BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 2015 - Pdf 27

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG

NHIỆM VỤ “ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH HÀ TĨNH”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÊN CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN KẾ HOẠCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH GIAI
ĐOẠN 2011 - 2015
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 9 – HĐ SỐ ?)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU v
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH 6
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 6
1.1.1.Vị trí địa lý 6
1.1.2.Địa hình, địa chất 7
1.1.1.Khí hậu 8
1.1.2.Thủy văn, tài nguyên nước 8
1.2.ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 9
1.1.3.Dân số và lao động 9
1.1.4.Kinh tế - xã hội 9
1.1.5.Điều kiện xã hội 15
CHƯƠNG 2. KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG CHO KHU
VỰC HÀ TĨNH VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ
TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 18

KHỎE CON NGƯỜI 34
3.1.8.Ảnh hưởng đến văn hóa, thể thao, du lịch, thương mại và dịch vụ 34
3.1.9.Ảnh hưởng đến y tế và sức khỏe con người 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 23
Bảng 2.2. Mức tăng nhiệt độ trung bình (oC) so với thời kỳ 1980 – 1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo kịch bản phát thải thấp (B1) 24
Bảng 2.3. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
bản phát thải trung bình (B2) 24
Bảng 2.4. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực
Bắc Trung Bộ theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 24
Bảng 2.5. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
bản phát thải cao (A2) 24
Bảng 2.6. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch
bản phát thải cao (A2) 25
Bảng 2.7. Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản
phát thải thấp (B1) 25
Bảng 2.8. Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo kịch bản phát thải thấp (B1) 25
Bảng 2.9. Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc Trung
Bộ theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 26
Bảng 2.10. Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc Trung
Bộ theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 26
Bảng 2.11. Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo kịch bản phát thải cao (A2) 26
Bảng 2.12. Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo kịch bản phát thải cao (A2) 27
Bảng 2.13. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 27

thực nhất cho tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, chuyên đề “đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu và nước biển dâng tới quy hoạch phát triển kinh tế tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 –
2020” được trình bày những nét chung nhất về tình hình biến đổi khí hậu và nước biển
dâng ảnh hưởng tới quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh. Nội dung chính
của chuyên đề bao gồm:
Chương 1: đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh
Chương 2: kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho khu vực Hà Tĩnh
và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020
Chương 3: đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011 - 2020
v
CHƯƠNG 1.
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Hà tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, diện tích tự nhiên 602649,96 ha, tọa độ địa
lý 17
0
54

– 18
0
38

vĩ độ Bắc, 105
0
11

– 106
0

của cư dân các dân tộc. Sản xuất của dân cư trong vùng là hỗn hợp nông lâm nghiệp
theo phương thức khai thác tận dụng tự nhiên do vậy năng suất cây trồng và năng suất
lao động thấp. Mức thu nhập của dân thấp do chưa được đầu tư thích đáng, cơ sở vật
chất nghèo nàn, hạ tầng cơ sở yếu kém. Vùng này có tiềm năng phát triển cây công
nghiệp ngắn, dài ngày, cây ăn quả, nghề rừng và chăn nuôi gia súc.
1.1.1.2. Vùng trung du và bán sơn địa
Đây là vùng chuyển tiếp từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng. Vùng này
chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí Minh bao gồm các xã vùng thấp của huyện
Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc ven Trà Sơn, của các huyện
Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và
thấp với đất ruộng. Đất đai không bằng phẳng, hệ thực vật chủ yếu là cây lùm bụi, cây
công nghiệp, rừng trồng và trảng cỏ. Sản xuất nông nghiệp chính là cây lúa nước, cây
màu, cây công nghiệp ngắn, dài ngày và chăn nuôi gia súc, trồng cây lâm nghiệp.
Trong vùng bước đầu đã có sự đầu tư trong sản xuất các loại cây như lạc, đỗ, chố, cây
ăn quả. Các sản phẩm chăn nuôi như trâu, bò, lợn, dê, hươu. Đây là vùng có tiềm năng
đất đai cho phép sản xuất nhiều sản phẩm nông sản hàng hóa tập trung có thể đầu tư
xây dựng các trang trại thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh.
1.1.1.3. Vùng đồng bằng
Là vùng chạy dọc giữa đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 1A theo chân núi Trà
Sơn và vùng ven biển bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ, Can Lộc, thị xã
Hồng Lĩnh, Thạch Hà, TP. Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. Địa hình toàn vùng
tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông phù sa biển trên các vỏ
phong hoá Feranit hay trầm tích biển. Đây là vùng dân cư đông đúc, sản xuất chủ yếu
là cây lúa nước, lạc, đậu, đỗ, khoai lang, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài ra còn có
các nghề phụ như dệt chiếu, dệt vải, đan lát, làm mộc.
1.1.1.4. Vùng ven biển
Nằm ở phía Đông đường QL1A chạy dọc theo bờ biển gồm các xã của huyện
Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Địa hình được tạo bởi những
đụn cát, các vùng trũng được lấp đầy trầm tích đầm phá hay phù sa được hình thành do
các dãy đụn cát chạy dài ngăn cách bãi biển. Ngoài ra trong vùng còn xuất hiện các

Tốc độ gió trung bình năm 1,7 m/s- 2,3 m/s . Tốc độ gió lớn nhất khi có bão đạt
>40 m/s. Hướng gió mùa đông là hướng Đông Bắc, mùa khô thịnh hành gió Tây Nam
hoặc gió Đông Nam.
1.1.1.10. Chế độ mưa
Hà Tĩnh có lượng mưa năm khá phong phú, trung bình năm đạt từ 2.300 ÷
3.000mm. Những vùng mưa lớn như Kỳ Lạc (Kỳ Anh) lượng mưa đạt 3.220mm.
Những tâm mưa lớn thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ, Hoành Sơn có
năm lượng mưa năm đạt 4.586 mm năm 1978 ở Bàu Nước, 4.386mm tại Kỳ Anh năm
1990, 4.450 mm năm 1990 tại Kỳ Lạc.
Mùa mưa bắt đầu từ thỏng VIII tới tháng XI. Tuy nhiên tháng V, VI có mưa
Tiểu món gõy ra lũ Tiểu món. Lượng mưa mùa mưa đạt 65 - 70% lượng mưa năm, còn
lại là mùa khô.
1.1.2. Thủy văn, tài nguyên nước
Hà Tĩnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là chiều
dài ngắn, lưu vực nhỏ, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn, nhất là về mùa mưa lũ.
Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Hà Tĩnh theo mùa rõ rệt, hầu hết
các con sông chịu ảnh hưởng của mưa lũ ở thượng nguồn, những vùng thấp trũng ở hạ
8
lưu đất thường bị nhiễm mặn do chế độ thuỷ triều ảnh hưởng xấu đến sản xuất, tuy
nhiên có thể tận dụng đặc điểm này để quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản
nước lợ.
Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s,

lương thực, thực phẩm tăng theo tạo nên sức ép rất mạnh đến tài nguyên đất vốn đã
hạn hẹp của tỉnh. Dân cư phân bố không đồng đều: tập trung cao ở khu vực đồng bằng
phía Đông Bắc tỉnh, còn dọc đường Hồ Chí Minh dân cư thưa thớt. TP. Hà Tĩnh có
mật độ dân số 1389 người/ km
2
, trong khi huyện Hương Khê mật độ dân số chỉ có 83
người trên km
2
, Vũ Quang 52 người trên km
2
Lao động trong độ tuổi khoảng 702 nghìn người, chiếm 51,0% dân số. Lao
động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 511,5 ngàn người, trong đó nông - lâm
nghiệp chiếm gần 83%; công nghiệp - xây dựng 7%, còn lại khoảng 10,0% làm việc
trong khu vực dịch vụ. Năm 2005 tỷ lệ lao động thành thị không có việc làm 3,74%.
Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp. Năm 2004 tỷ lệ lao
động qua đào tạo dưới mọi hình thức chỉ khoảng 20%, thấp hơn so trong bình cả nước
(25%).
1.1.4. Kinh tế - xã hội
9
1.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2000-2005, Hà Tĩnh đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức
nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Tốc độ tăng GDP khá cao, nông nghiệp phát triển vững chắc. Cơ cấu kinh tế dịch
chuyển theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch
vụ. Văn hóa xã hội phát triển mạnh, an ninh trật tự được giữ vững. Đời sống nhân dân
được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.
Năm 2005, GDP tính theo giá hiện hành đạt 5.990,7 tỷ đồng, bằng 0,72% GDP
cả nước. (Tính theo giá 94, GDP năm 2005 đạt 4.063,5 tỷ đồng). Tăng trưởng kinh tế
ổn định, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, cao hơn trung bình cả nước, nhưng
còn thấp hơn so với các tỉnh lân cận và vùng Bắc Trung bộ.

51,31 49,89 49,1 48,02 47,02 43,13
2. Công nghiệp xây dựng %
13,45 14,05 15,46 18,05 19,84 22,45
3. Dịch vụ %
35,24 36,06 35,44 33,93 33,14 34,42
Khu vực thủy sản nông lâm có tỷ trọng giảm đều trong cơ cấu GDP của tỉnh từ
51,31% năm 2000 xuống còn 43,13% năm 2005. Ngược lại tỷ trọng của khu vực công
nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ trong GDP tăng dần, tương ứng tăng từ 13,45%
và 35,24% năm 2000 lên 22,45% và 34,42% năm 2005.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa và thay đổi đều ở cả ba khu vực theo hướng dần từng bước hình thành nên cơ cấu
Dịch vụ - Công nghiệp - Nông lâm thủy sản. Tuy nhiên mức độ chuyển dịch kinh tế
hiện nay diễn ra còn chậm, chưa có bước đột phá.
1.1.1.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a. Nông – lâm – ngư – diêm nghiệp
10
• Nông nghiệp
Trong những năm qua nông nghiệp là ngành sản xuất chính, góp phần ổn định
đời sống nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, GDP nông nghiệp là 2032 tỷ đồng, chiếm
45,9% tổng GDP cả tỉnh, gấp 2,32 lần năm 1995, nhưng còn thấp hơn so với chỉ tiêu
này của cả nước (3,11 lần)
Tăng sản lượng một số cây trồng vật nuôi chính:
Trong giai đoạn 2001-2005, sản lượng lương thực tăng trên 10%, do tăng diện
tích gieo trồng (tăng vụ) và tăng năng suất cây trồng. Trong đó tăng sản lượng xấp xỉ
5%. Trong cùng thời kỳ, sản lượng cây công nghiệp tăng khá cao, nhưng chủ yếu do
tăng diện tích gieo trồng.
Để đảm bảo tăng giá trị sản xuất ổn định như thời gian qua, cần xây dựng một
số hồ chứa nước đa tác dụng, đồng thời cần áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật sinh
học vào trồng trọt và chăn nuôi trên diện rộng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp:

lợ 2.770 ha.
Hiện có 3 trại giống cá cấp 1 và nhiều trại giống cấp 2, 5 trại giống tôm. Năm
2005 chế biến xuất khẩu thuỷ sản đạt 3.600 tấn. Ngoài ra còn có các cơ sở chế biến
nước mắm phục vụ tiêu dùng nội địa.
• Lâm nghiệp
Hà Tĩnh là tỉnh có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, trên cơ sở tái trồng rừng ở
những nơi đã khai thác gỗ chỉ còn trảng cỏ và cây bụi. Trong những năm qua, các dự
án trồng rừng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến được thực hiện tốt, góp phần đưa
độ che phủ của rừng tăng nhanh từ 38% năm 2001 lên 43,5% năm 2005, nhưng đóng
góp của ngành vào tăng trưởng kinh tế còn thấp. Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2005
đạt 183,4 tỷ đồng, trong đó dịch vụ lâm nghiệp là 37,6 tỷ đồng, trồng và nuôi rừng:
29,7 tỷ đồng, khai thác gỗ và lâm sản đạt gần 15 tỷ đồng.
- Kinh tế trang trại nông lâm kết hợp: Hiện nay đã có hơn 1.300 trang trại với
tổng diện tích 12.000 ha chủ yếu là trồng, khoanh nuôi rừng, trồng cây ăn quả và chăn
nuôi. Doanh thu từ trang trại chưa nhiều, đạt khoảng 9-10 tỷ đồng, thu hút được 8.700
lao động nhưng còn thấp so với tiềm năng. Số trang trại hoạt động có hiệu quả còn ít.
Hiện chỉ có 23 trang trại đạt tiêu chuẩn theo quy định của bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn.
- Chế biến lâm sản: Bao gồm khai thác chế biến nhựa thông và các cơ sở chế
biến lâm sản. Rừng thông cấp tuổi V và IV vào khoảng hơn 9.000 ha, hàng năm cho
hơn 4.000 tấn nhựa. Có khoảng 200 cơ sở chế biến lâm sản, chủ yếu là xẻ gỗ xây dựng
và đóng đồ mộc dân dụng. Các ngành này tăng trưởng chậm do thiếu nguyên liệu
(nguồn nguyên liệu chủ yếu là gỗ lậu).
• Diêm nghiệp
Diêm nghiệp là ngành truyền thống của tỉnh, nhưng hiệu quả sản xuất kinh
doanh thấp. Diêm nghiệp được tập trung sản xuất ở 4 huyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên,
Kỳ Anh và Nghi Xuân với sản lượng muối hàng năm đạt 26.000 tấn, trong đó muối i
ốt 13.000 tấn. Có 4.000 hộ với hơn 8.000 lao động làm diêm nghiệp. Do làm muối thủ
công năng suất thấp, đời sống của người làm muối còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói
nghèo của vùng làm muối chiếm 17% (theo tiêu chuẩn cũ), cao hơn mức trung bình

