TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
−−−−−***−−−−−
LA THỊ BÍCH NGỌC
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC
THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ TẠI
CÁC TRƢỜNG MẦM NON THUỘC KHU VỰC
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS ĐỖ XUÂN ĐỨC
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ
cho trẻ mẫu giáo bé tại các trường mầm non thuộc khu vực thành phố Vĩnh
Yên – Vĩnh Phúc” và đã hoàn thành.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Th.s Đỗ
XuânĐức – ngƣời đã tận tâm giúp đỡ hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong các
trƣờng mầm non Hoa Sen, trƣờng mầm non Ngô Quyền, Trƣờng mầm non
Đống Đa đã giúp em thực hiện khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận.
GDTM
2
NXB
Từ viết tắt đầy đủ
Giáo dục thẩm mỹ
Nhà xuất bản
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 3
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu .......................................................... 3
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................................... 4
6. Giả thiết khoa học ..................................................................................... 4
7. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 4
8. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................... 4
9. Kế hoạch nghiên cứu ................................................................................. 5
10. Cấu trúc khóa luận .................................................................................. 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ ............................ 6
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ - GIÁO DỤC
THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO ............................................................ 6
1.1.1. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ............................................... 6
1.1.1.1. Khái niệm trẻ em ...................................................................... 6
cho trẻ mẫu giáo bé ................................................................................. 28
2.2.5 Thực trạng về chất lƣợng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
bé trong các trƣờng mầm non ................................................................. 33
CHƢƠNG 3. NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ EM LỨA
TUỔI MẪU GIÁO BÉ .................................................................................... 35
3.1 NGUYÊN NHÂN ................................................................................. 35
3.2 GIẢI PHÁP ........................................................................................... 37
3.2.1 Nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực giáo dục của mỗi giáo
viên .......................................................................................................... 37
3.2.2 Nâng cao nhận thực đội ngũ cán bộ quản lí ................................... 37
3.2.3 Đầu tƣ kinh phí cho các hoạt động giáo dục.................................. 38
3.2.4 Đổi mới phƣơng pháp và nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
mẫu giáo bé ............................................................................................. 38
3.2.5 Với phụ huynh ................................................................................ 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 43
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 44
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói chăm sóc, giáo dục cho trẻ em ngay từ những năm tháng đầu
tiên của cuộc sống là một việc làm vô cùng có ý nghĩa và quan trọng trong sự
nghiệp trồng ngƣời, góp phần đào tạo và bồi dƣỡng nhƣng mầm non tƣơng lai
của đất nƣớc.Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền đƣợc
chăm sóc, bảo vệ, đƣợc tồn tại, đƣợc chấp nhận trong gia đình và cộng đồng.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
hoạt động và nhiều hình thức khác nhau.
Nhƣ vậy giáo dục thẩm mỹ là một nội dung không thể thiếu trong quá
trình chăm sóc – giáo dục cho trẻ mầm non. Nó có khả năng kỳ diệu tạo ra
hiệu quả to lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo.
Với tƣ cách là giáo viên mầm non tƣơng lai tôi nhận thấy rằng việc giáo
dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo là rất cần thiết. Do vậy để nâng cao chất lƣợng
giáo dục thẩm mỹ, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu Giáo dục và Đào tạo
tôi đi vào tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ở các trƣờng
mầm non thành phố Vĩnh Yên. Tuy nhiên do thời gian có hạn tôi chỉ đi vào tìm
hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo bé.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ:
C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, T1, NXB Sự Thật, Hà Nội (1980) đã
đƣa ra quan điểm về cái đẹp: Cái đẹp không chỉ là thƣớc đo hoạt động của
con ngƣời mà còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất con ngƣời.
Tác giả Kazakova.T.C- Hãy phát triển tính sáng tạo ở trẻ mẫu giáoMatxcova, 1995.
2
L.X. Vƣgotxki (1896 – 1955), Trí tưởng tượng và sáng tạo của lứa tuổi
thiếu nhi. NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 1985.
Các công trình nghiên cứu về tâm lý học khẳng định: “Tính hình tƣợng,
tính dễ cảm xúc và tính đồng cảm tạo nên đặc trƣng ở lứa tuổi mẫu giáo”.
