BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Mỹ Liên
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON TẠI CÁC
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN TÂN BÌNH THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Mỹ Liên
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON TẠI CÁC
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN TÂN BÌNH THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGÔ ĐÌNH QUA
-2011…………………………………………………………….57
Bảng 2.4 : Số liệu trường, lớp, học sinh từ năm 2006-2010 (6/2010)…….. 59
Bảng 2.5 : Số học sinh mầm non ra lớp năm học 2010-2011 (t5/2011)……59
Bảng 2.6 :Thống kê tình hình đội ngũ cấp dưỡng năm học 2010-2011…...60
Bảng 2.7 :Xây dựng trường lớp mầm non quận Tân Bình từ năm học
2006-2011………………………………………………………..63
Bảng 2.8 : Điểm trung bình đánh giá một số nội dung của cán bộ quản lý
và giáo viên về thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu giáo dụ.. 67
Bảng 2.9 :Thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung chươngtrình
giáo dục……………………………………………………….70
Bảng 2.10 :Thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung chương trình
giáo dục …………………………………………………..........72
Bảng 2.11 : Thực trạng quản lý việc đổi mới hình thức tổ chức
giáo dục ……………………………………………………….75
Bảng 2.12 : Điểm trung bình đánh giá của GV & cán bộ QLGD
về việc quản lý thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục………78
Bảng 2.13 : Tỉ lệ % ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên về việc Hiệu
trưởng
quản lý cơ sở vật chất thực hiện chương trình giáo dục……….82
Bảng 2.14 : Trình độ chuyên môn của giáo viên mầm non quận Tân Bình..85
Bảng 2.15 : Sĩ số trẻ ở mỗi lớp và số lớp tương ứng.................................…86
Bảng 2.16 : Thực trạng quản lý chế độ làm việc của giáo viên ở trường......88
Bảng 2.17 : Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện
chương trình…………………………………………..……….89
Bảng 2.18 : Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện
chương trình giáo dục mầm non………………………………...91
2.1. Mô tả công cụ dùng để khảo sát thực trạng ........................................ 56
2.1.1. Cơ sở lý luận giáo dục ................................................................................56
2.1.2. Cơ sở khoa học quản lý ..............................................................................56
2.2. Mẫu khảo sát .......................................................................................... 57
2.2.1. Chọn mẫu ....................................................................................................57
2.2.2. Tính đại diện của mẫu.................................................................................58
2.3 Khái quát thục trạng giáo dục mầm non quận Tân Bình, thành phố
Hồ Chí Minh năm học 2010-2011 ................................................................ 58
2.3.1 Một số nét về quận Tân Bình .......................................................................58
2.3.2 Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý ngành giáo dục mầm non Tân Bình 61
2.3.3 Thực trạng về đội ngũ giáo viên mầm non. .................................................63
2.3.4 Thực trạng về chất lượng chăm sóc giáo dục ..............................................64
2.3.5 Thực trạng về điều kiện thực hiện chương trình giáo dục ...........................68
2.4 Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non
tại các trường mầm non quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh ......... 70
2.4.1 Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu giáo dục .........................................72
2.4.2 Thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung chương trình giáo dục mầm
non mới của hiệu trưởng các trường mầm non quận Tân Bình ............................75
2.4.3 Thực trạng quản lý đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục 79
2.4.4 Thực trạng quản lý điều kiện thực hiện chương trình giáo dục ...................86
2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện chương trình. ...............93
2.4.6. Những thuận lợi và những khó khăn của Hiệu trưởng trong công tác quản
lý việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non tại quận Tân Bình, thành phố
Hồ Chí Minh .........................................................................................................96
giáo dục mẫu giáo.
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam- Dự thảo lần thứ mười bốn
ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2008 nêu rõ lộ trình thực hiện trong giai đọan
2 (2011-2015) tập trung vào một số trọng điểm, trong đó có nội dung: “Triển
khai chương trình Giáo dục mầm non mới”. Do đó, năm học 2010-2011,
chương trình Giáo dục mầm non mới hầu như đã được thực hiện trên toàn
quốc.
Chương trình Giáo dục mầm non mới có nhiều ưu điểm vượt
trội, phù hợp đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non, phù hợp với xu thế phát
triển của giáo dục thế giới. Giáo viên mầm non là lực lượng trực tiếp thực
hiện chương trình. Nhưng để biến những ưu điểm đó trở thành hiện thực,
mang lại hiệu quả tích cực trong giáo dục mầm non thì không thể không tính
đến vai trò người quản lý, hiệu trưởng trường mầm non.
