Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động vẽ trang trí - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THUỲ

GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN QUA HOẠT ĐỘNG
VẼ TRANG TRÍ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động Tạo hình

Người hướng dẫn khoa học
VŨ LONG GIANG

HÀ NỘI, 2012


LỜI CẢM ƠN
Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu khóa luận này được sự giúp đỡ, chỉ
bảo tận tình của thầy Vũ Long Giang, chúng tôi đã từng bước tiến hành khóa
luận này với đề tài : “Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) qua
hoạt động vẽ trang trí”.
Qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Vũ Long Giang,
các giáo viên trường mầm non Hoa Sen, các thầy cô trong khoa Giáo dục
Tiểu học cùng các thầy cô trong trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều
kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy

1.1.

Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn ............................................... 6

1.1.1. Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày ............ 6
1.1.2. Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm
lý .................................................................................................................... 7
1.1.3. Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực
quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy lôgic ...................................... 8
1.2. Một số vấn đề về Giáo dục thẩm mỹ - Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu
giáo lớn.......................................................................................................... 8
1.2.1. Khái niệm Giáo dục Thẩm mỹ ........................................................... 8
1.2.2. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ................................................ 10
CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 19
GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN (5 – 6 TUỔI)..... 19


QUA HOẠT ĐỘNG VẼ TRANG TRÍ ...................................................... 19
2.1. Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo ..................... 19
2.1.1. Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ trang trí ................ 19
2.1.2. Nguồn gốc, bản chất của hoạt động tạo hình của trẻ em ................ 20
2.1.3. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho
trẻ 5 – 6 tuổi ................................................................................................ 21
2.1.4. Ý nghĩa của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho
trẻ ................................................................................................................ 22
2.1.5. Nhiệm vụ của hoạt động tạo hình cho trẻ lứa mầm non................. 23
2.2. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động vẽ trang trí 23
2.2.1. Vẽ trang trí........................................................................................ 23
2.2.1. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) qua hoạt động
vẽ trang trí .................................................................................................. 29

Trong điều 21, 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục
tiêu giáo dục mầm non “giáo dục mầm non thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của giáo dục mầm non là
giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những
yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”.
Như vậy, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục
quốc dân. Nó là nền móng ban đầu cho sự hình thành và phát triển nhân cách
trẻ em.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhân cách bắt đầu được hình thành khi chưa
hoàn toàn định hình nhưng nó có cơ sở tương đối ổn định trong việc tiếp tục
phát triển và hình thành nhân cách. Lúc này trẻ đặc biệt dễ dàng tiếp nhận
những ấn tượng từ phía bên ngoài mang tính hình tượng và giàu màu sắc cảm
xúc. Đó là những cái đẹp trong thiên nhiên, trong đời sống và trong nghệ
thuật. Một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ đều dễ gợi lên những
rung động trong lòng đứa trẻ. Đó chính là những cảm xúc thẩm mĩ - xúc cảm
về cái đẹp. Hơn nữa, tuổi mẫu giáo là thời kỳ nhạy cảm với cái đẹp xung
1


quanh, có thể coi đây là thời kỳ phát cảm của những xúc cảm thẩm mỹ những xúc cảm tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với
“cái đẹp”, tạo nên tinh thần sảng khoái khiến trẻ cảm thấy thiết tha với con
người và cảnh vật xung quanh, làm nảy nở ở trẻ lòng mong muốn làm những
điều tốt lành để đem niềm vui đến cho mọi người. Do những đặc điểm tâm lý
ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của giáo dục thẩm mỹ
và chính việc giáo dục thẩm mỹ lại có khả năng kỳ diệu tạo ra hiệu quả to lớn
đối với sự phát triển toàn diện nhân cách đặc biệt là giáo dục đạo đức và giáo
dục lòng nhân ái.
Ở trẻ mẫu giáo, mặt thẩm mỹ phát triển nhanh nhất. Bởi đặc trưng tâm lý
của giai đoạn này được biểu hiện ở tính hình tượng, tính dễ cảm xúc và tính
đồng cảm. Hơn thế nữa, bản thân sự phát triển thẩm mỹ dễ kéo theo sự phát

về vấn đề này như:
Tác giả Kazakova.T.C, Hãy phát triển tính sáng tạo ở trẻ mẫu giáo,
Matxcova, 1995.
L.X.Vưgotxki (1896 – 1995), Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu
nhi, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985.
Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về thẩm mỹ nói
chung và việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non nói riêng như:
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với Giáo dục cái đẹp trong gia đình, NXB
Phụ nữ (1984).
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ, NXB
Giáo dục, Hà Nội (1989).
Tác giả Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yến, mỹ học và giáo dục
thẩm mỹ, NXB Đại học Sư phạm (2006).
Đỗ huy, Giáo dục thẩm mỹ - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB
Thông tin lý luận ( 1987).