(A.V.Daparojets)
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về thẩm
mỹ nói chung và việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non nói riêng nhƣ:
Tác giả Tào Văn Ân - Trƣờng Đại học Cần Thơ với cuốn Thẩm Mỹ
học đại cƣơng.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ, NXB
trƣờng mầm non thuộc khu vực thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chỉ ra nguyên nhân đề xuất một số biện pháp để khác phục và nhằm
nâng cao chất lƣợng của giáo dục thẩm mỹ.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Phƣơng pháp đọc sách
8.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Phƣơng pháp đọc sách.
Phƣơng pháp quan sát.
Phƣơng pháp điều tra.
Phƣơng pháp phỏng vấn.
4
9. Kế hoạch nghiên cứu
Tháng 10 – 11: Lựa chọn đề tài và lập đề cƣơng nghiên cứu đề tài.
Tháng 12 – 1: Tìm hiểu cơ sở lý luận
Tháng 1 – 3: Điều tra, phỏng vấn, thu thập thông tin, số liệu. Xử lý
số liệu.
Tháng 3 – 5: Hoàn thành đề tài nghiên cứu và bảo vệ
10. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, và tài liệu tham khảo, nội
dung chính của khóa luận bao gồm:
Chƣơng 1: Một số vấn đề giáo dục thẩm mỹ
Chƣơng 2: Thực trạng GDTM cho trẻ mẫu giáo bé ở một số trƣờng
mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Chƣơng 3: Nguyên nhân và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo bé
thu nhận đƣợc trong thời thơ ấu. Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu
nhận đƣợc chỉ đáng một phần trăm những thứ đó mà thôi.
1.1.1.3 Khái niệm thẩm mỹ
Quan điểm về thẩm mỹ (Cái đẹp) đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử xã
hội loài ngƣời nói chung và trong triết học nói riêng. Đã có rất nhiều những
quan điểm của các nhà Mỹ học về cái đẹp.
Theo Mác: “Cái đẹp không chỉ là thƣớc đo hoạt động của con ngƣời mà
còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất ngƣời”. Mác viết “Súc vật chỉ nhào nặn vật
chất theo thƣớc đo giống loài nó, còn con ngƣời thì có thể áp dụng thƣớc đo
và thích dụng cho mọi đối tƣợng, do đó con ngƣời cũng nhào nặn vật chất
theo quy luật của cái đẹp” (C. Mac. Ănghen. Tuyển tập, T1, NXB Sự thật, Hà
Nội 1980, trang 19).
Nhƣ vậy, thẩm mỹ (cái đẹp) gắn bó với bản chất sáng tạo của con
ngƣời, gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mĩ. Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự
cân đối trong đời sống vật chất lẫn tinh thần.
1.1.1.4 Khái niệm GDTM cho trẻ em mẫu giáo
GDTM cho trẻ mẫu giáo là một quá trình sƣ phạm nhằm hình thành và
phát triển ở trẻ em năng lực ban đầu về cảm thụ và nhận biết đúng đắn cái đẹp
trong tự nhiên, trong đời sống sinh hoạt xã hội và trong nghệ thuật, giáo dục
trẻ lòng yêu cái đẹp, sống theo cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp trong cuộc sống.
GDTM là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện đối
với thế hệ trẻ và cần đƣợc tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo. Do những đặc
điểm tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “Hoàng kim” của GDTM.
GDTM là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân
cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong
7
dụng cụ lao động…có ảnh hƣởng lớn tới tinh thần làm việc, nâng cao năng
suất lao động. Sức khỏe và sự phát triển thể lực tốt, tƣ thế đẹp, tác phong
nhanh nhẹn bao giờ cũng có cảm giác đẹp mắt. Mặt khác, sự rèn luyện cơ thể
bao giờ cũng tiêu chuẩn của cái đẹp: Cơ thể phát triển cân đối, da dẻ, hồng
hào, tƣ thế tác phong đúng đắn, uyển chuyển…biểu hiện một tâm hồn lạc
quan yêu đời, tích cực tham gia vào vui chơi, học tập lao động.