Thực tế, do chương trình mới có nhiều đổi mới khác biệt so với
chương trình cũ, nên có nhiều giáo viên còn lúng lúng khi thực hiện chương
trình mới (Chương trình cũ là chương trình Chăm sóc giáo dục trẻ được ban
hành theo quyết định số 1362/GD và ĐT ngày 31/05/1994 của Bộ Gíao Dục
và Đào Tạo). Vì vậy, Hiệu trưởng trường mầm non gặp nhiều khó khăn trong
việc quản lý thực hiện chương trình mới.
Nói đến chất lượng chăm sóc giáo dục ở trường mầm non là nói đến
công tác nuôi và dạy. Nói đến công tác nuôi và dạy ở trường mầm non là nói
đến việc thực hiện chương trình giáo dục. Nâng cao chất lượng thực hiện
chương trình giáo dục chính là nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở
trường mầm non. Muốn nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, yếu tố
quản lý việc thực hiện chương trình phải được đưa lên hàng đầu. Quản lý việc
thực hiện chương trình Giáo dục mầm non đạt hiệu quả tốt, thầy dạy tốt, tất
Tuy nhiên, công tác trên có thể còn có mặt hạn chế ở nội dung sau:
quản lý công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện chương trình.
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý việc thực hiện chương trình giáo
dục mầm non của Hiệu trưởng các trường mầm non .
Khảo sát thực trạng công tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo
dục mầm non tại các trường mầm non Quận Tân Bình thành phố Hồ Chí
Minh.
Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần cải tiến công tác quản lý việc
thực hiện chương trình giáo dục mầm non.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.Cơ sở của phương pháp luận
-Quan điểm hệ thống- cấu trúc
Là cách thức nghiên cứu đối tượng như một hệ thống toàn vẹn, phát
triển động, tự hình thành và phát triển thông qua việc giải quyết mâu thuẫn
nội tại do sự tương tác hợp quy luật của các thành tố tạo ra. Qua đó phát hiện
các yếu tố sinh thành, yếu tố bản chất, lôgic phát triển của đối tượng trở
thành hệ toàn vẹn, tích hợp mang chất lượng mới.
-Quan điểm lịch sử
Xác định thời gian từ lúc bắt đầu triển khai việc thực hiện chương trình
giáo dục mầm non là năm học 2005-2006, xác định thực trạng quá trình quản
lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non của Hiệu trưởng trường
mầm non Quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh vào năm học thứ sáu tức là
năm học 2010-2011. Từ đó thấy được mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và
tương lai của đối tượng nghiên cứu.
-Quan điểm thực tiễn
Trong quá trình nghiên cứu phải bám sát thực tiễn. Thực tiễn giáo dục
là nguồn gốc, động lực, tiêu chuẩn và mục đích của toàn bộ quá trình nghiên
- Nội dung điều tra: xây dựng bộ câu hỏi trao đổi, phỏng vấn Ban Giám
hiệu, giáo viên xoay quanh việc quản lý, thực hiện chương trình phục vụ cho
việc tìm hiếu đánh giá thực trạng tại các trường mầm non quận Tân Bình
thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2010-2011.
*Bước 1: Xây dựng bộ công cụ điều tra gồm 2 mẫu phiếu thăm dò ý kiến
-Mẫu 1: Phiếu điều tra dành cho cán bộ quản lý trường mầm non (45 phiếu
phát ra, 45 phiếu thu vào, đạt tỉ lệ 100%)
-Mẫu 2: Phiếu điều tra dành cho giáo viên trường mầm non (342 phiếu phát
ra, 342 phiếu thu vào, đạt tỉ lệ 100%)
Các phiếu điều tra tập trung vào tìm hiểu thực trạng việc quản lý và
việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non, các biện pháp để nâng cao
chất lượng thực hiện chương trình nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ
*Chọn mẫu nghiên cứu: chọn 15/25 trường mầm non công lập tại quận Tân
Bình
->Các trường mầm non xếp loại Tốt (đạt danh hiệu tập thể Lao động xuất
sắc):
1.Trường Mầm non 1A
2.Trường Mầm non 2
3.Trường Mầm non Quận
4.Trường Mầm non 6
5.Trường Mầm non 9
6.Trường Mầm non 10
7.Trường Mầm non 13
8.Trường Mầm non 15
->Các trường mầm non xếp loại Khá (đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên
tiến)
1.Trường Mầm non 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo 2 tác giả Jon Wiles – Joseph Bondi thì “Nếu có một ngón tay chỉ
ra một vấn đề, thì nhà giáo dục sẽ nghiên cứu ngón tay đó” [26,tr.3]. Vấn đề
về quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục đã được nhà nghiên cứu giáo
dục Nga M.I.Kondakop khẳng định rằng kết quả toàn bộ hoạt động quản lý
của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý các
hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên [33,tr.28]. Ngoài ra, còn có nhiều
nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu về việc
quản lý thực hiện chương trình của Hiệu trưởng. Một số luận văn Thạc sĩ
cũng quan tâm đến đề tài công tác quản lý của người Hiệu trưởng, nhưng về
lĩnh vực giáo dục mầm non vẫn còn rất nhiều nội dung cần phải nghiên cứu
sâu, đi vào thực trạng nhằm có những biện pháp giúp cho ngành mầm non
phát triển ngày càng tốt đẹp hơn.