3


Trần thúy, Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, NXB Chính
trị quốc gia (2005).
Và nhiều công trình khác.
3. Mục đích nghiên cứu
Giáo dục thẩm mỹ là một nội dung không thể thiếu trong quá trình chăm
sóc – giáo dục trẻ mầm non. Nó có khả năng kì diệu tạo ra hiệu quả to lớn đối
với sự phát triển toàn diện nhân cách. Tìm hiểu đề tài này nhằm tìm ra những
biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao việc giáo dục thẩm mỹ – yêu thích cái
đẹp; Tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc, khám phá cái đẹp; Phát triển các
chức năng tâm lí như khả năng tri giác sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó
làm phát triển óc tưởng tượng sáng tạo, ham muốn tạo ra cái đẹp. Qua tìm

non

5


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo lớn
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm
non” – tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông. Ở giai đoạn này, những
cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt
là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục
của người lớn, những chức năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương
diện của hoạt động tâm lí (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc
xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người.
1.1.1. Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các
hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc
độ khá nhanh, và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụng
tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày. Sự hoàn thiện
tiếng mẹ đẻ ở trẻ mẫu giáo lớn theo các hướng sau:
- Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ
- Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp
- Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng nắm
được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người
lớn (tùy theo địa phương có giọng nói như thế nào thì trẻ sẽ nói theo như
vậy), biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc biệt là nói

tâm lí của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ.

7


1.1.3. Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực
quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy lôgic
Để đáp ứng với khả năng và nhu cầu phát triển của trẻ ở cuối tuổi mẫu
giáo cần phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan – hình tượng mới, đó là
kiểu tư duy trực quan – sơ đồ. Kiểu tư duy này tạo cho trẻ một khả năng phản
ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào hành động
hay ý muốn chủ quan của của bản thân đứa trẻ. Tuy tư duy trực quan – sơ đồ
vẫn giữ tính chất hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác
trước: hình tượng đã bị mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại
những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không
phải là từng sự vật riêng lẻ.
Tư duy trực quan – sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hội những
tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu được bản chất của sự vật.
Tư duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn đứa trẻ đến ngưỡng cửa của
tư duy trừu tượng, sẽ cho trẻ hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát mà sau này
sự hình thành khái niệm sẽ được tiến hành chủ yếu dựa trên đó.
Trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo có thể lĩnh hội được những khái niệm khoa
học đơn giản. Điều đó giúp trẻ thay đổi khá nhiều trong hoạt động tư duy của
chúng, biểu hiện ở sự nảy sinh các yếu tố tư duy lôgic, tất nhiên phải có một
sự dạy dỗ đặc biệt.
1.2. Một số vấn đề về Giáo dục thẩm mỹ - Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu
giáo lớn
1.2.1. Khái niệm Giáo dục Thẩm mỹ
Khái niệm Thẩm mỹ
Nói đến thẩm mỹ là nói đến cái đẹp. Cái đẹp là lĩnh vực vừa có tính bản

mỹ của con người, hình thành và phát triển con người, năng lực biết thưởng

9


thức, đánh giá và sáng tạo trên mọi mặt của cuộc sống theo quy luật của cái
đẹp.
Mỹ học Mác – Lê Nin cho rằng hoạt động thực tiễn của con người
chính là cơ sở hình thành quan hệ thẩm mỹ giữa con người với thế giới hiện
thực. Chính hoạt động mang tính xã hội này của con người đã hình thành một
loại năng lực chỉ có cở con người, đó là năng lực sáng tạo theo quy luật của
cái đẹp và xem xét mọi vật dưới góc độ thẩm mỹ nhờ đó mà con người đã tìm
thấy trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và trong nghệ thuật những giá trị
thẩm mỹ đa dạng và phong phú.
Như vậy, bản chất của giáo dục thẩm mỹ là nguyên tắc hoạt động sáng
tạo của con người theo quy luật của cái đẹp. Nghĩa là con người luôn hướng
tới những cái mới, cái tốt đẹp hơn.
1.2.2. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
* Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển
toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo.
Do những đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng
kim” của giáo dục thẩm mỹ.
Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục
đích vào nhân cách của các nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận
biết cái đẹp trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp
và đưa cái đẹp vào trong đời sống một cách sáng tạo.
Giáo dục thẩm mỹ có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, giáo
dục trí tuệ và giáo dục lao động.
- Với giáo dục đạo đức: Cảm xúc thẩm mỹ không những xây dựng trên

trình lao động có tác dụng tăng năng suất lao động. Qua việc tiếp xúc, khám
phá, tìm hiểu cái đẹp trẻ hứng thú và làm việc say mê, tích cực hơn. Sức khỏe
11


và phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp mắt và
có tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con người,
vẻ đẹp của thao tác, vận động của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối
với việc tập thể dục.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của giáo dục xã hội chủ
nghĩa, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn
diện.
* Nội dung giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo
Sự phát triển tri giác, tình cảm và khái niệm thẩm mỹ cho trẻ mẫu
giáo
Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự phát triển năng lực tri giác cái đẹp,
cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp. Đó là những rung cảm thẩm mỹ, những tình
cảm thẩm mỹ.
Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là nhận thức cảm tính cụ thể về mặt thẩm
mỹ. Nhìn và nghe là cơ sở đầy đủ về phương diện tâm lý, sinh lý để tri giác cái
đẹp. Ngay từ những năm đầu trẻ đã bị lôi cuốn một cách vô thức vào tất cả
những gì sống động, sặc sỡ hấp dẫn… qua những bài hát và bức ảnh. Song đó
chưa phải là tình cảm thẩm mỹ mà chỉ là sự biểu hiện ra của hứng thú nhận
thức. Vì vậy, giáo dục thẩm mỹ là giúp trẻ diễn ra quá trình chuyển từ quá trình
nhận thức bản năng sang sự tri giác có ý thức về cái đẹp. Cần làm cho trẻ chú ý
đến những sư vật, hiện tượng của tự nhiên, đến những hành vi của con người,
dạy cho các em biết nhìn ra và phát triển được cái đẹp trong đời sống, trong
thiên nhiên, lao động, trong hành vi và hành động của con người, dạy cho các
em biết về phương diện thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh, giáo dục tình
cảm thẩm mỹ cho trẻ trong việc rèn luyện thị hiếu thẩm mỹ sau này.

của tâm hồn trẻ. Vì vậy, để phát triển óc sáng tạo cho trẻ cần có quá trình dạy
học để giúp trẻ cách diễn đạt hình tượng và mô tả chủ định khi ca, hát, vẽ, kể
chuyện…thức dậy ở trẻ những biểu hiện có ý thức về nghệ thuật, gây ra cảm
13


xúc tích cực và phát triển năng lực. Mục đích của việc dạy kỹ năng, kỹ xảo
hoạt động nghệ thuật không chỉ giúp trẻ có tri thức và kỹ xảo về ca, hát, vẽ
mà còn gây ở trẻ hứng thú, hoạt động đôc lập, sáng tạo, sẽ đem lại niềm vui
trong cuộc sông của trẻ, trong tập thể và gia đình.
Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ
Sự cảm thụ cái đẹp có liên hệ mật thiết đến năng lực đánh giá cái đẹp
một cách đúng đắn. Thị hiếu thẩm mỹ của con người luôn được biểu hiện ở sự
phán đoán đánh giá.
Cần dạy cho các em phân biệt cái đẹp với cái không đẹp, cái thô kệch
và cái xấu xí. Giáo dục cho các em năng lực trình bày lí do tại sao lại thích
bức tranh này, bài hát này, tại sao lại thấy đẹp, tại sao lại thấy không đẹp…
Hình thành cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc tìm hiểu các tác
phẩm cổ điển của thiếu nhi, tìm hiểu âm nhạc, hội họa. Trẻ học cách nhận
biết, yêu mến các tác phẩm nghệ thuật chân chính.
Dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ cái đẹp trong cuộc sống xung quanh và
biết bảo vệ nó. Ví dụ: một bông hoa đẹp trong khóm hoa, một lớp học đẹp và
ấm cúng, sạch sẽ…đều là những cái đẹp trong cuộc sống, phải biết bảo vệ và
chăm sóc, giữ gìn, nâng niu.
* Những phương tiện cơ bản để giáo dục thẩm mỹ
Phương tiện cơ bản để giáo dục thẩm mỹ ở trường mẫu giáo gồm 3
phương diện:
Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ (vẻ đẹp trong sinh hoạt hàng
ngày)
Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ là những bức tường của ngôi nhà