Với những ý nghĩa trên, giáo dục thẩm mỹ góp phần quan trọng vào
việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện. Vì vậy cần tiến hành giáo
dục thẩm mỹ cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non. Ở trẻ em ngay từ khi chƣa
biết nói, trẻ đã rất thích ngắm nhìn đồ vật có màu sắc, lắng nghe những âm
thanh êm dịu ở xung quang, những lời ru ngọt ngào của mẹ… Đây là điều
kiện thuận lợi để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ngay từ nhỏ.
1.1.2 Nhiệm vụ, nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
1.1.2.1 Phát triển tri giác thẩm mỹ, khái niệm thẩm mỹ và tình cảm thẩm mỹ
cho trẻ
Khi nói tới đặc điểm của trẻ mẫu giáo, nhà thơ Tố Hữu có nhận định
“Trẻ mẫu giáo giàu tình cảm, giàu tưởng tượng và thích cái đẹp” thực vậy cái
đẹp sớm đi vào cuộc sống của tuổi thơ. Ngay từ nhỏ trẻ đã chăm chú ngắm
nhìn những đồ vật xung quanh có màu sắc tƣơi sáng, nghe những âm thanh
êm dịu xung quanh không biết chán, khi lớn lên một chút trẻ thích ngắm nhìn
hoa lá trong vƣờn, ngắm nhìn những con vật với màu sắc, hình thù đa dạng,
thích nghe truyện cổ tích, xem tranh ảnh, song đó chƣa phải là tình cảm thẩm
mỹ mà mới chỉ là thể hiện sự hứng thú nhận thức. Nhiệm vụ của giáo dục
thẩm mỹ là làm cho trẻ biết chú ý đến các sự vật hiện tƣợng của tự nhiên, đến
những hành vi cử chỉ của con ngƣời, dạy cho trẻ biết nhìn và nhìn thấy cái
đẹp trong đời sống, trong thiên nhiên, trong lao động và trong hành vi của con
9
bài hát, bức tranh, câu chuyện cổ tích này hay nhân vật nào trong truyện cổ
tích này hay nhân vật nào đó trong tác phẩm. Việc cho trẻ tự nói lên những
nhận xét đánh giá có ý nghĩa lớn đối với việc giáo dục trẻ có thái độ tự giác
hơn đến đối tƣợng và thƣởng thức đối tƣợng sâu sắc hơn, giáo dục ý thức
thẩm mỹ cho trẻ. Tất nhiên ở trƣờng mầm non, đây mới chỉ hình thành những
cơ sở ban đầu của việc đánh giá thẩm mỹ cho trẻ. Bƣớc đầu giúp trẻ nhận ra
cái đẹp, phân biệt cái đẹp với cái xấu xí trong hiện thực, biết tạo ra cái đẹp.Về
thị hiếu thẩm mỹ ở mỗi trẻ em có khác nhau, thậm chí có trái ngƣợc nhau. Vì
vậy trong việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho trẻ, ngƣời lớn cần tôn trọng và
phát huy ý thích thẩm mỹ lành mạnh ở trẻ, tránh gò bó, áp đặt làm chui chột
óc thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ ở trẻ em.
Để góp phần hình thành những cơ sở thị hiếu thẩm mỹ ban đầu cho trẻ,
cô giáo mầm non có thể thực hiện thông qua việc cho trẻ tìm hiểu các tác phẩm
nghệ thuật, qua việc cho trẻ cảm thụ cái đẹp ở cuộc sống xung quanh. Cô giáo
hƣớng dẫn trẻ biết nhận ra cái đẹp, phân biệt cái xấu, biết bảo vệ cái đẹp.