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển của nhân cách con người. Giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự
phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Phát
triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và toàn
xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Chất lượng
chăm sóc giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường mầm non phát huy
tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng. Chất lượng chăm sóc giáo dục
của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khỏe mạnh và phát triển tốt thì vai trò
của nhà trường mới được phụ huynh và cộng đồng thừa nhận. Vì vậy nâng
cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu
ở các cơ sở giáo dục mầm non. Nói đến nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015, trong đó có nội dung
đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục mầm non [48,tr.14].
Đây là tiền đề cho việc triển khai thực hiện thí điểm chương trình Giáo dục
mầm non mới trong ngành giáo dục mầm non từ năm 2006.
Ngày 25 tháng 7 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký
Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT chính thức ban hành Chương trình giáo dục
mầm non [7,tr.1]
Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai thực hiện chương
trình Giáo dục mầm non mới với số lượng trường lớp tăng dần lên theo từng
năm học. Đầu tiên, chương trình Giáo dục mầm non mới được thực hiện thí
điểm tại một số trường trực thuộc Sở Giáo dục Đào tạo và các trường trọng
điểm của từng quận huyện. Đến năm học 2007-2008 mở rộng thêm đối tượng
là các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, năm học 2008-2009
mở rộng thêm các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến và từ năm
học 2009-2010 được thực hiện đại trà trong toàn thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay thì chương trình giáo dục đã chính thức thực hiện trên toàn quốc.
Vì vậy trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý việc thực hiện
chương trình Giáo dục mầm non mới thật sự là vấn đề bức xúc rất cần được
nghiên cứu, thảo luận để việc thực hiện chương trình đi vào chiều sâu. Do đó,
các nhà nghiên cứu giáo dục cần phải nghiên cứu việc quản lý thực hiện
chương trình Giáo dục mầm non mới nhằm tìm ra các biện pháp chỉ đạo có
hiệu quả nhất để góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình, nâng
cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non, góp phần phát
triển giáo dục mầm non nước nhà.
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
-Quản lý:
Trong quyển “Lý luận quản lý nhà nước”, tác giả Mai Hữu Khuê đã
định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật
thiết với hợp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của
mọi lao động hợp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động của quần thể loài
người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý có trong cả xã hội nguyên thủy,
ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên,
muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối” [32,tr.34].
Các khái niệm về quản lý vừa nêu tuy khác nhau, song chúng có chung
những nội dung cơ bản và những dấu hiệu chủ yếu sau đây: đó là những tác
động có tính định hướng cụ thể, hoạt động dựa trên sự tác động, phối hợp của
các cá nhân trong việc xây dựng lập kế hoạch và thực hiện các mục tiêu nhất
định. Hoạt động quản lý là sự biểu hiện tự nguyện tự giác của chủ thế quản lý
muốn điều chỉnh và hướng dẫn các quá trình và các hiện tượng xã hội theo sự
nhìn nhận của chủ thể phù hợp với quy luật khách quan. Đặc trưng chủ yếu
của quản lý là tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý.
Thực tế công tác quản lý hiện nay cho thấy vai trò của quản lý được coi là
một trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội: vốn, nguồn lực lao động,
khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. Trong đó, quản lý có vai trò mang
tính quyết định sự thành công [17,tr.12].
Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Đó là nghệ thuật
làm cho người khác (nhân viên) làm việc hiệu quả hơn những điều bản thân
họ sẽ làm được. Còn khoa học chính là cách người quản lý làm thế nào để
thực hiện được nghệ thuật quản lý. Quản lý là thực hiện những công việc có
tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của
nhữgn người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động,
đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của
con người vào một hoạt đông nào đó; điêu tiết được nguồn nhân lực, phối hợp
được các hoạt đông bộ phận. Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối
Trong chu trình quản lý các chức năng đóng vai trò từ giai đoạn đầu tiên là kế
hoạch hóa đến giai đoạn kết thúc là kiểm tra tổng kết đánh giá việc thực hiện
kế hoạch đã đề ra. Ở trường mầm non chu trình quản lý thường diễn ra theo
năm học từ tháng 9 năm nay đến tháng 8 năm sau.
Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thật thống nhất về các chức năng
quản lý nhưng đa số các nhà khoa học đều thống nhất đề cập đến 4 nhóm
chức năng cơ bản của quản lý, đó là: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ
chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra [17,tr.14].