thể trong trò chơi của trẻ.

15


Trong các ngày hội, ngày lễ, trong những cuộc thao diễn thể dục thể
thao, cảnh trí tấp nập của đường phố, cờ, hoa, những đoàn tuần hành của nhân
dân cũng để lại cho trẻ những ấn tượng sâu sắc.
Cuộc sống xung quanh trẻ còn là những đường phố, những đài kỷ niệm
các di tích lịch sử, các quảng trường lịch sử, đều là những nhân tố tích cực
góp phần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Trong các cuộc tham quan, cô giáo phải
chọn lựa để giới thiệu mở rộng tầm nhìn và sự cảm thụ thẩm mỹ cho trẻ.
Thiên nhiên của quê hương, đất nước là một phương tiện mạnh mẽ
để giáo dục thẩm mỹ, vẻ đẹp thiên nhiên trong thời thơ ấu được cảm thụ rất
sâu sắc và trong sáng, nó giữ lại trong tình cảm, tư tưởng và giữ lại mãi mãi
trong suốt cuộc đời
Bé Cẩm Thơ tả lại cảnh trời mưa:
Cây đứng vẫy mưa đến
Hoa cà chua cười
Bầu nập treo hứng nước
Lá lim gội đầu
Lá mít rửa mặt
Lá dứa được mưa vuốt
Sạch ghê.
Cô giáo phải biết mở ra cho các em thế giới tự nhiên, dạy cho trẻ biết
nhìn vẻ đẹp của buổi bình minh, màu sắc của buổi hoàng hôn, biết lắng nghe
tiếng chim hót, tiếng lá rơi xào xạc, tiếng suối chảy róc rách; Cô biết tạo cảm
xúc cho trẻ trong các buổi dạo chơi, tham quan, làm cho trẻ yêu mến cảnh đẹp
thiên nhiên của quê hương, đất nước.
Nghệ thuật

tích…). Do đó, cô giáo cần phải giải thích nội dung tác phẩm đang được tiếp
thu, làm chính xác biểu tượng của các em. Việc trình bày một cách nghệ thuật
những tác phẩm âm nhạc, những ca khúc…có tác động trực tiếp khêu gợi tình

17


cảm và xúc cảm thẩm mỹ, giúp các em hiểu sâu hơn nội dung và hình thức
của tác phẩm.
+ Khi sử dụng phương pháp trò chuyện bằng câu hỏi của mình, cô giáo
làm cho trẻ lưu ý, suy nghĩ về những điểm chủ yếu, tìm hiểu và huy động
kinh nghiệm của trẻ, làm sâu sắc những xúc cảm thẩm mỹ của trẻ. Trong khi
trò chuyện, tập cho trẻ nói lên những ấn tượng của mình, bày tỏ thái độ của
mình với tác phẩm và các hiện tượng trong cuộc sống. Khi trò chuyện phải
dùng từ xúc cảm thẩm mỹ của trẻ đối với tác phẩm nghệ thuật để trẻ học theo,
làm theo, bắt chước theo.
Khi dạy trẻ vẽ, nặn, hát, múa, cô truyền đạt cho trẻ những tri thức cần
thiết và hình thành những kỹ năng nhất định. Bởi vậy, cần vận dụng phương
pháp tập luyện để trẻ hiểu những thao tác, cách biểu hiện, cách sử dụng đồ
dùng học tập (bút chì, bút lông...) cô cần dùng các biện pháp chỉ dẫn, làm
mẫu.

18


CHƯƠNG 2
GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN (5 – 6 TUỔI)
QUA HOẠT ĐỘNG VẼ TRANG TRÍ

2.1. Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status