TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
LƯU THỊ LOAN
THIÊN NHIÊN TRONG THƠ
HỒ CHÍ MINH
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Sư phạm Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: HỒ THỊ XUÂN QUỲNH
Cần Thơ, năm 2012
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
LỜI CẢM ƠN
Trải qua bốn năm rèn luyện và học tập trên giảng đường Đại
học, được sự dìu dắt và truyền thụ kiến thức của thầy, cô. Đó là
hành trang bổ ích giúp chúng tôi bước vào đời. Có thể khẳng định
rằng: luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu có giá trị đầu
tiên đối với mỗi sinh viên mới ra trường. Với công trình nghiên cứu
này, chúng tôi có dịp vận dụng toàn bộ những kiến thức đã được
học tập xuyên suốt bốn năm đại học. Gần một năm tìm tòi, nghiên
cứu, cùng với sự tận tình hướng dẫn của cô: Hồ Thị Xuân Quỳnh và
sự nổ lực cố gắng của bản thân đến nay đề tài nghiên cứu “Thiên
5.
Lý do chọn đề tài
Lịch sử vấn đề
Mục đích nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC GIA
HỒ CHÍ MINH
1.1
1.2
1.3
1.4
Đôi nét về cuộc đời
Sự nghiệp văn chương
Quan điểm sáng tác văn chương
Sự nghiệp sáng tác hoàn toàn thống nhất với sự nghiệp cách mạng
Chương II: HÌNH ẢNH THIÊN NHIÊN TRONG THƠ
HỒ CHÍ MINH
2.1 Sự phong phú và đa dạng về hình ảnh thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh
2.1.1 Hình ảnh trăng
2.1.2 Hình ảnh hoa
2.1.3 Hình ảnh núi
2.1.4 Hình ảnh mây
2.1.5 Hình ảnh gió
2.1.6 Hình ảnh sông
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.”
Khi viết về thiên nhiên, Hồ Chí Minh bao giờ cũng dành cho thiên nhiên
một tình cảm ưu ái dù bất kì trong hoàn cảnh nào. Nhiều khi trong thơ Người,
thiên nhiên là đối tượng thẩm mĩ nhưng nhiều khi lại là phương tiện để nhà thơ gửi
gắm nỗi lòng, bộc bạch tâm sự của mình. Do vậy, thiên nhiên trong thơ Người có
nhiều tầng bậc ý nghĩa.
Lòng yêu người, yêu thiên nhiên của Bác đã được nhà thơ Tố Hữu ghi
nhận:
“Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta
Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình cho hết thảy
Như dòng sông chảy nặng phù sa”
Và:
“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từ ngọn lúa, mỗi nhành hoa”
Vì vậy, khi chọn đề tài “Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh” cũng là cách
để người viết tiếp cận những hình ảnh thiên nhiên trong thơ Người một cách sâu
sắc và toàn vẹn hơn. Đồng thời, đề tài này còn giúp người viết hiểu biết thêm về
cuộc đời, sự nghiệp văn chương, quan điểm sáng tác cũng như những đức tính tốt
đẹp của Người. Chính vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài “Thiên nhiên trong thơ
Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Lịch sử vấn đề
Trong sự nghiệp văn chương của Hồ Chí Minh, Người đã sáng tác với
cách này của thơ Bác chăng”[17;tr.71].
Bàn về thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh cũng được nhiều nhà nghiên
cứu, phê bình quan tâm và tiếp nhận những sáng tác của Bác với một thái độ trân
trọng, thiết tha và nghiêm túc. Trong quyển “Văn học Việt Nam (1900 – 1945)”,
Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1997 do Phan Cự Đệ (chủ biên), tác giả nhận định:
“Hồ Chí Minh mang tâm hồn nghệ sĩ. Tình cảm đối với thiên nhiên chiếm một vị
trí đặc biệt trong thơ Người. Thiên nhiên trong thơ Người ở mỗi thời kì có một ý
nghĩa, một sắc thái riêng…những bài thơ mang cảm xúc trữ tình trước thiên
nhiên, thơ nói đến trăng, đến hoa cũng là “thơ thép”[4; tr.634].