-Chức năng kế hoạch hóa: là tổ chức công việc theo kế hoạch đã đề ra ngay
từ giai đoạn đầu tiên, mọi hoạt động giáo dục đều có đề ra mục tiêu, biện
pháp rõ ràng, xác định các điều kiện, thời gian, nguồn lực để thực hiện mục
tiêu đó. Có kế hoạch trước khi hành động là một đặc trưng cơ bản của lao
động quản lý có khoa học. Kế hoạch hóa là sự lựa chọn một trong những
phương án hành động tương lai cho toàn bộ và từng bộ phận trong một cơ sở
bao gồm các nội dung chủ yếu: cụ thể hóa các mục tiêu chung thành những
hoạt động cụ thể, định ra những chỉ tiêu phấn đấu, các biện pháp, phương tiện
và điều kiện để thực hiện từng phần việc cho đến cùng. Quản lý nhà trường có
kế hoạch là cách làm việc khoa học nhất giúp cho mọi hoạt động của nhà
trường tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, giúp chủ thể quản lý chủ động
khi điều hành công việc.
Kế hoạch là công cụ chủ yếu để quản lý. Việc xây dựng kế hoạch cần
đảm bảo các nguyên tắc như:
-Tập trung dân chủ
-Đảm bảo tính cân đối, toàn diện và có trọng tâm.
-Tính kế thừa và phát triển.
-Tính cụ thể thiết thực.
-Tính pháp lệnh.
Làm tốt công tác kế hoạch thì hiệu quả quản lý được nâng cao, nhà
vậy chỉ đào là việc chỉ dẫn, động viên, thúc đẩy, giám sát…những người dưới
quyền thực hiện nhiệm vụ được giao. Chỉ đạo là biến mục tiêu dự kiến thành
kết quả, kế hoạch thành hiện thực, trên thực tế chỉ đạo là tổ chức một cách
khoa học lao động của cả tập thể người cũng như từng người.
Nội dung cụ thể của chức năng chỉ đạo là:
-Chỉ huy, ra lệnh nhằm làm cho các bộ phận cũng như hoạt động của
toàn bộ nhà trường diễn ra thuận lợi theo đúng chương trình và đạt được mục
tiêu mong muốn. Người Hiệu trưởng giữ vai trò của người chỉ huy, người “tư
lệnh”.
-Động viên, kích thích kịp thời thường xuyên bằng những lời khen
những câu khích lệ khi họ gặp khó khăn, cần thiết có sự khen thưởng bằng vật
chất.
-Theo dõi và giám sát tiến trình công việc, đánh giá hoạt động của họ
ngay trong lúc vận hành. Quá trình gíam sát phải xem xét công việc đến đâu
rồi, có gì trục trặc, có cần điều chỉnh, thay đổi thêm bới gì hay không
[45,tr.79].
-Chức năng kiểm tra: kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng nhất trong
quản lý nhằm giám sát, đánh giá và xử lý kết quả đạt được của tổ chức so với
mục tiêu quản lý. Kiểm tra là điều tra, xem xét, phân tích, đánh giá sự diễn
biến và kết quả, phát hiện sai lầm để uốn nắn, điều chỉnh, khích lệ, giúp đỡ
đối tượng hoàn thành nhiệm vụ, vậy kiểm tra là để:
-Xem xét, đánh giá kết quả đạt được trong thực tiễn phù hợp đến mức
độ nào so với mục tiêu dự kiến.
-Phát hiện những mặt sai sót, lệch lạc, những mặt yếu kém chưa đạt
được của kế hoạch, những trở ngại khó khăn, những vấn đề mới nảy
sinh…phân tích tìm ra nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trên.
-Điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc hoặc loại bỏ chúng nếu kế hoạch
ban đầu không chính xác hoặcc do tình hình thay đổi, xuất hiện yêu cầu mới
Thông tin chi phối tất cả các chức năng quản lý, là điều kiện, là
phương tiện không thể thiếu được của mọi quá trình quản lý. Thiếu thông tin,
quản lý sẽ kém hiệu quả. Thông tin là cơ sở để xác định và thực hiện các chức
năng kế hoạch hóa, tổ chức , chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết…, xét ở góc độ thông
tin có nhà nghiên cứu đã định nghĩa quản lý là thu nhận, xử lý và truyền đạt
thông tin. Do đó, vấn đề thông tin rất quan trọng không thể thiếu được trong
mọi quá trình quản lý [45,tr.84].
-Biện pháp quản lý:
Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể
của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Trong quá trình quản
lý, chủ thể quản lý phải có những biện pháp như là: dự kiến kế hoạch, sắp xếp
tiến trình, phân công hợp lý, tiến hành và tác động lên khách thể quản lý
bằng cách nào đó theo khả năng của mình để đạt được mục tiêu đã đề ra. Đó
chính là chủ thể quản lý đã thực hiện các biện pháp quản lý. Theo
F.W.Taylor: “Biện pháp quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá
trình hoạt động xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển