BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LÂM QUANG THƯỜNG
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC
CÂY ĐẬU BẮP (Abelmoschus esculentus)
TẠI HỢP TÁC XÃ THÀNH LỢI
HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH
CẦN THƠ - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Lâm Quang Thường
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC
CÂY ĐẬU BẮP (Abelmoschus esculentus)
TẠI HỢP TÁC XÃ THÀNH LỢI
HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP SẠCH
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGS. TS. Nguyễn Bảo Vệ
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kì luận văn nào trước đây.
Cần Thơ, ngày ….. tháng ….. năm 2012
Tác giả luận văn
Lâm Quang Thường
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH
TÁC CÂY ĐẬU BẮP Abelmoschus esculentus TẠI HỢP TÁC XÃ THÀNH LỢI
HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG” do sinh viên LÂM QUANG
THƯỜNG thực hiện và đề nạp.
Ý kiến đánh giá của cán bộ hướng dẫn:---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Cần Thơ, ngày ….. tháng ….. năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
PGS.TS. Nguyễn Bảo Vệ
ThS. Bùi Thị Cẩm Hường
iii
Thời gian học từ năm 2001 đến năm 2005
Trường Trung học cơ sở Long Trị 1
Địa chỉ: Long Trị - Long Mỹ - Hậu Giang
3. Trung học phổ thông
Thời gian học từ năm 2005 đến năm 2008
Trường Trung học phổ thông Long Mỹ
Địa chỉ: Thị trấn Long Mỹ- Long Mỹ - Hậu Giang
4. Đại học
Trúng tuyển vào ngành Trồng trọt trường Đại học Cần Thơ năm 2008 và
học chuyên ngành Nông Nghiệp Sạch.
v
MỤC LỤC
Nội dung
Chương
1
Trang
Cảm tạ
i
Lời cam đoan
ii
Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
1.2 Cây đậu bắp
2
3
5
1.2.1 Nguồn gốc
5
1.2.2 Phân loại
6
1.2.3 Đặc tính sinh học
6
1.2.4 Yêu cầu ngoại cảnh
6
1.2.5 Giá trị dinh dưỡng của cây đậu bắp
8
18
2.2.2 Nội dung điều tra
18
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
18
vi
3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1
19
Thông tin chung của các hộ
19
3.1.1 Tuổi
19
3.1.2 Trình độ học vấn
3.2.2 Thời vụ gieo trồng
26
3.2.3 Giống
27
3.2.4 Chuẩn bị đất trồng
28
3.2.5 Nhu cầu phân bón
29
3.2.6 Công tác bảo vệ thực vật
38
3.2.7 Chăm sóc
40
3.2.8 Thu hoạch và tiêu thụ
41
3.3 Hiệu quả kinh tế
3.2
23
24
Phần trăm số hộ có bón phân hữu cơ của các hộ tại hợp tác xã
Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
3.5
22
Phần trăm số hộ có số lao động chính trong hộ tại hợp tác xã
Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
3.4
20
Phần trăm số hộ có số nhân khẩu trong hộ tại hợp tác xã Thành
Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
3.3
Trang
29
3.9
Phần trăm về loại thuốc trừ bệnh được các hộ sử dụng trên cây
đậu bắp tại hợp tác xã Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh
Long
ix
39
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tựa bảng
Trang
1.1
Lượng phân nguyên chất cần cung cấp cho cây đậu bắp
11
3.1
Số hộ và phần trăm số hộ theo độ tuổi của các hộ tại hợp tác xã
19
Số hộ và phần trăm số hộ thực hiện việc bón lót đầu vụ cho đậu bắp
33
tại hợp tác xã Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
3.7
Phần trăm loại thuốc phòng trừ sâu hại được các hộ sử dụng trên cây
32
đậu bắp tại hợp tác xã Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
3.8
Số hộ và phần trăm số hộ theo cách tưới nước cho cây đậu bắp tại
41
hợp tác xã Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
3.9
Số hộ và phần trăm số hộ theo năng suất của các hộ trồng đậu bắp
tại hợp tác xã Thành Lợi huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
x
42
Ridomil M72 WP, Rovral 50WP, Anvil 5SC,…; (7) Cây đậu bắp mang lại lợi
nhuận kinh tế khá cao và ổn định.