Tác giả Minh Tranh trong bài viết “Sống như Bác đã sống”, đăng trên Báo
Tiền Phong, năm 1960, đã nhận xét về chất tình và chất thép trong thơ Bác: “Tâm
tình, cảm xúc mà chúng ta được gặp trên một trăm bài thơ của Bác là một tâm
tình, một xúc cảm rất chân thật. Ở đây là lòng yêu thiên nhiên, lòng yêu đời, lòng
tin tưởng ở tự do của khối nhân dân bình thường, của khối nhân dân bao la trong
đó thi sĩ là một phần tử gắn bó thật là tha thiết. Thơ và thép ở đây đã thống nhất
thành những thanh âm, nhạc điệu diễn nổi lên lòng tin của một chiến sĩ cách mạng
lão thành đã được rèn luyện trong nhiều thử thách của một đời chiến đấu, đã đánh
bại gian khổ”[26; tr.305].
Còn trong quyển “Hồ Chí Minh nhà thơ lớn của dân tộc”, Nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1997 do Hà Minh Đức biên soạn, bên cạnh việc bàn về quan điểm
cách mạng của Bác về thơ, chất thép trong thơ, vẻ đẹp trí tuệ và chiều sâu cảm xúc
trong thơ Hồ Chí Minh thì tác giả còn đề cập đến tình cảm thiên nhiên trong thơ
Bác. Trong bài viết, tác giả nhận định:“Thiên nhiên, tạo vật trong thơ Hồ Chí
Minh luôn mang theo ý nghĩa của cuộc đời qua một hàm ý của nội dung, hoặc một
liên tưởng sâu xa. Cảm hứng với thiên nhiên bộc lộ một tầm nhìn, một quan niệm
triết lý và nhân sinh tiến bộ và những cảm xúc thẩm mĩ cao đẹp”[5;tr.144]. Như
vậy, khi viết về thiên nhiên không chỉ dừng lại ở việc Bác xem thiên nhiên như đối
tượng thẩm mĩ, thiên nhiên mang lại nhiều xúc cảm đặc biệt cho con người, thiên
trong tập thơ rất khăng khít với đời sống nội tâm của con người” [30;tr.168].
Còn trong quyển “Nhật kí trong tù, tác phẩm và dư luận”, Nhà xuất bản
Văn học, năm 1983, qua bài thơ “Tảo giải” của Hồ Chí Minh, Hoàng Dung nêu ra
nhận xét: “Một cảnh thực: một thiên nhiên sinh động, vui, ấm. Và đẹp đẽ hơn, ấm
hơn là tâm hồn tràn đầy lạc quan, tin tưởng, sảng khoái hào hung của nhà thơ.
Bác đã đứng trên đau khổ mà đến với thiên nhiên – chớ quên rằng Người vẫn là
một người tù – vui với cảnh đẹp của thiên nhiên nhưng cũng hòa vào thiên nhiên
tâm hồn cao đẹp của mình và sưởi ấm thiên nhiên bằng nhiệt tình cách mạng rực
lửa của mình”[19;tr.376].
