nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến thu nhập của nông hộ tỉnh hà tĩnh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

TRIỆU THỊ MAI ANH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC
ĐẾN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ TỈNH HÀ TĨNH

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. CHU THỊ KIM LOAN

HÀ NỘI, NĂM 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được
chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Triệu Thị Mai Anh


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


MỤC LỤC

Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục biểu đồ


1.3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

1.3.1

Đối tượng nghiên cứu

3

1.3.2

Phạm vi nghiên cứu

3

1.4

Câu hỏi nghiên cứu

3

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

5

2.1


Cơ sở thực tiễn

25

2.2.1

Một số chủ trương chính sách của Việt Nam nhằm nâng cao thu
nhập của nông hộ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

25

Page iii


2.2.2

Tình hình nguồn lực và thu nhập của nông hộ Việt Nam

2.2.3

Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở một số nước

2.2.4

27

trên thế giới và ở Việt Nam


3.2.1

Phương pháp thu thập dữ liệu:

56

3.2.2

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

57

3.3

Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

59

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

60

4.1

Thực trạng nguồn lực và thu nhập của các nông hộ tỉnh Hà Tĩnh

60

4.1.1


84

Khả năng tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, thị truờng và nguồn vốn của
nông hộ

4.3

89

Một số giải pháp nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh

95

4.3.1

Định hướng chung

95

4.3.2

Một số giải pháp chung nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ
tỉnh Hà Tĩnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

97
Page iv




DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ

Bình quân

CC

Cơ cấu

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CP

Chi phí

CPSX

Chi phí sản xuất

GTSX

Giá trị sản xuất

HĐSXNN

Hoạt động sản xuất nông nghiệp


Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NTM

Nông thôn mới

QTDND

Quỹ tín dụng nhân dân

SL

Số lượng

SX

Sản xuất

SXNN

Sản xuất nông nghiệp

TBKT

Tiến bộ kỹ thuật

TN

Thu nhập

3.1

Các nhóm đất của Tỉnh Hà Tĩnh năm 2013

46

3.2

Hiện trạng sử dụng đất đai của Tỉnh Hà Tĩnh qua 3 năm (2011 - 2013)

47

3.3

Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

49

3.4

Tình hình phát triển y tế, giáo dục

52

3.5

Tình hình dân số và lao động tỉnh Hà Tĩnh năm 2011 -2013

55


4.5

Tiếp cận nguồn vốn

69

4.6

Thu nhập từ nông nghiệp của các hộ điều tra

71

4.7

Thu nhập từ phi nông nghiệp của các nông hộ điều tra

74

4.8

Tổng hợp thu và cơ cấu nguồn thu của các nông hộ điều tra

75

4.9

Kết quả kiểm định, so sánh phương sai của nhóm yếu tố nguồn
lực con người giữa các nhóm hộ

4.10



4.14

Những yếu tố cản trở việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực của hộ

4.15

Các kênh thông tin tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật và quản lý sản xuất

4.16

88

của nông hộ

90

Đánh giá của hộ về nguồn vốn của các tổ chức tín dụng chính thống

93

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page viii


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Tên biểu đồ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

77

Page ix


PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế quốc dân, sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh
tế, các phương thức sản xuất là hoàn toàn khách quan. Nông hộ là một bộ phận
cấu thành của nền kinh tế. Từ trước đến nay kinh tế hộ dù phát triển dưới bất kỳ
hình thức nào cũng đều là nhân tố quan trọng giúp cho nền kinh tế quốc dân phát
triển. Kinh tế nông hộ có sắc thái riêng về kinh tế nhân văn và xã hội.
Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng ngàn
năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng, nhưng về
căn bản vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, kĩ thuật lạc hậu mang nặng tính độc canh,
tự cung, tự cấp là chính.
Những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có sự phát
triển vượt bậc, đạt được những thành tựu đáng khích lệ với năng suất và sản
lượng ngày càng tăng. Đặc biệt từ khi cho Chương trình mục tiêu quốc gia về
nông thôn mới với các tiêu chí nhằm đẩy nhanh CHN-HĐH, đưa tiến bộ kỹ
thuật vào trong sản xuất, phá tính độc canh, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ manh
mún sang sản xuất quy mô lớn theo hướng hàng hóa,…
Xây dựng NTM là nhiệm vụ chiến lược, đang đặt ra nhiều vấn đề cần
tập trung nỗ lực của Nhà nước và nhân dân, giải quyết những vấn đề cấp
bách, đồng thời tạo ra tiền đề cho những giai đoạn tiếp theo. rong toàn bộ sự
nghiệp xây dựng NTM hiện nay, nông dân giữ vị trí là “chủ thể”, đây là sự
khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy

còn đó những nỗi lo thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, hay “được mùa mà dân vẫn
lo”,… Để đạt được mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh” thì việc nâng cao thu nhập cho người nông dân là một việc quan trọng
và hết sức cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu ảnh
hưởng của các yếu tố nguồn lực đến thu nhập của nông hộ tỉnh Hà Tĩnh”
là hết sức quan trọng và cần thiết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


1.2 Mục tiệu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trang về nguồn lực và thu nhập của nông
hộ, ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến thu nhập của nông hộ từ đó
đề xuất môt số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực, thu nhập của
nông hộ và ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến thu nhập của nông hộ.
- Nghiên cứu thực trạng về nguồn lực, thu nhập của nông hộ và ảnh
hưởng của các yếu tố nguồn lực đến thu nhập của nông hộ tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thu nhập và nguồn lực của các
hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung chủ yếu nghiên cứu các yếu tố nguồn lực nội

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Nguồn lực và các yếu tố nguồn lực của nông hộ
2.1.1.1 Khái niệm nguồn lực
Hiện nay, khái niệm về nguồn lực đã được nhiều học giả bàn luận.
Theo nghĩa hẹp, nguồn lực thường được hiểu là các nguồn lực vật chất cho
phát triển (ví dụ tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền…). Theo nghĩa
rộng, nguồn lực bao gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật
chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nào đó (ICSC, 2013). Tùy vào
phạm vi phân tích, khái niệm nguồn lực được sử dụng rộng rãi ở các cấp độ
khác nhau như quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành, doanh nghiệp, hộ gia đình hay
từng chủ thể là cá nhân tham gia vào quá trình phát triển.
Đề cập tới nguồn lực quốc gia, Trần Văn Chử (2007) cho rằng: nguồn
lực là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản
quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường... ở cả
trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát
triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Nói một cách ngắn gọn, nguồn lực là
toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tham gia vào quá
trình thúc đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc gia.
Theo từ điển tiếng việt thì nguồn lực là “nguồn sức mạnh vật chất, tinh
thần phải bỏ ra để tiến hành một hoạt động nào đó” ( />Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ tiến hành đánh giá các yếu tố
nguồn lực của nông hộ trong các khía cạnh nguồn nhân lực, nguồn lực tài
chính, nguồn vật lực, nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5



Page 6


cao khi trình độchuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo.
Trong đó, trình độ học vấn của người lao động là yếu tố rất đáng quan tâm, nó
giúp cho người lao động nắm bắt được những kiến thức mới, nó còn là một
công cụ giúp người lao động tiếp cận được những tri thức mới, nâng cao
khả năng tư duy sáng tạo của người lao động.
b) Nguồn lực tài chính (vốn, tài sản)
Vốn hay nguồn lực tài chính là yếu tố tiền đề để khởi tạo mọi giá trị
khác. Số lượng vốn quyết định tới quy mô, phương hướng sản xuất của nông
hộ. Nguồn lực tài chính được thể hiện ở chỗ khả năng huy động vốn của hộ,
bao gồm tiền dành dụm, tiền vay từ các tổ chức tín dụng, hay vay của bạn bè,
bà con,… Thực tế cho thấy, việc thiếu vốn để sản xuất kinh doanh dẫn đến
kinh tế hộ chậm cải thiện vì khó có khả năng tiếp cận, đầu tư áp dụng máy
móc thiết bị và những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm chậm tiến
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn.
c) Nguồn lực đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất chính, không thể thiếu đối với sản xuất nông
nghiệp. Nó có vai trò quyết định quy mô sản xuất của nông hộ.
Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho
người dân phát triển kinh tế. Đất sản xuất bao gồm đất trồng lúa, đất chuyên
màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản, đất sản xuất kinh doanh
dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,…
d) Nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã
hội trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình. Các ngành nghề truyền thống,
phương thức canh tác, các tổ chức như hội, đoàn thể trên địa bàn, sự hỗ trợ về
kỹ thuật và vốn của một số tổ chức chính trị, xã hội, cơ quan khuyến nông,…
Ngoài ra nguồn lực xã hội còn được hiểu là thị trường các yếu tố đầu vào và

2.1.2.2 Đặc điểm của nông hộ
Nông hộ, hay hộ nông dân theo như phân tích ở trên có những đặc điểm
cơ bản như sau:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình
độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ
nông dân và thị trường.
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau.
Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất, các thành viên của hộ nông dân có sự thống nhất
chặt chẽ. Bởi sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, mọi thành viên đều có
thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai để tạo ra của
cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ.
Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ với nhau
và được chi phối bởi quan hệ huyết thống. Thông thường chủ hộ thường là
người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất. Với đặc điểm này,
việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất,
cơ cấu tổ chức rất đơn giản.
Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy động hay
thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khẳ năng thích nghi và tự điều
chỉnh tốt. Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa nguồn lực cho
sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình. Trong hoàn cảnh bất
lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với sản xuất giản đơn.

hàng cần phải quan tâm và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung
đồng vốn đầu tư vào đây sẽ được sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh
lời, hơn thế nữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn. Đây cũng là
một trong những mục đích mà ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi
suất tín dụng, thuế… Nhà nước và Ngân hàng có khả năng kiểm soát và điều
tiết hoạt động của các hộ sản xuất bằng đầng tiền, bằng chính sách tài chính ở
tầm vĩ mô.
- Nhóm thứ hai là: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng
trong tay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có
môi trường kinh doanh. Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa
rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp. Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả
năng tự lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp
phần giúp các hộ này có khả năng tự chủ sản xuất. Mặt khác, bằng các hoạt
động đầu tư tín dụng, tín dụng ngân hàng có thể giúp các hộ sản xuất này làm
quen với nền sản xuất hàng hoá, với chế độ hạch toán kinh tế để các hộ thích
nghi với cơ chế thị trường, từng bước đi tự sản xuất hàng hoá, tự tiêu dùng (tự
cung tự cấp) đến sản xuất sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Nhóm thứ 3 là: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động,
không biết tính toán làm ăn gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn ốm
đau và những hộ gia đình chính sách,… đang còn tồn tại trong xã hội. Thêm vào
đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá cùng với sự phá sản của các
nhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa.
Phương pháp giải quyết các hộ này là nhờ vào sự cứu trợ nhân đạo

nghiệp và nông thôn.
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế chúng ta đang chủ trương xoá bỏ
thế độc canh tiến đến đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành nghề,
dịch vụ ở nông thôn theo điều kiện từng vùng, từng bước xoá bỏ cơ chế sản
xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo hình thức trang trại gia đình
để tăng khả năng đầu tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng
suất cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng cao thu nhập
cho người nông dân, từng bước “thành thị hoá” trong lòng nông thôn để phát
triển một nền nông nghiệp mạnh và bền vững. Một số vai trò của hộ nông
dân đối với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước được thể
hiện như sau:
- Hộ nông dân với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn.
Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và
với cả nước nói chung. Đặc biệt nước ta có tới 67,65% dân sống ở nông thôn
và khoảng 46,9% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (Tổng cục
thống kê, 2013). Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


nước hoặc sự thu hút lao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết
việc làm ở nước ta còn rất hạn chế.
Lao động là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và là
động lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn
nhân lực vẫn đang ở mức thấp.
Hiện nay ở nước ta còn khoảng 1,18 triệu lao động thất nghiệp, chiếm
khoảng 2,2% lao động và chỉ có 60% quỹ thời gian của người lao động ở
nông thôn là được sử dụng (Tổng cục thống kê, 2013). Còn các yếu tố sản
xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và

dài. Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi
tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm
cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội.
- Hộ nông dân có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy sản
xuất hàng hoá phát triển.
Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá. Là đơn vị
kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và
quá trình sản xuất. Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ có
thể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thân
mình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà
không phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định. Với quy mô nhỏ hộ sản
xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn
khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần
mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định.
Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập
với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã
từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường. Để theo
đuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện
chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất
đến một hình thức phát triển cao hơn.
Như vậy, hộ nông dân có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu
của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


hội. Hộ sản xuất nông nghiệp là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở
nước ta phát triển cao hơn.
- Đóng góp của nông hộ đối với xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status