thơ trong giai đoạn 1985-2010 46
Hình 9. Diễn biến hàm lƣợng Ni tơ tổng trong nƣớc tại 2 trạm (a) Cần Thơ, (b)
Châu Đốc trong giai đoạn 1985-2010 47
Hình 10. Diễn biến nồng độ oxy hòa tan (DO) trong nƣớc tại 2 trạm quan trắc (a)
Châu Đốc và (b) Cần Thơ giai đoạn 1985-2010 48
Hình 11. Diễn biến độ pH trong nƣớc tại 2 trạm quan trắc (a) Châu Đốc và (b) Cần
Thơ giai đoạn 1985-2010 49
Hình 12. Dao động nhiệt độ theo thời gian từ 1985-2010 tại 2 trạm khí tƣợng Châu
Đốc và Cần Thơ 50
Hình 13. Biến động về lƣợng mƣa tại (a) Châu Đốc và (b) Cần Thơ giai đoạn 1985-
2010 51
Hình 14. Tƣơng quan giữa nhiệt độ không khí và pH (a) tại Châu Đốc vào mùa
mƣa (tháng 2-T2) và mùa khô (tháng 8-T8), (b) tại Cần Thơ vào mùa mƣa (tháng
3–T3) và mùa khô (tháng 11-T11) 56
Hình 15. Tƣơng quan giữa DO và nhiệt độ không khí (a) tại Châu Đốc vào mùa khô
(tháng 7-T7) và mùa mƣa (tháng 11-T11); (b) tại Cần Thơ vào mùa khô (tháng 5-
T5) và mùa mƣa (tháng 2-T2) 57
vi
Hình 16. Tƣơng quan giữa hàm lƣợng DO và lƣợng mƣa (a) tại Châu Đốc vào mùa
mƣa (tháng 9); (b) tại Cần Thơ vào mùa khô (tháng 2) 60
Hình 17. Tƣơng quan giữa độ dẫn và lƣợng mƣa (a) tại Châu Đốc vào mùa mƣa
(tháng 6); (b) tại Cần Thơ vào mùa khô (tháng 3) 61
Hình 18. Tƣơng quan giữa lƣợng mƣa và hàm lƣợng chất dinh dƣỡng vào mùa khô
(a) giữa lƣợng mƣa và hàm lƣợng Ni tơ tổng (TOTN) tại Châu Đốc (tháng 12); (b)
giữa lƣợng mƣa và hàm lƣợng Phốt pho tổng (TOTP) tại Cần Thơ (tháng 2) 62
Hình 19. Tƣơng quan giữa thông số nhiệt độ và hàm lƣợng chất dinh dƣỡng vào
mùa mƣa (a) tƣơng quan giữa hàm lƣợng Ni tơ tổng (TOTN) và nhiệt độ tại Châu
chung và chất lƣợng môi trƣờng nƣớc nói riêng tại Việt Nam.
Nhiều yếu tố khí tƣợng thủy văn ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc, điển hình
là nhiệt độ không khí, lƣợng mƣa. Hiệu ứng thay đổi chất lƣợng nƣớc xảy ra một
cách trực tiếp từ những thay đổi nhiệt độ nƣớc hoặc gián tiếp thông qua ô nhiễm
nhiệt. Thay đổi nhiệt độ nƣớc có thể trực tiếp ảnh hƣởng đến các thông số chất
lƣợng nƣớc bao gồm hàm lƣợng oxy hòa tan, độ dẫn điện, pH, tổng hàm lƣợng Ni
tơ, tổng hàm lƣợng Phốt pho trong nƣớc.