Hay Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Phong cách thơ Chủ tịch Hồ
Chí Minh” có viết: “Đọc thơ thiên nhiên của Bác, nhất là trong “Nhật kí trong
tù”, phải thấy cái phong thái ung dung tự tại của nhân vật trữ tình trước thiên
nhiên kia thực ra cũng là một phương diện của chất thép, chất cách mạng trong
thơ Hồ Chủ tịch. Và chính vì gắn liền với một tinh thần thép như thế nên thiên
nhiên trong thơ Bác không bao giờ ảm đạm, hiu quạnh, dù đó là thiên nhiên bắt
gặp giữa đêm khuya vắng vẻ trên đường đi đày (“Giải đi sớm”) hay lúc chiều
muộn sau một ngày dầm mưa dãi nắng (“Chiều tối”)”[17;tr.81].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có rất nhiều những bài
viết, bài nghiên cứu về “Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh”. Tiêu biểu như: bài
“Giữa đường đáp thuyền đi huyện Ung”; “Ngắm trăng” của Hà Minh Đức in
trong quyển“Tác phẩm văn học – bình giảng và phân tích”, Nhà xuất bản Văn
học, năm 2001; bài “Chiều tối” của Trần Khánh Thành in trong “Giảng văn văn
học Việt Nam”, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2000; bài “Mặt trời và nhành mai”
(tìm hiểu bài Thượng sơn) của Nguyễn Xuân Nam trích từ “Thơ, tìm hiểu và
thưởng thức”, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, tháng 4.1985;…ngoài ra, còn có rất
nhiều những bài nghiên cứu, phê bình khác viết về các bài thơ trong tập “Nhật kí
trong tù” và một số bài thơ được Bác sáng tác trong thời kì kháng chiến chống
thực dân Pháp. Tuy nhiên, nó còn riêng lẻ từng vấn đề, chỉ là những bài viết, phân
4. Phạm vi nghiên cứu
Hồ Chí Minh là một tác gia lớn của dân tộc, là nhà thơ tiêu biểu cho văn
học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Người sáng tác với nhiều thể loại: văn chính
luận, truyện kí và thơ ca nhưng vì đề tài mà chúng tôi nghiên cứu là “Thiên nhiên
trong thơ Hồ Chí Minh” nên ở đây người viết chỉ chủ yếu khảo sát, tập trung
nghiên cứu về thiên nhiên trong các sáng tác thơ ca của Người (gồm những bài thơ
được Bác sáng tác trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và những bài
thơ trong tập “Nhật kí trong tù”).
Bên cạnh đó, người viết sẽ có sự so sánh giữa hình ảnh thiên nhiên trong
thơ Bác với hình ảnh thiên nhiên của một số nhà thơ khác, nhằm làm sáng tỏ cũng
như để tăng thêm sự phong phú cho nội dung đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh”, người viết cần có những
phương pháp thích hợp trong quá trình nghiên cứu vấn đề. Từ đó, người viết có
thể đảm bảo được những yêu cầu mà đề tài đặt ra. Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng
một số phương pháp như:
- Phương pháp tiểu sử: là phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học thông
qua việc nghiên cứu tiểu sử tác giả qua tác phẩm đó. Sử dụng phương pháp này,
chúng tôi nhằm mục đích lý giải nguồn gốc cũng như sự tác động từ thân thế và
cuộc đời của Hồ Chí Minh đối với vấn đề thiên nhiên trong thơ của Người. Từ đó,
có thể thấy được sự phong phú, đa dạng của thiên nhiên trong thơ Bác, nhận thức
được tình cảm cũng như sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên.
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập
những tư liệu có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Bác. Cũng
như thống kê những tác phẩm, những công trình nghiên cứu có liên quan đến nội
dung đề tài. Đồng thời, phương pháp này còn được sử dụng để thống kê những câu
thơ, bài thơ tiêu biểu của Người nhằm chứng minh cho một luận điểm cụ thể.
Thân sinh của Người là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc), một
nhà nho có tài và sống thanh bạch bằng nghề dạy học. Mẹ của Người là bà Hoàng
Thị Loan, một người phụ nữ hiền hậu, đảm đang, sống bằng nghề làm ruộng, dệt
vải và chăm lo dạy dỗ các con chu đáo. Chị của Bác là Nguyễn Thị Thanh và anh
là Nguyễn Sinh Khiêm, đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là con thứ ba trong gia đình. Lúc còn bé, Người tên
là Nguyễn Sinh Cung, về sau đổi tên là Nguyễn Tất Thành. Khi đi học, Người là
một học trò thông minh, chăm chỉ học tập và ham tìm hiểu những điều mới lạ.
Ngoài những sách phải học, Người còn ham đọc truyện thơ và thơ ca yêu nước.