1.1.2.3 Phát triển hứng thú và khả năng sáng tạo nghệ thuật
Khi nói tới nhiệm vụ này, M.K. Crupxcaia viết: “Cần phải làm thế nào
để trẻ không chỉ cảm thụ mà phải hành động, không chỉ bắt chƣớc mà còn
sáng tạo”. Năng lực sáng tạo nghệ thuật không phải trẻ em sinh ra đã có mà
nó đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục và giảng dạy. Và
mọi trẻ em bình thƣờng đều có khả năng sáng tạo nghệ thuật nếu đƣợc hƣớng
dẫn đúng đắn về mặt sƣ phạm. Vì vậy cần phát triển hứng thú và sáng tạo
nghệ thuật ở mọi trẻ. Đây là một nhiệm vụ khó khăn vì nghệ thuật là một hình
thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng những hình tƣợng sinh động cụ thể, gợi cảm
để phản ánh hiện thực và truyền đạt tƣ tƣởng tình cảm. Song đối với trẻ mẫu
giáo, chúng rất yêu thích các hình thức nghệ thuật và có thể tiếp thu hầu hết
11
rào của gió, tiếng chảy róc rách của dòng suối, rồi vẻ đẹp của những ngƣời lao
động trong thiên nhiên, gợi cho trẻ biết chú ý đến cái đẹp, phát hiện ra cái đẹp
để khêu gợi và phát triển ở trẻ những cảm xúc thẩm mỹ, lòng yêu thích thiên
nhiên.
Vẻ đẹp của hoàn cảnh vật chất xung quanh trẻ: Đó là việc sắp xếp hợp
lý gọn gàng, ngăn nắp, trang trí hài hòa đẹp mắt nơi ăn ngủ, học tập của trẻ.
Giáo viên có nhiệm vụ tạo ra vẻ đẹp trong trƣờng lớp (sắp xếp, trang trí hợp
lý) hƣớng dẫn trẻ nhận ra cái đẹp, biết bảo vệ, giữ gìn cái đẹp và tạo ra cái
đẹp.Phong thái bề ngoài của mọi ngƣời xung quanh cũng có ảnh hƣởng tới
việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Vẻ đẹp bề ngoài của con ngƣời nhƣ hình thức
ăn mặc gọn gàng, giản dị, đẹp mắt, cách nói năng dịu dàng, thái độ hòa nhã,
cởi mở với mọi ngƣời xung quanh đều là những phƣơng tiện giáo dục thẩm
mỹ quan trọng. Trƣớc hết giáo viên mầm non phải là một tấm gƣơng về thái
độ, hành vi cử chỉ, cách ăn mặc nói năng, cƣ xử có văn hóa với mọi ngƣời
xung quanh cho trẻ noi theo. Trong cuộc sống hàng ngày cô giáo cần biết sử
dụng những tấm gƣơng của bạn bè về cách ăn mặc, nói năng, cƣ xử lịch sự để
giáo dục cho trẻ biết quan tâm tới những cái đẹp đó, qua đó học tập tạo ra cái
đẹp cho chính mình.
1.1.3.2 Thông qua việc sử dụng các tác phẩm nghệ thuật
Các tác phẩm nghệ thuật nhƣ văn học, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh,
sân khấu là những phƣơng tiện toàn diện phong phú và vô tận để giáo dục
thẩm mỹ cho trẻ qua các tác phẩm này giúp trẻ nhận ra vẻ đẹp thiên nhiên đất
nƣớc, vẻ đẹp của cuộc sống của nhân cách con ngƣời. Trẻ mầm non rất thích
đƣợc nghe, đƣợc xem các tác phẩm nghệ thuật. Do đó nhiệm vụ của giáo viên
mầm non là phải biết lựa chọn các tác phẩm nghệ thuật phù hợp với nhận thức
của trẻ, phù hợp với tâm lý của trẻ để hƣớng dẫn giúp trẻ cảm thụ đƣợc tính
13
4) Nhóm các phƣơng pháp dùng trò chơi
Các phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong sự phối hợp thống nhất với
nhau:
- Tổ chức quan sát là giúp trẻ nhận ra vẻ đẹp của cuộc sống, của thiên
nhiên. Cô giáo thƣờng hƣớng dẫn các em quan sát một vƣờn hoa, cảnh hoàng
hôn đầy màu sắc, khung cảnh một ngày lễ, sự cảm thụ của trẻ có sự hƣớng
dẫn và kết hợp với ngôn ngữ nghệ thuật làm tăng cƣờng cảm thụ thẩm mỹ và
làm cho trẻ nhận ra các đẹp yêu thích cái đẹp.
- Những cảm xúc thẩm mỹ trẻ nên sâu sắc, có ý thức và giữ đƣợc lâu
hơn nếu nhƣ trẻ hiểu rõ nội dung tác phẩm.