2
Với mục tiêu đánh giá tác động của BĐKH đến chất lƣợng môi trƣờng nƣớc
khu vực Tứ Giác Long Xuyên (thuộc vùng ĐBSCL), đề tài này sẽ là cơ sở đánh giá
sơ bộ mức độ ảnh hƣởng trên. Đề tài đƣa ra kết quả khảo sát về mức độ ảnh hƣởng
của BĐKH đến môi trƣờng nƣớc dựa trên sự tƣơng quan giữa khí tƣợng và chất
lƣợng nƣớc, và khảo sát về sự biến động về sức khỏe sinh thái thủy vực tại 2 trạm
nghiên cứu tại Châu Đốc và Cần Thơ trên sông Mê Kông, nơi sinh sống của hệ sinh
vật thủy sinh, và nguồn cung cấp dinh dƣỡng cũng nhƣ kế sinh nhai cho cộng đồng
dân cƣ của vùng. 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. BĐKH và những biểu hiện của BĐKH
BĐKH là khái niệm đƣợc IPCC (Ủy ban liên chính phủ về BĐKH) sử dụng
đề cập đến bất kỳ thay đổi khí hậu theo thời gian, cho dù là do biến đổi tự nhiên
hoặc là kết quả của hoạt động của con ngƣời. Trong Công ƣớc khung về BĐKH,
BĐKH là sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con ngƣời tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp, làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu khi so sánh với khí
hậu tự nhiên theo thời gian (Mc Carthy và cộng sự, 2001) [77]. Bằng chứng quan
cứu. Khi các đại dƣơng ấm lên, nƣớc sẽ tăng thể tích, đây là một trong những
nguyên nhân chính của sự dâng cao mực nƣớc biển đã đƣợc ghi nhận trong thế kỷ
qua. (Hình 2)
Một thế giới ấm hơn cũng trở nên ẩm hơn, vì không khí ấm hơn có thể tích
trữ nhiều hơi nƣớc hơn. Phân tích trên quy mô toàn cầu cho thấy độ ẩm hay lƣợng
hơi nƣớc trong khí quyển, đã tăng lên cả trên mặt đất và trong đại dƣơng.
5 Hình 2. Biến động một số chỉ số độc lập khi khí hậu toàn cầu thay đổi [58]
Gia tăng nhiệt độ toàn cầu là một trong những biểu hiện đầu tiên của BĐKH
đƣợc nhận biết rõ rệt qua các số liệu giám sát. Đƣờng đồ thị biểu diễn xu hƣớng
tuyến tính của chuỗi số liệu trong vòng 100 năm từ 1906-2005 cho thấy, mức tăng
nhiệt độ là 0,74°C, đã cao hơn so với khoảng thời gian tƣơng ứng (1901-2000) với
mức tăng là 0,6°C. Xu hƣớng tăng nhiệt độ trong vòng 50 năm từ 1956 – 2005 cao
gần gấp đôi so với giai đoạn từ 1906 – 2005, với mức tăng 0,13°C/thập kỷ đã chứng
minh tốc độ biến đổi nhiệt độ đang tăng lên. Khoảng thời gian từ 1995 đến 2005
đƣợc xác nhận là giai đoạn có trung bình nền nhiệt toàn cầu cao nhất qua các năm
tính từ năm 1850.
6
Hiện tƣợng gia tăng nhiệt độ biểu hiện rõ rệt nhất ở các vĩ độ phía Bắc và tập
trung ở các vùng sâu trong các lục địa. Nhiệt độ trung bình ở khu vực Bắc bán cầu
đã tăng gần gấp đôi so với mức tăng trung bình toàn cầu trong vòng 100 năm qua và
là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 1300 năm qua (Bảng 1).
Bảng 1. Diễn biến mức độ sai lệch nhiệt độ ở các châu lục qua các năm [57]
Châu lục
1920
1940
1960
0,0
0,8
Châu Á
0,0
0,1
0,1
0,3
0,9
Châu Úc
-0,1
0,0
0,1
0,3
0,5
Xu hƣớng tăng nhiệt độ ở đất liền mạnh hơn so với ngoài đại dƣơng. Nhiệt
độ đại dƣơng đã tăng đến độ sâu 3000 m, các đại dƣơng là nơi hấp thụ 80% tổng
lƣợng nhiệt gia tăng từ hệ thống khí hậu. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn so
với sự gia tăng nhiệt độ bề mặt đất, cụ thể tốc độ ấm lên trên đất liền là 0,27°C/thập
kỷ so với đại dƣơng là 0,13°C /thập kỷ.
Thay đổi về lƣợng mƣa, nhìn chung tăng trên toàn vùng 30 vĩ độ Bắc trong
giai đoạn 1900-2005 nhƣng xu hƣớng giảm chiếm ƣu thế trong vùng nhiệt đới từ
những năm 1970. Bộ dữ liệu lƣợng mƣa trung bình toàn cầu trên mặt đất đã cho
thấy xu hƣớng tuyến tính thuận từ 1900-2005 nhƣng không có ý nghĩa thống kê,
những giai đoạn khác 1951- 2005 và 1979-2005 cho thấy các xu hƣớng thuận và
nghịch tùy thuộc vào tập dữ liệu.
Đối với chuỗi số liệu đo đạc dài nhất (giai đoạn 1901-2008) tất cả các bộ dữ
liệu cho thấy lƣợng mƣa trung bình trên toàn cầu tăng lên, với ba trong bốn sự thay
đổi có ý nghĩa thống kê. Xu hƣớng toàn cầu trong chuỗi thời gian ngắn hơn (1951-
2008) cho thấy một kết hợp của xu hƣớng thuận và nghịch về mặt ý nghĩa thống kê
trong số bốn bộ dữ liệu (Smith và cộng sự, 2012) [101]. Những sự khác biệt giữa các
Võrtsjärv tại Estonia tăng 0,7°C từ năm 1947 đến năm 2006 và vào mùa hè (tháng
8), nhiệt độ nƣớc của hồ Saimaa, Phần Lan tăng hơn 1°C trong thế kỷ qua. [16]
Hình 4. Xu hƣớng nhiệt độ nƣớc trung bình ở sông Rhine (1909-2006),
sông Danube (1901-1998), Hồ Võrtsjärv (1947-2006) và nhiệt độ nƣớc vào
tháng 8 ở hồ Salmaa, Phần Lan (1924-2000) [16,43]
9
Một số chuỗi số liệu về nhiệt độ nƣớc trong chuỗi thời gian ngắn hơn (trong
vòng 30-50 năm qua) cho thấy xu hƣớng tăng nhiệt độ nƣớc trong hệ thống thủy
vực nƣớc ngọt châu Âu là 0,05-0,8°C mỗi thập kỷ.
Nhiệt độ của hồ Windermere (Anh) và hồ Feeagh (Ai-len) tăng 0,7-1,4°C từ
năm 1960 đến 2000 (George và Hurley, 2007) [49]. Nhiệt độ nƣớc của hồ Veluwe
(Hà Lan) đã tăng hơn 1°C kể từ năm 1960 (MNP, 2006) [79]. Mooij và cộng sự
(2008) [81] đã mô hình hóa sự biến động nhiệt độ nƣớc trong 3 hồ nông ở Hà Lan,
và phát hiện thấy sự gia tăng gần 2°C trong giai đoạn 1961-2006. Tăng nhiệt độ
nƣớc đã đƣợc ghi nhận tại 8 hồ ở Lithuania (Pernaravičiūt, 2004) [93] và 6 hồ tại Ba
Lan (Dabrowski và cộng sự, 2004) [36]. Kể từ năm 1950, nhiệt độ nƣớc mặt trong
các sông và hồ ở Thụy Sĩ đã tăng hơn 2°C (Buwal, 2004; Hari và cộng sự, 2006)
[51]. Trong các hồ lớn thuộc Alps, nhiệt độ nƣớc nhìn chung tăng 0,1-0,3°C mỗi
thập kỷ ở hồ Maggiore (Ambrosetti và Barbanti, 1999) [15], hồ Zürich (Livingstone,
2003) [73], hồ Constance và hồ Geneva (Anneville và cộng sự, 2005) [17].
Hồ Baikal cũng có sự gia tăng đáng kể nhiệt độ nƣớc ở bề mặt và tại độ sâu
25m trong giai đoạn 1945-2005 (Hampton và cộng sự, 2008) [50]. Cụ thể là nƣớc
bề mặt ấm lên trung bình 0,2ºC trong 1 thập kỷ, còn ở 25 m tăng trung bình 0,12ºC
1 thập kỷ. Phân tích theo mùa cho thấy, sự nóng lên trên bề mặt nƣớc trong mùa hè
dƣờng nhƣ đã gây ra sự ấm lên của vùng nƣớc sâu hơn vào mùa thu. Sự ấm lên ở hồ
Baikal là minh chứng rất quan trọng trong bối cảnh BĐKH, bởi vì đó là hồ lớn nhất
thế giới, đƣợc cho là có sức chịu đựng cao nhất thế giới khi trái đất ấm lên.
Các dòng suối nhỏ đã cho thấy sự gia tăng nhiệt độ cực đại trong mùa đông ở
và cộng sự, 2000 [42]; Manton và cộng sự, 2001 [75]; Jung và cộng sự, 2002 [62];
Cruz và cộng sự, 2007 [35]). Cũng nhƣ sự gia tăng tần suất và cƣờng độ của các
cơn bão nhiệt đới ở Thái Bình Dƣơng (Wu và cộng sự, 2005 [117], Cruz và cộng
sự, 2007) [35], tần số ngày càng tăng các sự kiện lƣợng mƣa cực đoan đƣợc xem là
do sự nóng lên toàn cầu (Jung và cộng sự, 2002). [62, 19]
Trong số các xu hƣớng khí hậu quan sát thấy ở Đông Bắc Á, sự thay đổi hình
thái mƣa trong suốt thời kỳ gió mùa mùa hè và những thay đổi trong chế độ khí hậu
mùa đông (đặc biệt là ở các vĩ độ phía Bắc) có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá
trình sinh hóa và chất lƣợng nƣớc bề mặt. Ở Hàn Quốc, thay đổi hình thái mƣa khi
gió mùa mùa hè (đƣợc gọi là "Changma") đã đƣợc ghi nhận trong những thập kỷ
gần đây, với thời gian rút ngắn của Changma và tăng tần suất mƣa lớn đặc biệt
trong tháng 8 (Chung và cộng sự, 2004) [33]. Thay đổi dài hạn đối với gió mùa
vùng Đông Á có liên quan đến những thay đổi về sự chiếu sáng vào mùa hè ở Bắc
bán cầu (bức xạ mặt trời) trên quy mô thời gian khác nhau, từ hàng ngàn năm đến
hàng chục thiên niên kỷ (Wang và cộng sự, 2008) [109]. Tuy nhiên, độ biến động
của gió mùa với những thay đổi khí hậu có thể gây ra gió mùa mạnh hơn, với sự gia
tăng lớn về lƣợng mƣa khi có gió mùa (Overpeck và Cole, 2008) [89]. Mặc dù còn
chƣa rõ về đáp ứng của gió mùa mùa đông với sự nóng lên của khí hậu, nhƣng một
mô hình dự báo khí hậu gần đây cho rằng, hơn nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên
sẽ giảm mạnh lƣợng tuyết mùa đông tƣơng ứng với sự tăng lên của ngƣỡng nhiệt độ
tối thiểu và tăng mạnh lƣợng mƣa vào mùa đông (Im và cộng sự, 2008) [56].
Đối với những thay đổi có thể xảy ra trong thời kỳ gió mùa mùa đông ở các
vĩ độ phía Bắc và tác động đến những quá trình chuyển hóa trong thủy vực và chất
lƣợng nƣớc, kết quả nghiên cứu điển hình ở Hokkaido, Nhật Bản cũng cho thấy các
vấn đề liên quan đến BĐKH. Trong khu vực ôn đới mát mẻ miền Bắc, khí hậu mùa
đông đƣợc mô tả là lạnh và tuyết thống trị, với những biến động lớn theo mùa về
nhiệt độ, lƣợng mƣa (mƣa lớn và tuyết rơi) và ngập lụt. Sự tan băng vào mùa đông
12
ảnh hƣởng đến quá trình lƣu chuyển của nƣớc và sự vận chuyển các chất hoà tan
Trong giai đoạn năm 1951-2000, khí hậu Việt Nam có những điểm đáng
lƣu ý sau:
Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm
ở Việt Nam đã tăng lên 0,7°C. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây
(1961 -2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trƣớc đó (1931- 1960). Nhiệt độ
trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lƣợt là 0,8; 0,4 và 0,6°C.
Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập
kỷ 1931 -1940 là 0,8 - 1,3°C và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 - 0,5°C.
Lƣợng mƣa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lƣợng mƣa trung bình
năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các
vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
Mực nƣớc biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm
Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nƣớc biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm, phù
hợp với xu thế chung của toàn cầu.
Số đợt không khí lạnh: ảnh hƣởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16
đợt không khí lạnh, bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trƣờng hợp có số đợt
không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị thƣờng (0-1 đợt) cũng
rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997). Một
biểu hiện dị thƣờng gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt
không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.
Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cƣờng độ mạnh nhiều hơn, quỹ
đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn,
nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thƣờng hơn.
Số ngày mƣa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 -
1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
14
vực, tăng gần 400.000 ha so với trung bình thời kỳ 1990-1999. Vùng chịu ảnh
hƣởng của độ mặn trên 1g/l chiếm 60% diện tích tự nhiên, tăng khoảng 450.000 ha
so với hiện nay.
Về xu thế BĐKH ở Việt Nam, đã có những ghi nhận: nhiệt độ trung bình có
thể tăng lên 3°C vào năm 2100; lƣợng mƣa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa
các vùng, có thể tăng (từ 0% đến 10%) vào mùa mƣa và giảm (từ 0% đến 5%) vào
mùa khô, tính biến động của mƣa tăng lên; mực nƣớc biển trung bình trên toàn dải
bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m vào năm 2100. Việt Nam đang đối mặt với
nhiều tác động của BĐKH bao gồm tác động đến cuộc sống dân cƣ, sinh kế, tài
nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế.
1.2. Tác động của các nhân tố khí tƣợng đến môi trƣờng nƣớc
Tính chung trên toàn cầu, chỉ có 2,5% là nƣớc ngọt, phân phối không
đồng đều theo không gian và thời gian. Nƣớc ngọt trong các sông, suối, hồ tạo
thành một hệ thống phức tạp. BĐKH trở thành một mối quan tâm lớn về môi
trƣờng và có thể gây ra những biến thể gia tăng hàng năm hay nhiều năm về số
lƣợng và chất lƣợng nƣớc. [63]
Chất lƣợng nƣớc mặt có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là một hàm phụ thuộc vào
các chất hóa học, vật lý, và đặc trƣng sinh học. Đánh giá gần đây về tác động của
BĐKH đến chất lƣợng nƣớc mặt đã nhấn mạnh rằng, BĐKH ảnh hƣởng đến chất
lƣợng nƣớc thông qua các tƣơng tác phức tạp với các quá trình trên cạn và dƣới
nƣớc (Murdoch và cộng sự, 2000 [85]; Senhorst và Zwolsman, 2005 [100];
Kundzewicz và cộng sự, 2007 [68]; Campbell và cộng sự, 2008 [28]). Tuy nhiên,
BĐKH, có thể thay đổi dài hạn, trung bình hoặc ngắn hạn, làm ảnh hƣởng chất lƣợng
nƣớc, không chỉ bằng cách trực tiếp thay đổi các đặc tính của nƣớc, mà còn ảnh
hƣởng đến quá trình trên bề mặt đất liên quan đến phát sinh, phát thải, vận chuyển vật
chất tự nhiên và các chất ô nhiễm. Những thay đổi về nhiệt độ và lƣợng mƣa, cùng
với các sự kiện thủy văn khắc nghiệt bất thƣờng đã dẫn đến những thay đổi về địa
mạo bề mặt đất, các quá trình sinh địa hóa thủy vực (nhƣ bão lũ tác động đến việc lƣu
16