Câu đố và vai trò của câu đố trong việc góp phần phát triển tư duy của học sinh tiểu học - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-----------------------------

ĐẶNG THỊ MẬN

CÂU ĐỐ VÀ VAI TRÒ CỦA CÂU ĐỐ TRONG
VIỆC GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA
HỌC SINH TIỂU HỌC

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi

Người hướng dẫn khoa học
ThS.GVC NGUYỄN VĂN MỲ

HÀ NỘI, 2013


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,
các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Văn
Mỳ, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận này.
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc
chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp của quý thầy cô và các bạn khóa luận được hoàn thiện hơn.

5. Mục đích nghiên cứu .................................................................... 6
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................... 6
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 6
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................ 7
NỘI DUNG ................................................................................................. 8
Chương 1: Khái quát về câu đố ................................................................. 8
1.1. Khái niệm câu đố ...................................................................... 8
1.2. Sơ lược về nguồn gốc, đối tượng phản ánh trong câu đố........... 10
1.2.1. Nguồn gốc câu đố ..................................................................... 10
1.2.2. Đối tượng phản ánh trong câu đố ............................................. 12
1.3. Những đặc trưng cơ bản của câu đố .......................................... 13
1.3.1. Tính trí tuệ ................................................................................ 13
1.3.2. Tính giải trí .............................................................................. 14
1.3.3. Tính giáo dục............................................................................ 15
Chương 2: Vai trò của câu đố trong việc góp phần phát triển tư
duy của học sinh tiểu học ........................................................................... 18
2.1. Về khái niệm tư duy và và đặc điểm tư duy ở lứa tuổi học sinh
Tiểu học ................................................................................................................... 18
2.1.1. Khái niệm tư duy ...................................................................... 18
2.1.2. Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học .................................... 21
2.1.3.Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy cho học sinh ............ 23


2.2. Vai trò của câu đố trong việc góp phần phát triển tư duy của
học sinh Tiểu học ......................................................................................... 23
2.2.1. Vị trí của câu đố trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học ................... 23
2.2.2. Vai trò của câu đố trong việc phát triển tư duy của học
sinh Tiểu học ................................................................................................ 27
2.2.2.1. Câu đố góp phần phát triển tư duy của trẻ thông qua cơ
chế suy đoán, liên tưởng, tưởng tượng. ........................................................ 27

TV

: Tiếng Việt


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khách quan
Từ lâu, trong đời sống tinh thần của người lao động, câu đố chiếm một
vị trí đáng kể. Câu đố đã trở thành một gia vị quan trọng không thể thiếu
trong món ăn tinh thần của người dân đất Việt. Nếu tục ngữ là túi khôn đúc
kết kinh nghiệm, ca dao dân ca là tiếng nói của tình cảm thì câu đố là tiếng
cười của trí tuệ, của sự thông minh, linh hoạt. Có thể nói, hoạt động đố - đáp
được người lao động hưởng ứng và trở nên phổ biến ở mọi vùng miền, nhất là
ở vùng nông thôn. Từ Bắc chí Nam, ai ai cùng biết vài ba câu đố và không ít
lần tham gia vào trò chơi đố giải. Câu đố có thể diễn ra bất cứ nơi đâu và bất
cứ lúc nào, không cần phải chọn lựa địa điểm, thời gian. Có thể đố nhau trên
đồng ruộng, trong những phút nghỉ ngơi, nơi bến sông cùng chờ một chuyến
đò ngang, trên một chặng đường đi chung, hay dưới một bóng cây giữa trưa
hè oi bức. Cuộc đố và đáp cũng được diễn ra ở nông thôn vào những đêm
trăng thơ mộng nơi sân nhà, người tham gia quây quần quanh ấm nước chè
thắm đượm tình làng nghĩa xóm. Trẻ em cũng thường đố nhau khi ngồi vắt
vẻo trên lưng trâu, nơi bờ kênh, hoặc trên đường tung tăng chân sáo, cắp sách
đến trường. Câu đố trở thành một phương tiện để thư giãn trong lúc lao động
mệt nhọc, nó làm ta quên đi những vất vả, khó nhọc và giúp cho moị người
hăng hái lao động sản xuất. Câu đố cùng với nhiều hình thức sinh hoạt tinh
thần khác như một sợi dây vô hình kéo mọi người gần lại nhau hơn trong
những lúc nghỉ ngơi, tạo không khí chan hòa, thân mật, vui vẻ, lành mạnh.
Tuy nhiên trong thực tế khi mà cấu trúc xã hội đã thay đổi, khi mà nhịp

thích sự sự tìm tòi suy nghĩ trong học tập.


Là một giáo sinh khoa giáo dục Tiểu học – một giáo viên trong tương
lai, nhận thức được tầm quan trọng của thể loại câu đố trong nền văn học dân
gian nói chung và câu đố trong việc góp phần hình thành trí tuệ, phát triển tư
duy của trẻ, tôi đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài “Câu đố và vai trò
của câu đố trong việc góp phần phát triển tư duy của học sinh tiểu học”.
Đề tài này giúp tôi bước đầu tìm hiểu khái quát về câu đố và vai trò của
câu đố trong việc phát triên tư duy của học sinh Tiểu học. Từ đó trang bị cho
bản thân những hiểu biết cần thiết để dạy tốt bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Văn học dân gian được xem là nền móng, là di sản quý báu của dân tộc
Việt Nam. Các nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu và khai thác “Cái chất hồn
nhiên nhất, hiện hữu nhất và kết tinh nhất của yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc”
ở nhiều thể loại như: Thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết, ca dao, tục
ngữ,... Với thể loại câu đố đã có khoảng hơn 40 công trình nghiên cứu, trong
đó có 11 công trình mang tính chất sưu tập, tuyển chọn và biên soạn lại tùy
theo mục đích của người biên soạn. Số còn lại là những công trình, những bài
nghiên cứu về một góc nào đó của câu đố. Có thể kể đến một số công trình
của các nhà nghiên cứu:
 Nguyễn Văn Trung (1999), Câu đố Việt Nam, nhà xuất bản TP Hồ
Chí Minh
Ở đó tác giả đi vào giới thiệu câu đố và xuất xứ, nguồn gốc, hoàn cảnh
sử dụng, mục đích và chức năng, phân loại, cách cấu tạo câu đố về mặt tổng
quát, về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ điệu, tần số câu đố, đến những lối nhìn
trong câu đố, khía cạnh văn chương và một phần khá lớn giới thiệu 1513 câu
đố sắp xếp theo đối tương phản ánh và một vài kiểu đố khác
 Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
(2000), Văn học dân gian, NXB GD

- Đỗ thành Dương, “Nói lái trong câu đố Tiếng Việt” , Ngôn ngữ và đời
sống, số 9 (17)
Bài viết đề cập tới cách sử dụng biện pháp nói lái trong câu đố và tác
dụng của nó.
 Triều Nguyên (2010), Tìm hiểu về câu đố người Việt, NXB Khoa học
xã hội
Với tác giả Triều Nguyên, phần khái luận về câu đố người Việt cho
thấy cách tiếp cận câu đố ở bình diện thể loại khá toàn diện và có những kiến
giải thấu đáo. Có nhiều vấn đề được đặt ra lần đầu như: “trường và hiện tượng
xuất nhập trường trong câu đố”, “mô hình câu đố”,…
Một số khóa luận, luận văn hay luận án tiến sĩ nghiên cứu về câu đố
 Đặng Thị Quỳnh (2004), Tìm hiểu về câu đố trong chương trình
Tiếng việt Tiểu học”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Sư phạm Thái
Nguyên.
 Trần Thị Lan (1996), Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt
Nam với trẻ em, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Qua các công trình ngiên cứu nêu trên ta thấy việc nghiên cứu về câu
đố nói chung khá phong phú nhưng các tác giả chủ yếu đi vào sưu tầm, biên
soạn lại các câu đố Việt Nam và chú trọng bàn về nội dung hay đối tượng
phản ánh trong câu đố mà chưa thật sự quan tâm đến vấn đề dạy – học câu đố
cho học sinh Tiểu học và vai trò của câu đố trong việc góp phần phát triển tư
duy của học sinh Tiểu học. Việc nghiên cứu thành công đề tài này chắc chắn
sẽ gợi ra nhiều vấn đề ứng dụng cho việc giảng dạy câu đố, đặc biệt đối với
giáo viên Tiểu học.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tương nghiên cứu của đề tài: “Câu đố và vai trò của câu đố trong
việc góp phần phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học”.


4. Phạm vi nghiên cứu

kê và tổng kết lại kết quả phân tích.


Phương pháp nghiên cứu tư liệu


8. Cấu trúc khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung: Gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về câu đố
Chương 2: Vai trò của câu đố trong việc phát triển tư duy của học sinh
tiểu học
Phần 3: Kết luận
Tài liệu tham khảo


NỘI DUNG

Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CÂU ĐỐ

1.1. Khái niệm câu đố
Câu đố là một thể loại của văn học dân gian. Thuật ngữ câu đố được
dùng từ lâu và phổ biến trong dân gian với hàm nghĩa chỉ một loại hình sáng
tác của folklore. Câu đố không đơn thuần là một hiện tượng ngôn ngữ, nó
cũng không phải là một tác phẩm (tác phẩm hiểu theo nghĩa là một cấu trúc
nghệ thuật) có các yếu tố được sắp xếp theo bố cục nhất định nhằm thể hiện
một tư tưởng chủ đề nào đó, nhưng mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn
chỉnh được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng. Từ xưa Arítxtôt
đã sắp xếp câu đố vào lĩnh vực “Sự bắt chước có tính nghệ thuật”. Do vậy

pháp này xuất phát từ sự quan sát thấy những nét giống nhau giữa các sự vật
hiện tượng khách quan, giữa đồ vật (tức lời giải) với vật được miêu tả (tức
câu đố)”.
Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2000),
Văn học dân gian, NXB GD
 “Câu đố là một thể loại của văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ
phận lời đố và bộ phận lời giải; lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố
một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hóa để khó đoán nhận, lời giải
nêu vật đố, là những sự vật, hiện tượng có tính chất khái quát, phổ biến, ai
cũng từng hay, từng biết”.


Triều Nguyên (2010), Tìm hiểu về câu đố người Việt, NXB Khoa học
xã hội
• Trong cuốn “Câu đố Việt Nam” của Nguyễn Văn Trung (1999),
NXB TP Hồ Chí Mính tác giả lại phân ra theo hai hướng:
• Định nghĩa về mặt cấu tạo: “Câu đố có cấu trúc của một đối thoại
gồm 2 phần: lời đố và lời giải. Lời đố là một câu hỏi dưới hình thức: Tên vật
có những hình dáng, đặc điểm, công dụng này hay tên vật giống như vật được
nói ra là gì”.
• Định nghĩa về mặt xã hội: “Câu đố là một cuộc chơi, hình ảnh, từ và
ý nghĩa là một chơi chữ nhằm mục đích giải trí, vui vẻ nhưng là một giải trí
của tinh thần vì chủ yếu người chơi sử dụng trí tuệ, có phán đoán để suy luận.
Nói cách khác, câu đố là một bài toán, không phải là toán số mà là toán văn
học (vận dụng hình ảnh, chữ nghĩa) có một trình tự lí luận chặt chẽ và hợp lí
theo cách riêng của câu đố”.
Tóm lại những định nghĩa tuy có khác nhau về nội dung, cách diễn đạt
nhưng đều có đặc điểm chung là khẳng định câu đố là một thể loại văn học
dân gian phản ánh sự vật bằng sự vật bằng phương pháp dấu tên và nghệ thuật
chuyển hóa hay phát biểu ở dạng khác đi.

xử lý, người bình dân Việt Nam muốn hiểu biết, nắm vững, làm chủ những sự
vật ấy, và họ xem xét rất tỉ mỉ. Bằng thể loại câu đố họ đã thể hiện được
những nhận xét đó của mình đồng thời để giáo dục nhau nhận xét, hiểu biết sự
vât, sự việc hằng ngày chung quanh đời sống nông thôn, có liên quan đến sản
xuất.
+ Ngoài ra câu đố còn ra đời do nhiều nhu cầu khác nữa
Như vậy có thể nói câu đố cũng như nhiều thể loại văn học dân gian
khác được ra đời do nhu cầu sinh hoạt, lao động, nhu cầu nhận thức thế giới
xung quanh gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của cộng đồng.


1.2.2. Đối tượng phản ánh trong câu đố
Đối tượng phản ánh trong câu đố tức là những sự vật, hiện tượng được
được đưa ra để đố.
- Vật đố là những sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan. Phần lớn
những đối tượng đó là những sự vật, hiện tượng ở nông thôn có liên quan mật
thiết đến công việc lao động và sinh hoạt của người dân. Ta có thể sắp xếp
những đối tượng đó vào các loại sau:
+ Những đồ dùng lao động và sinh hoạt người dân Việt Nam:
Đó là cái cày, cái bừa, cái cuốc, cái liềm, gầu tát nước, cái cối giã gạo,
cối xay lúa, đôi quang gánh, cái vó, cái nơm, khung cửi, con thoi, con dao,
gương, lược, quần áo, ấm chén, bát, đũa, võng, phản, cái chổi, cái cào, đèn,
điếu, quạt, kéo,...
+ Những công việc lao động sản xuất, sinh hoạt ở nông thôn:
Như cấy lúa, tát nước, xay lúa, sàng gạo, dệt vải, chăn vịt, xâu kim, hút
thuốc, nhai trầu, kéo vó, trục lửa, ươm tơ, ăn cơm,...
+ Những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên:
Mưa, gió, sấm, sét, Mặt Trăng, Mặt Trời,...
+ Những loại cây quả như:
Cây lúa, ngô, khoai, chuối, lạc, cau, dừa, bưởi, tre, trầu không, quả na,

năng liên tưởng của mình. Ngược lại người giải đố cũng phải tiến hành những
thao tác tư duy tương tự.
Một trong những mẹo luật để tạo nên độ khó của các câu đố là phải phá
vỡ quy luật logic thông thường để tạo nên yếu tố bất ngờ. Nhiều câu đố hóc
hiểm, sau khi được giải khiến người ta phải “tâm phục, khẩu phục”. Ta có thể
dẫn ra một số câu đố dân gian thuộc dạng như vậy:


Bốn anh cùng ở một nhà
Cùng sinh một giáp, cùng ra một hình
Một anh thì đỗ Cống sinh
Một anh quỷ quái như tinh trong nhà
Một anh hôi hám xấu xa
Một anh ăn vụng cả nhà đều khinh
( Chuột cống, chuột nhắt, chuột chù, chuột đồng)
Chân cao lỏng ngỏng
Da đét tận xương
Hồn đi bốn phương
Chân còn để lại
( Nén nhang)
Miệng dưới biển, đầu trên non
Thân dài uốn lượn như con thằn lằn
Bụng đầy những nước trắng ngần
Nuốt tôm cá, nuốt cả thân tàu bè.
(Dòng sông)
Có thể nói, mỗi lần giải đố là mỗi lần con người phải tiến hành hoạt
động tư duy, và mỗi khi giải được đố, con người có thêm một nhận thức mới.
Điều này cũng giống như việc giải toán vậy. Vì thế, đố được coi là một hình
thức rèn luyện trí thông minh của con người, nhất là cho giới trẻ.
1.3.2. Tính giải trí

tượng xung quanh. Điều đó có nghĩa, đố tham gia vào việc giáo dục tri thức.
Từ đó, mối quan hệ giữa con người đối với thế giới cũng trở nên thân quen,
gần gũi. Xin nêu một ví dụ: Con dao là vật dụng rất cần thiết của con người
trong cuộc sống thường nhật, nhưng đôi khi chúng ta ít quan tâm tới nó,


không thấy hết tầm quan trọng của nó. Song, qua câu đố sau đây, chắc hẳn sự
nhận thức của chúng ta về vai trò, vị thế của con dao sẽ khác:
Có lưỡi mà chẳng có răng
Thứ mềm, thứ rắn nhai bằng sá gì
Nhai rồi chẳng nuốt tí chi
Nhường cho bạn hết, ngủ khì giá cao
Từ sự nâng cao nhận thức, con người có thêm mối quan hệ mật thiết
với môi trường tự nhiên, với thế giới đồ vật, tình cảm của con người, thái độ
sống của con người vì thế cũng được nâng cao một bước.
Những câu đố về đề tài lịch sử, về các danh nhân văn hóa giúp ta bồi
dưỡng lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc.
Ai từng đóng cọc trên sông
Đánh tan thuyền giặc, nhuộm hồng sóng xanh?
Vua nào thần tốc quân hành
Mùa xuân đại phá quân Thanh tơi bời?
Vua nào tập trận đùa chơi
Cờ lau phất trận một thời ấu thơ?
Vua nào thảo chiếu dời đô?
Vua nào chủ xướng hội thơ Tao Đàn?
(Ngô quyền, Quang Trung, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn, Lê Thánh
Tông)
Đố ai cũng khách thoa quần
Đạp luồng sóng dữ đuổi quân giặc thù
Cửu Chân nức tiếng ngàn thu

vạch ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình
nhận thức đó gọi là tư duy.
Tư duy là một quá trình tâm lí thuộc nhận thức lí tính, là một mức độ
nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Tư duy phản ánh những
thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật,
hiện tượng mà trước đó ta chưa biết. Quá trình phản ánh này là quá trình gián


tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực
tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm
tính.
Vậy tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện
tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.
Là một quá trình nhận thức lí tính điển hình, tư duy có những đặc điểm
sau:
- Tính “có vấn đề” của tư duy: Tư duy chỉ nảy sinh khi một tình huống
có vấn đề xuất hiện và cá nhân có khả năng giải quyết nó (nhận thức được vấn
đề, có nhu cầu và tri thức để giải quyết). Tình huống có vấn đề là tình huống
chứa đựng một mục đích mới, một vấn đề mới hoặc một cách thức giải quyết
mới mà những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ không còn đủ sức để
giải quyết, mặc dù vẫn cần thiết.
- Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Tư duy không phản ánh sự
vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ mà chỉ phản ánh cái chung, bản
chất cho nhiều sự vật, hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật và
hiện tượng riêng lẻ.
- Tính gián tiếp của tư duy: Tư duy phát hiện ra bản chất, quy luật của
sự vật, hiện tượng nhờ sử dụng công cụ, phương tiện (đồng hồ, nhiệt kế, máy
móc,…) và các kết quả nhận thức (quy tắc, công thức, quy luật,…) mà loài
người đã sáng chế ra, tìm ra cũng như sử dụng kinh nghiệm của chính mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status