Do đó cô giáo cần phải giải thích nội dung tác phẩm đang đƣợc tiếp
thu, làm chính xác các biểu tƣợng của các em. Việc trình bày một cách nghệ
thuật những tác phẩm âm nhạc, những ca khúc, việc đọc các tác phẩm văn học
nghệ thuật tác động trực tiếp đến trẻ, khêu gợi tình cảm và cảm xúc thẩm mỹ,
giúp các em hiểu sâu sắc hơn nội dung và hình thức tác phẩm.
- Khi sử dụng phƣơng pháp trò chuyện, bằng những câu hỏi của mình
cô giáo làm cho trẻ chú ý, suy nghĩ về những điểm chủ yếu, tìm hiểu và tổ
chức kinh nghiệm của trẻ. Làm sâu sắc cảm xúc của trẻ.Trong khi trò chuyện
tập cho trẻ nói lên những cảm xúc của trẻ, bày tỏ thái độ của mình đối với tác
phẩm và hiện tƣợng trong cuộc sống.
- Khi dạy trẻ vẽ nặn, hát, múa, cô truyền đạt cho trẻ những kiến thức
cần thiết và hình thành kĩ năng nhất định. Bởi vậy cần vận dụng phƣơng pháp
tập luyện.
15
1.1.4.3 Hệ thống phƣơng pháp giáo dục thẩm mỹ đƣợc xây dựng trên
cơ sở mục đích và nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ, do N.A Vetlugina đề ra
một bƣớc phát triển mới, có tác dụng tích cực trong giáo dục thẩm mỹ:
nhận thức. cần thuyết phục không chỉ bằng tác động trực tiếp với tình cảm do
các hình tƣợng nghệ thuật đó, các âm thanh màu sắc, các lời lẽ của thơ ca gây
ra mà còn phải dựa vào ý thức của trẻ, hƣớng vào sự quan sát độc lập. Các
phƣơng pháp cơ bản đều nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ phân biệt xúc
cảm cái đẹp trong môi trƣơng xung quanh với mục đích ấy cần kết hợp sự áp
dụng sự kết hợp khác nhau giữa các biện pháp dùng lời và các biện pháp trực
quan tổ chức sự quan sát có mục đích dựa vào xúc giác, thị giác, tính giác,
cảm xúc giác. Những giai điệu âm thanh, những tài liệu có hình ảnh và màu
sắc độc đáo lôi cuốn và kích thƣớc trẻ hành động sáng tạo.
- Trong giáo dục thẩm mỹ cũng rất cần dùng phƣơng pháp luyện tập
hành động. Có thể gọi đó là những hành động thẩm mỹ, ở trẻ có những hành
động với ý thức muốn làm cho hoàn cảnh sống xung quanh đẹp hơn, tức là trẻ
muốn nó biến đổi nó theo sức mình và cách đó làm cho bạn bè và ngƣời lớn
vui thích. Cần giúp trẻ luyện tập hành động thông qua các bài tập khác
nhau.Tập luyện phải đòi hỏi sự lặp đi lặp lại nhiều lần. Nhƣng khác với việc
luyện tập các thói quen trong sinh hoạt, việc tập luyện những hành động thẩm
mỹ không theo trình tự chặt chẽ. Vì vậy cần giáo dục và phát triển năng lực
hành động trong những hoàn cảnh có vấn đề, năng lực vận dụng những kỹ
năng đã nắm đƣợc.
Trong giáo dục thẩm mỹ hoạt động chủ yếu của trẻ là hoạt động nghệ
thuật. Điều quan trọng là trẻ tiếp xúc với những phƣơng thức hoạt động nghệ
thuật khái quát nhất, điển hình nhất tức là phƣơng thức hoạt động nghệ thuật
khái quát nhất, điển hình nhất, tức là phƣơng thức cần nhất cho mọi biến thể
của các loại hình hoạt động nghệ thuật. Những phƣơng thức chung đó là:
17
Những phƣơng thức định hƣớng âm thanh, màu sắc, hình dạng vận động,
những phƣơng thức định hƣớng trong toàn bộ những phƣơng tiện thể hiện của