Bên cạnh đó những khó khăn cần giải quyết như: (1) Trình độ học vấn của
các hộ còn thấp, đa số chỉ đạt cấp 1 (53,3%); (2) Các hộ không tham gia tập huấn
chiếm 90,0%, chỉ có 10,0% các hộ có tham gia tập huấn; (3) Diện tích canh tác
đậu bắp nhỏ lẻ và không tập trung, đa số trong khoảng 0,2-
2
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), nghề trồng rau ở nước ta ra đời
rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước. Nhưng nước ta chịu ảnh hưởng của một nền
Nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành trồng rau chưa
tương xứng với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác hiện có.
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), nước ta có lịch sử
trồng rau rất lâu đời. Từ đời vua Hùng người ta đã phát hiện thấy bầu, bí trong
vườn rau của gia đình. Theo sổ sách ghi chép cho thấy, rau được nhập vào nước ta
từ thời nhà Lý (khoảng thế kỷ thứ X). Năm 1721-1783 Lê Quý Đôn đã tiến hành
tổng kết các vùng phân bố rau. Năm 1829, ở nước ta bắt đầu trồng cải trắng, khoai
tây. Từ thế kỷ thứ XX, các đô thị được mở mang và phát triển cùng với đó là sự
phát triển của nghề trồng rau ở xung quanh thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu của
người dân thành thị ngày một tốt hơn, đồng thời tạo được nguồn thu nhập đáng kể
cho người nông dân.
Trước đây, các giống rau có ít và thường gọi là “rau ta” như rau muống, rau
giền, rau đay, nhưng dần dần đã nhập nhiều giống rau quý và thường được gọi là
“rau tây” như cải bắp, su hào, hành, tỏi tây, cà rốt, cà chua,... Những giống rau này
có giá trị dinh dưỡng cao và ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong ngành
trồng rau ở nước ta. Từ khi đại chiến thế giới lần thứ 2, việc nhập các loại hạt
giống rau gặp nhiều khó khăn. Người nông dân phải tự sản xuất hạt giống, tập
quán và kỹ thuật để giống dần dần được hình thành. Sau đó, nhiều loại hạt giống
được sản xuất và người nông dân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm khá phong
phú trong lĩnh vực thuần hóa, chọn giống và để giống các loại hạt giống rau (Tạ
Thị Cúc và ctv., 1979).
vụ khác trong năm.
Đối với thị trường xuất khẩu rau của nước ta từ lâu đã có những quy định
về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy
4
nguyên nguồn gốc... Đối với thị trường nội địa, khi đất nước ngày càng phát triển
đời sống của người dân càng được cải thiện nhu cầu của người dân càng tăng.
Người tiêu dùng hiện nay đã bắt đầu quan tâm tới chất lượng và độ an toàn của sản
phẩm mà họ sử dụng. Từ đó, đặt ra cho người nông dân nói chung người trồng rau
nói riêng nhiều khó khăn và thách thức phải vượt qua. Muốn làm được điều này
rất cần sự hỗ trợ và giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền để nghề trồng rau
cũng như nền Nông nghiệp nước ta ngày càng phát triển nhằm tăng thu nhập cho
người nông dân góp phần làm giàu cho đất nước.
1.2 Cây đậu bắp
1.2.1 Nguồn gốc
Theo De Lannoy (2001), tên gọi của đậu bắp trong một số ngôn ngữ
phương Tây, như tiếng Anh là "okra" có nguồn gốc Tây Phi, cùng nguồn gốc với
"ọ́ kụ̀ rụ̀ " trong tiếng Igbo; một ngôn ngữ được sử dụng trong khu vực ngày nay là
Nigeria. Trong ngôn ngữ Bantu, đậu bắp được gọi là "kingombo" hay các biến thể
của nó, và đây là nguồn gốc của tên gọi cho đậu bắp trong tiếng Bồ Đào Nha,
tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp. Tên gọi trong tiếng Ả Rập "bāmyah" là cơ sở
của các tên gọi dành cho đậu bắp tại Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi và Nga.
Tại Nam Á, tên gọi của nó là các dạng biến thể của từ "bhindi". Đậu bắp đôi khi
được gọi theo tên khoa học cũ là Hibiscus esculentus L. Loài này dường như có
nguồn gốc từ vùng cao nguyên Ethiopia, mặc dù sự bắt nguồn và phát nguyên từ
đây là không có tài liệu nào ghi chép cả. Người Ai Cập và người Moor trong thế
kỷ 12 và 13 sử dụng tên gọi trong tiếng Ả Rập để chỉ loài cây này, gợi ý rằng nó
đến từ phía Đông. Từ bán đảo Ả Rập, loài cây này đã được phổ biến tới các vùng
ven Địa Trung Hải và về phía Đông. Việc thiếu từ để chỉ đậu bắp trong các ngôn
* Trái, hạt: trái có màu xanh sáng, đôi khi có màu đỏ. Trái nang, dài 20-25
cm, mọc dựng đứng gồm 3-5 vách ngăn kết với nhau tạo thành các đường gờ dọc.
Trong trái có 10-20 hạt đường kính 2-3 mm.
* Sinh trưởng và phát triển: đậu bắp chủ yếu nhân giống bằng hạt; là cây
hằng niên. Sự nở hoa liên tục nhưng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và giống.
Sau khi gieo 2-3 tháng, cây bắt đầu nở hoa, trái phát triển nhanh sau khi hoa được
thụ phấn và đạt kích thước tối đa trong khoảng từ 4-6 ngày sau khi thụ phấn.
6
1.2.4 Yêu cầu ngoại cảnh
* Nhiệt độ: Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), cây
đậu bắp ưa nhiệt độ cao, thích hợp từ 25-300C, trong khoảng nhiệt độ này cây sinh
trưởng và phát triển bình thường. Nếu nhiệt độ càng cao thì cây sinh trưởng và
phát triển càng nhanh. Nhiệt độ cao sẽ kéo dài thời gian ra hoa và tăng số đốt cây.
Đậu bắp là cây phản ứng với độ dài ngày, mức độ mẫn cảm này tùy thuộc vào
giống.
* Nước: Theo Hoàng Văn Ký (2007), khả năng chịu hạn của cây đậu bắp
tương đối khá. Tuy vậy, vào mùa khô cần tưới nước. Sử dụng nguồn nước tưới
sạch (nước sông, nước giếng khoan). Tuyệt đối không sử dụng nguồn nước bị ô
nhiễm, nước thải từ bệnh viện. Cần thường xuyên giữ ẩm độ trong đất 80-85%
trong suốt quá trình hình thành trái.
* Đất: Theo Minh Quân (2004), đậu bắp thích hợp với đất cát pha, đất thịt
nhẹ hoặc đất thịt trung bình, pH từ 5,5-6,8. Đất phải bằng phẳng, dễ tưới và tiêu
nước. Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo. Lên liếp 1,4-1,5 m, mặt
liếp rộng 1,1-1,2 m, chiều cao liếp 25-30 cm. Rãi vôi lên mặt liếp với liều lượng
250-500 kg/ha và trộn đều trước khi bón lót khoảng 10 ngày.
* Dinh dưỡng: Nhu cầu dinh dưỡng của cây đậu bắp bao gồm các nguyên
tố đa lượng: N, P, K, Ca, Mg, S, C, H, O và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Zn,
Mn, Mo, Cl. Tùy theo từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng
bắp sẽ là mảnh đất màu mỡ cho nhưng vi khuẩn có lợi, có thể sánh ngang tầm với
sữa chua, giúp tổng hợp các vitamin nhóm B. Để làm đẹp tóc, cắt khúc đậu bắp và
nấu đến khi nước nhầy ra tối đa, sau đó để nguội rồi nhỏ vài giọt chanh và sử dụng
dung dịch này gội đầu. Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng
ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hóa, đồng thời xoa dịu những “niềm
đau” từ trong ruột. Protein và dầu có trong hạt đậu bắp được xem là protein hạng
nhất trong rau cải, chứa rất nhiều amino axit thiết yếu cho cơ thể như trytophan
(giúp tinh thần thoải mái, ngủ ngon...), cystein…
Theo Võ Văn Chi (2005), đậu bắp không chỉ là loại thực phẩm giàu protein,
nhiều dinh dưỡng, không có cholesterol mà các bộ phận của cây điều có thể dùng
làm thuốc. Các thành phần dinh dưỡng trong đậu bắp đều cao hơn các loại rau quả
8
củ nói chung, đặc biệt là các vi chất như: canxi, kali, vitamin B6, magie, folate và
axit alpha-linolenic. Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc
bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì, và cả ung thư. Đậu bắp rất dễ ăn có thể luộc,
xào, nướng, sấy khô nhưng ngon và ưa chuộng nhất là nấu canh chua. Uống nước
đậu bắp luộc hàng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường,
có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh. Cành non của đậu bắp
luộc ăn giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan,... Chữa ho, viêm họng:
rễ và lá thái mỏng phơi khô ngày uống 10-16 g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha.
1.2.6 Kỹ thuật trồng đậu bắp
* Thời vụ: Theo Hoàng Văn Ký (2007), đậu bắp có thể xuống giống vào vụ
Xuân và vụ Thu-Đông.
- Vụ Xuân: Gieo từ cuối tháng 2 đến tháng 3, thu hoạch từ tháng 5 đến
tháng 9. Nếu gieo muộn, cây sớm ra hoa, nhưng năng suất giảm dần.
- Vụ Thu-Đông: Gieo từ cuối tháng 7 đến tháng 8, thu hoạch trái từ tháng 9
đến tháng 1, đầu tháng 2.
* Làm đất: Chọn loại đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình, pH
trồng 2 cây, liếp cách liếp 100 cm, chiều rộng của liếp 100 cm, chiều cao của liếp
25-30 cm. Mật độ trồng 60.000-100.000 cây/ha. Lượng giống cần cho 1 ha tương
đương như trên (18-22 kg/ha).
* Phân bón: Theo Nguyệt Hằng (2006), tuyệt đối không được dùng phân
chuồng tươi hoặc nước phân tươi để tưới trực tiếp cho đậu bắp. Rãi đều thuốc trừ
sâu Basudin hạt lên mặt liếp với liều lượng 30 kg/ha trước khi bón lót. Bón lót
phân chuồng: 15-20 tấn/ha; có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế
biến thay thế cho phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng. Công thức
phân bón và cách bón:
- Bón thúc lần 1: Sau khi trồng 7-10 ngày, liều lượng: 15-20 kg urê/ha.
Cách bón: bón xung quanh, cách gốc 10 cm hoặc pha loãng tưới.
- Bón thúc lần 2: Sau khi trồng 25 ngày, liều lượng: 50-100 kg phân (20-2015)/ha. Cách bón: Rãi phân giữa hai cây trên hàng, cách gốc 20 cm.
- Bón thúc lần 3: Sau bón thúc lần hai 15 ngày, liều lượng: 100-150 kg
phân (20-20-15)/ha. Cách bón: rãi phân giữa hai hàng, cách gốc 20 cm. Bón thúc
lần 4: Sau bón thúc lần ba 15 ngày, liều lượng: 50-100 kg phân (20-20-15)/ha.
10
Cách bón: Rãi phân giữa hai cây trên hàng, cách gốc 20 cm.
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2006), cây đậu bắp trong thời
gian sinh trưởng cần lượng dinh dưỡng được trình bày qua Bảng 1.1.
Bảng 1.1 Lượng phân nguyên chất cần cung cấp cho cây đậu bắp
Loại phân
Tổng lượng phân Bón lót
bón nguyên chất
(%)
(kg/ha)
Bón thúc (%)
0
0
0
Phân kali
100
30
30
30
10
0
0
Ngoài biện pháp bón vào đất có thể phun qua lá các dung dịch dinh dưỡng
đa lượng, trung lượng, vi lượng,… có thể phun các loại phân như Multi-K (dùng
loại này thì giảm 30- 50% lượng phân kali bón thúc) khoảng 5- 7 ngày/lần sẽ kích
thích cây sai trái, năng suất tăng. Tiến hành thu hoạch trái sau khi bón phân ít nhất
7-10 ngày.
* Chăm sóc: Khi cây có 2-3 lá thật tiến hành làm cỏ, xới nông vun nhẹ vào
gốc. Khi cây đậu bắp cao 20 cm thì xới sâu trên mặt luống, làm sạch cỏ dại và vun
gốc cho cây đứng thẳng tránh đổ ngã. Đậu bắp thì rất cần nước. Tuy nhiên, đất