Người thường được cha cho tham dự những cuộc đàm luận về thời cuộc giữa ông
với những nhà yêu nước. Chính những yếu tố đó đã hun đúc tinh thần yêu nước,
thương nòi ở Người. Năm 15 tuổi, Người đã tham gia công tác bí mật, làm liên lạc
cho một số nhà Nho yêu nước lúc bấy giờ.
Bác lớn lên khi các phong trào yêu nước như: phong trào Cần Vương mà
tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Yên Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc
khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đều bị thất bại.
Vào mùa hè năm 1908, Chủ tịch Hồ Chí Minh thôi học, rời Huế đi vào
Nam và Người đã dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh – Phan Thiết một thời
gian. Tại đây, Người không chỉ truyền thụ những kiến thức văn hóa mà còn chú
trọng giáo dục tinh thần yêu nước thương dân cho học trò của mình.
Ít lâu sau, Người vào Sài Gòn. Và ngày 5 tháng 6 năm 1911, Người đã lên
tàu La touche Tréville ra nước ngoài với mong muốn thực hiện được hoài bão cứu
nước của mình. Người từng hoạt động ở nhiều nước thuộc: Châu Á, Châu Âu,
Châu Phi và Châu Mỹ nhưng chủ yếu nhất là ở Pháp. Năm 1919, thay mặt những
người Việt Nam ở Pháp, Người gửi tới Hội nghị hòa bình ở Vécxây bản yêu sách
“Quyền các dân tộc”. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng
sản Pháp. Và ngày 3.2.1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản
thành Đảng Cộng sản Đông Dương tại Hương Cảng (Trung Quốc). Tháng 2.1941,
và tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”. Có thể nói,
ngoài sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Bác còn để lại cho đời sau nhiều tác phẩm văn
chương có giá trị nghệ thuật mà trong số đó có tập “Nhật kí trong tù”.
1.2 Sự nghiệp văn chương
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp
văn chương vô cùng lớn lao về tầm vóc, phong phú và đa dạng về thể loại và đặc
sắc về phong cách nghệ thuật sáng tạo. Từ lúc còn nhỏ Bác đã có năng khiếu về
văn chương, yêu thích văn chương dân gian, văn thơ cổ điển và thơ văn yêu nước.
Đặc biệt, Người am hiểu sâu sắc Hán học, thơ Đường, thơ Tống. Trong thời kì
hoạt động cách mạng ở: Pháp, Anh, Bác còn say mê tìm hiểu văn học nghệ thuật
phương Tây.
Có thể nói sự nghiệp văn chương của Bác gắn liền với sự nghiệp cách
mạng. Văn chương phục vụ cách mạng và cách mạng tạo điều kiện để văn chương
phát triển. Bác tìm đến với văn chương như một phương tiện để phục vụ cho sự
nghiệp cách mạng “Bác chưa bao giờ có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp
văn chương. Trong cảnh nước mất, nhà cách mạng dứt khoát từ chối con đường
“Văn chương khoa cử” để hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cứu nước. Nhưng
trên con đường cứu nước văn chương lại đến với Người như một phương tiện, vũ
khí chiến đấu sắc bén được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả” [8;tr.13].
Tác phẩm của Người được viết bằng nhiều thứ tiếng: Pháp, Hán, tiếng Việt.
Và ta có thể tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Người chủ yếu trên ba lĩnh vực: văn
chính luận, truyện kí và thơ ca.
● Văn chính luận
Những tác phẩm văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được
viết ra chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tiến vào trực diện kẻ thù, lên
án chế độ thực dân và chính sách bóc lột tàn bạo của chúng. Ngay từ những thập
báo từ khoảng 1922 đến 1925 ở Pari. Với các truyện ngắn như: “Pari (1922, Nhân
đạo), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922, Nhân đạo), Con người biết mùi hun
khói (1922, Nhân đạo), Vi hành (1923, Nhân đạo); Đoàn kết giai cấp (1924,
Người cùng khổ), Con rùa (1925, Người cùng khổ), Những trò lố hay là Va-ren và
Phan Bội Châu (1925, Người cùng khổ)” đều gây ấn tượng sâu sắc trong lòng
người đọc. Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, truyện ngắn “Giấc
ngủ 10 năm (1949)” với bút danh Trần Lực là một sáng tác giàu tinh thần lạc quan
cách mạng của Bác.
Ngoài truyện ngắn, Hồ Chí Minh còn có những tác phẩm kí đặc sắc như:
“Nhật kí chìm tàu (1935)”,“Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963,bút danh T.
Lan)”. Trong cuốn sách này, Hồ Chí Minh hóa thân thành một cán bộ trong đoàn
tùy tùng (T. Lan), đi công tác cùng với Hồ Chí Minh trong rừng núi Việt Bắc và
được Hồ Chí Minh vui miệng kể cho nghe nhiều câu chuyện.
Nhìn chung, truyện và kí của Người rất cô đọng, cốt truyện trong sáng, kết
cấu độc đáo, dễ gây ấn tượng cho người đọc. Mỗi truyện đều có cách thể hiện
riêng không lặp lại, ý tưởng thâm thúy, kín đáo, chất trí tuệ tỏa sáng trong hình
tượng và phong cách giàu tính hiện đại. Bác rất quan tâm đến lối kể chuyện truyền
thống và văn xuôi của dân tộc. Đồng thời, Người cũng chú ý đến việc vận dụng lối
biểu hiện mới mẻ của văn xuôi phương Tây. Các câu chuyện của Bác thường dựa
trên một câu chuyện có thật rồi hư cấu phát triển thêm để thực hiện được dụng ý
nghệ thuật của mình.
● Thơ ca
Đây là lĩnh vực nổi bật nhất trong sự nghiệp văn chương của Người. Về
lĩnh vực thơ ca, có thể kể đến ba tập thơ:
Tập “Nhật kí trong tù (1942 – 1943)” gồm 133 bài.
Tập “Thơ Hồ Chí Minh (1967)” gồm 86 bài.
Tập “Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990)” gồm 36 bài.
lòng yêu thương sâu sắc và một tâm hồn cao cả. Đó là tiếng nói nhân danh những
người cùng khổ đấu tranh đòi quyền sống, nhân danh một dân tộc bảo vệ quyền
độc lập, tự do. Đó là tiếng nói của người cần lao, “Người đi dép lốp cao su” và
“Nhà chiến lược”(Katep Yaxin, Angieri) luôn lạc quan tin vào sức mạnh của chân
lí và của con người đang vươn tới những giá trị cao quý của Chân – Thiện – Mỹ.
Qua di sản văn chương quý báu đó, các thế hệ hôm nay và mai sau có thể tìm thấy
và cần học hỏi những bài học về giá trị tinh thần cao quý ấy ở Người.
1.3 Quan điểm sáng tác văn chương
Nhắc đến Hồ Chí Minh chúng ta không chỉ nhắc tới một danh nhân văn hóa
thế giới, một nhà chính trị tài giỏi mà Người còn là một nhà thơ, nhà văn lỗi lạc.
Người đã để lại cho thế hệ chúng ta một khối lượng tác phẩm văn chương khá lớn
dưới ánh sáng của một quan điểm nghệ thuật đúng đắn.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà văn, nhà thơ mà
chỉ là một người bạn, người yêu văn nghệ. Trong “Nhật kí trong tù”, Người viết
“Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”. Nhưng vì hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách
mạng yêu cầu, thiên nhiên gợi cảm cộng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nghệ
sĩ, Người đã sáng tác nên nhiều tác phẩm có giá trị. Những áng văn chính luận sắc
sảo, hùng hồn; những truyện ngắn độc đáo và hiện đại; cùng với hàng trăm bài thơ
giàu tình người, chứa chan thi vị đã được Bác viết bằng tất cả tài năng và tâm
huyết.
Bác xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có
hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào
nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội. Trong bài “Cảm tưởng đọc Thiên gia
thi”, Bác viết:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”.
Người quan niệm: “văn chương không chỉ là chuyện thù tạc, nhàn tản của
Nhấc lên đặng”
Với những áng văn chính luận như: “Tuyên ngôn độc lập”, “Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến” để phục vụ cho đồng bào cả nước và tranh thủ dư luận thế
giới, bằng những cách lập luận chặt chẽ, lời lẽ đanh thép đã phần nào thuyết phục
được quần chúng.
Những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp như: “Vi hành”, “Những trò lố hay
là Va-ren và Phan Bội Châu” dành cho độc giả là người Pháp. Cách viết của
Người mang đậm phong cách phương Tây. Chẳng hạn như cách viết truyện theo
lời viết thư trong truyện ngắn “Vi hành”, và những thành ngữ, cách chơi chữ bằng
tiếng Pháp của Người đã phần nào đả kích được bản chất xấu xa của tên vua bù
nhìn Khải Định và quan thầy thực dân Pháp.
Với bản thân, Người có những dòng thơ hết sức hữu tình, chan hòa cùng
thiên nhiên cảnh vật nhưng vẫn không quên nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của
mình với vận mệnh của đất nước:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
(Cảnh khuya)
Mặt khác, Người cũng quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân
thật. Người yêu cầu các văn nghệ sĩ phải “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho
hùng hồn”[15;tr.20]. Người dạy phải chú ý nêu gương “người tốt, việc tốt”, uốn
nắn và phê bình cái xấu. Tính chân thật vốn là cái gốc của văn chương xưa nay.
Nhà văn phải chú ý đến hình thức biểu hiện, tránh lối viết cầu kì, xa lạ, nặng nề.
Hình thức của tác phẩm phải trong sáng, hấp dẫn và ngôn từ phải có sự chọn
lọc.“Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong
phú, có hình thức trong sáng và vui tươi”[17;tr.69]. Bên cạnh đó, Người còn đặc
biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo Bác, tác phẩm
Bác để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp văn chương vô cùng lớn lao và
phong phú. Một sự nghiệp văn thơ được lớp lớp các thế hệ công chúng Việt Nam
truyền tụng. Một sự nghiệp văn thơ mà những người chuyên môn, những bậc thầy
văn hóa, văn nghệ trong nước và trên thế giới đều nhất trí xem trọng và ca ngợi.
Nhưng con người có đủ tư cách nghệ sĩ ấy, con người có cả một sự nghiệp
văn thơ ấy, lại chưa bao giờ muốn nhận mình là nhà thơ.“Ngâm thơ ta vốn không
ham”, đây là câu đầu bài Khai quyển của tập “Nhật kí trong tù” gồm hơn một
trăm bài thơ được Bác viết trong khoảng thời gian hơn một năm, từ tháng 8.1942
đến 9.1943. Người nói không ham theo cách nói ý tứ, khiêm nhường của một câu
thơ của người xưa:
“Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”
(Nghiêu Phu – đời Thanh, Trung Quốc)
Hay:
“Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Hồ Chí Minh nói không ham, vì thực ra Người chỉ có một ham muốn “Ham
muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn
toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [9;tr.14].
Theo lời kể của cụ Phan Bội Châu, lúc còn thanh niên Hồ Chí Minh rất thích hai
câu thơ của Viên Mai:
“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương.”
Người xưa từng nói có ba điều bất hủ: cao nhất là lập đức, thứ đến lập công
và thấp nhất là lập ngôn. Nhưng Bác thì ngược lại, Bác không xem thường lập
ngôn, cũng như Bác không xem thường bất cứ một việc gì nếu như nó có ích ít
nhiều cho sự sống, cho cách mạng “mỗi một người, bất cứ làm công tác gì, ở đơn
vị nào đều là quan trọng. Công việc gì có ích cho Đảng, cho cách mạng cũng vẻ