Về mạng lưới công nghiệp tiểu thủ công nghiệp của tỉnh bố trí khá hợp lý, đảm
bảo chi phí quy đổi thấp, trên cơ sở khai thác lợi thế về tài nguyên, gần nguồn nguyên
liệu, gần nơi tiêu thụ, và ở những nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, như nhà máy gạch
Tuynen đã bố trí ở khu mỏ đất sét. Tuy vậy bố trí không gian còn bộc lộ một số hạn
chế: Sản xuất tiểu thủ công nghiệp xen kẽ trong dân vừa gây ô nhiễm môi trường vừa
khó quản lý về chất lượng và tài chính. Vì vậy trong các năm tới, cần xem xét bố trí
nhà máy trong các khu công nghiệp đã được hình thành.
c. Thương mại và du lịch
• Thương mại
Thương mại đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, mặc dù sản
xuất hàng hoá chậm phát triển và sức mua của dân cư còn thấp, số cơ sở và lao động
tham gia làm dịch vụ ngày một tăng, nhưng chủ yếu ở thị xã, thị trấn và một số xã
vùng ven đô thị.
Các trung tâm thương mại của tỉnh đang trong quá trình hình thành, mạng lưới
chợ nông thôn khá phát triển, đảm bảo được nhu cầu trao đổi hàng hóa của người dân.
Năm 2000 có 16.548 lao động làm thương mại dịch vụ, bằng 2,86% tổng số lao động
toàn tỉnh. Năm 2005 có khoảng 31.542 lao động, bằng 5,56% tổng số lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế.
13
Năm 2005, trong tổng mức bán lẻ hàng hoá của các cơ sở nhà nước chiếm
11,8%, còn lại 88,2% là do thành phần kinh tế tập thể, tư nhân và cá thể thực hiện.
Bên cạnh những kết quả nêu trên, lĩnh vực thương nghiệp còn bộc lộ một số
hạn chế chủ yếu như:
Thiếu chiến lược thị trường, đồng thời còn thiếu các sản phẩm dịch vụ mang
bản sắc riêng, khả năng cạnh tranh còn yếu, chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với
giá cả;
Số lượng doanh nghiệp làm thương nghiệp tuy nhiều nhưng chủ yếu là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, vòng quay vốn còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao.
• Du lịch
Trên địa bàn Hà Tĩnh đã hình thành một số điểm du lịch có ý nghĩa Quốc gia và

tốt. Dịch vụ bưu chính viễn thông ở các đô thị thuận lợi.
Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn:
Cũng như các vùng nông thôn khác ở miền Bắc Việt Nam, dân cư nông thôn
tỉnh Hà Tĩnh đã được hình thành từ rất lâu đời, đến nay đã định hình thành khu quần
14
cư là các làng, bản, thôn xóm. Đơn vị quản lý của các thôn bản là các hộ gia định, mỗi
hộ đều có diện tích nhà ở, sân, công trình phụ, chuồng trại gia súc, giếng nước, vườn
cây, ao cá.
Bình quân đất ở nông thôn toàn tỉnh là 53,52 m
2
/người, 231,6 m
2
/hộ.
Đặc điểm phân bố của các khu dân cư nông thôn như sau :
- Ở vùng đồi núi khu dân cư thường phân bố ở địa hình ven chân đồi hoặc các
đồi thấp thoải có độ dốc dưới 15
o
.
- Ở vùng đồng bằng ven biển, dân cư được phân bố trên các dải cồn cát cao
nằm song song với bờ biển xen kẽ các khu vực sản xuất nông nghiệp, hoặc phân bố
dọc theo các trục đường giao thông chính và ven các con sông lớn của tỉnh.
Do đặc điểm sản xuất của vùng nông thôn nên việc phát triển mở rộng khu dân
cư nông thôn thường gắn chặt với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng địa phương,
thông thường là mở rộng vào đất nông nghiệp xung quanh làng bản.
Trong những năm gần đây cùng với việc phát triển của cơ chế thị trường,
hướng mở rộng khu dân cư có nhiều thay đổi. Đất ở nông thôn được mở rộng theo các
trục giao thông thôn, xã. Vừa giải quyết đất ở gắn với hệ thống dịch vụ.
1.1.5. Điều kiện xã hội
1.1.1.5. Giao thông
Đường bộ:

tiểu học là 1,28 (quy định là 1,15); ở trung học cơ sở là 1,94 (quy định là 1,85); ở
trung học phổ thông là 1,83 (quy định là 2,1). Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học
đạt tỷ lệ cao.
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, giáo dục đào tạo vẫn
còn một số khó khăn như:
Chương trình và trang thiết bị đào tạo còn lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế về lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Mạng lưới trường cần mở rộng để đáp ứng cho nhu cầu học tập ngày càng tăng.
Đối với địa hình các xã vùng núi, khoảng cách đến trường của học sinh còn xa,
cần xem xét lại quy mô, địa điểm trường lớp cho phù hợp.
1.1.1.8. Y tế
Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe phát triển khá hoàn chỉnh, từ tỉnh xuống xã,
đáp ứng được nhu cầu chữa trị bệnh cho nhân dân trong tỉnh. Đội ngũ cán bộ y tế được
tăng cường, năm 2005 bình quân 4,29 bác sỹ/1 vạn dân. Hiện nay, 34,8% số xã có bác
sỹ, với trên 700 cán bộ y tế đang công tác tại các thôn bản.
Cơ sở vật chất ngành y tế được củng cố. Toàn tỉnh có 3.521 giường bệnh, trong
đó số giường bệnh viện là 1890 giường, bằng 53,6% tổng số giường. Bệnh viện đa
khoa tỉnh được xây dựng mới với 450 giường bệnh, có đầy đủ các khoa từ lâm sàng
đến cận lâm sàng, trang thiết bị ngày một đầy đủ và hiện đại hơn.
Công tác KHHGĐ được triển khai, thực hiện tốt. Bằng nhiều hình thức, biện
pháp giáo dục, tăng cường truyền thông, và dịch vụ phù hợp đã tạo nhiều chuyển biến
về nhận thức trong mọi tầng lớp nhân dân, góp phần hạn chế các cặp vợ chồng sinh
con thứ 3 trở lên.
Từ năm 1995 đến nay công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng được chú ý mở
rộng về quy mô và nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo chữa các bệnh thông thường,
chủ động phòng chống và kịp thời dập tắt các dịch bệnh xã hội có khả năng lây lan cho
nhân dân. Nhiều chương trình Quốc gia về y tế được quan tâm sát sao, thực hiện có
hiệu quả.
Tuy vậy, ngành y tế tỉnh cần phải nâng cấp các cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu
khám chữa bệnh đang xuống cấp, đầu tư máy móc, thuốc men, đào tạo dược sỹ, bác sỹ

các dự án đầu tư lớn có đủ khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
17
CHƯƠNG 2.
KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG CHO KHU
VỰC HÀ TĨNH VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
CỦA TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
1.3. KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG CHO KHU VỰC
HÀ TĨNH
1.3.1. Tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên Thế giới và ở Việt Nam
Biến đổi khí hậu, với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước
biển dâng, chủ yếu là do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người gây phát thải
quá mức vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính.
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn
cầu đã tăng khoảng 0,74
o
C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong
50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó (Hình 2.1). Nhiệt độ trên lục địa
tăng nhanh hơn so với trên đại dương (IPCC, 2007).
Hình 2.2. Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn cầu
Nguồn:[IPCC/2007]
18
Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ cao hơn 30
o
.
Tuy nhiên, lượng mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từ giữa những năm
1970 (Hình 2.2). Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên thế giới
(IPCC, 2007).
Hình 2.3. Diễn biến lượng mưa năm ở các vùng khác nhau trên thế giới
Nguồn:[IPCC/2007]
Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày càng cao (Hình

o
C
và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000 là 0,4 - 0,5
o
C (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng
phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008).
Hình 2.5. Diễn biến của nhiệt độ (a) và lượng mưa (b) ở Việt Nam trong 50 năm qua
Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm
trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng
khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa năm giảm ở
các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam (Hình 2.4b). Tính
trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958-2007) đã giảm
20
khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT,
2008).
Không khí lạnh: Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt
trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện mà gần
đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và
tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí
hậu, Bộ TNMT, 2008).
Bão: Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn. Quỹ đạo
bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều
cơn bão có đường đi (Hình 2.5) dị thường hơn (Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2003).
Hình 2.6. Quỹ đạo của bão ở Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông
Mưa phùn: Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần từ thập kỷ
1981 - 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây (Nguyễn

Ninh Thuận lại trở nên rõ rệt hơn.
Mùa mưa vốn đã dồn vào các tháng thu đông có thể còn dồn dập hơn trong các
thập kỷ tới. Ở Nam Trung Bộ mùa khô vẫn tiếp tục tồn tại từ tháng XII, tháng I cho
đến tháng VIII, tháng IX và ở Bắc Trung Bộ, tháng V, tháng VI có thể trở thành các
tháng nóng thường xuyên như ở Nam Trung Bộ. Ở các tỉnh phía bắc Bắc Trung Bộ
mưa phùn có thể trở nên hiếm hoi hơn.
22
Trên dải đòng bằng duyên hải Trung Bộ, các kỷ lục về lượng mưa ngày, lượng
mưa tháng và lượng mưa năm chắc chắn được nâng cao. Ngược lại tình trạng hạn hán
sẽ trở nên thường xuyên và khốc liệt hơn.
Lượng bốc hơi trong các thập kỷ sắp tới có thể cao hơn nền chung của các thập
kỷ vừa qua, góp phần gia tăng chỉ số khô hạn và cường độ hạn hán.
Nước biển tiếp tục dâng lên với tốc độ 0,5-0,6 cm/năm trong các thập kỷ sắp
tới. Sự biến đổi nói trên về các yếu tố khí hậu tất yếu dẫn đến các tác động sau đây đối
với một số lĩnh vực kinh tế - xã hội:
Dòng chảy năm trên hầu hết các con sông đều giảm đi, trong đó dòng chảy lũ
có thể ít thay đổi hoặc lớn hơn chút ít song dòng chảy kiệt sẽ giảm đi đáng kể. Nguồn
nước, nhất là nước trong nhiều tháng mùa khô sẽ trở nên khan hiếm, nhất là ở các tỉnh
cực nam Trung Bộ.
Trong tương lai không xa, cơ cấu cây trồng và cả cơ cấu thời vụ cần phải được
điều chỉnh theo hướng phù hợp với nền nhiệt độ cao hơn. Chi phí sản xuất cho một
đơn vị sản phẩm nông nghiệp tăng lên do nhu cầu tưới cao hơn và thời gian chống hạn
dài hơn.
Nước biển dâng vừa thu hẹp diện tích khu dân cư sống ven biển vừa tăng khả
năng xói lở bờ biển, trực tiếp đe dọa các công trình giao thông, xây dựng, công nghiệp
và một số đô thị trên tuyến bờ biển kéo dài từ Bắc đến Nam.
Nhiệt độ tăng, nguồn nước suy giảm cũng là nguyên nhân tạo nên nhiều khó
khăn cho cuộc sống bình thường, thậm chí góp phần gia tăng dịch bệnh, nhất là dịch
bệnh mùa nóng.
2.1.2. Kịch bản biến đổi khí hậu cho khu vực thuộc tỉnh Hà Tĩnh

C) so với thời kỳ 1980 – 1999 khu vực Bắc
Trung Bộ theo kịch bản phát thải thấp (B1)
Vùng
Thời kỳ
trong năm
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Bắc
Trung Bộ
XII-II 0,6 0,8 1,1 1,4 1,6 1,8 1,8 1,9 1,9
III-V 0,7 0,9 1,2 1,6 1,9 2,0 2,1 2,1 2,1
VI-VIII 0,5 0,7 1,0 1,3 1,5 1,6 1,7 1,7 1,7
IX-XI 0,5 0,8 1,0 1,3 1,5 1,6 1,7 1,7 1,8
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung
bình năm có thể tăng lên 2,8
o
C ở Bắc Trung Bộ (Bảng 2.2). Năm 2020 nhiệt độ trung
bình năm có thể tăng 0,5
0
C.
Bảng 2.3. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (
o
C) so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản
phát thải trung bình (B2)
Vùng
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Bắc Trung Bộ 0,5 0,8 1,1 1,5 1,8 2,1 2,4 2,6 2,8
Bảng 2.4. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (
o


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status