Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non quận tân bình thành phố hồ chí minh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________
ĐÀO THỤY XUÂN THẢO
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________________
ĐÀO THỤY XUÂN THẢO
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN NHƯ AN
NGHỆ AN, 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Phòng
Đào tạo Sau Đại học Trường đại học Vinh, Hội đồng đào tạo trình độ thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý giáo dục, các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến Tiến sĩ
Nguyễn Như An người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn!
Lãnh đạo Sở, phòng Giáo dục mầm non Sở giáo dục và đào tạo thành

Kết luận chương 2 78
CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẤM NON Ở CÁC TRƯỜNG
MẦM NON QUẬN TÂN BÌNH 79
3.1. Nguyên tắc xây dựng giải pháp 79
Hệ thống biện pháp phải đồng bộ, cân đối, đồng thời phải xác định được yếu tố trọng
tâm, thể hiện được sự ưu tiên hợp lý. Mỗi giải pháp tổ chức thực hiện có tác động với các
mức độ khác nhau, không có một giải pháp nào hoàn thiện. Xây dựng các giải pháp dựa
trên nguyên tắc: Kết hợp các giải pháp để tạo một hệ thống giải pháp hoàn chỉnh. Việc kết
hợp, vận dụng các giải pháp làm tăng hiệu quả, phát huy được tính ưu việt, khắc phục hạn
chế vốn có của mỗi giải pháp. Chính vì vậy, các giải pháp quản lý thực hiện chương trình
giáo dục mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục
phải đảm bảo tính hệ thống 79
1. Kết luận 97
2. Kiến nghị 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GV Giáo viên
CTGD Chương trình giáo dục
QLGD Quản lý giáo dục
GDĐT Gíao dục đào tạo
GDMN Giáo dục mầm non
CBQL Cán bộ quản lý
BGH Ban giám hiệu
CNTT Công nghệ thông tin
BDGD Bồi dưỡng giáo dục
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG 3

GDĐT Gíao dục đào tạo
GDMN Giáo dục mầm non
CBQL Cán bộ quản lý
BGH Ban giám hiệu
CNTT Công nghệ thông tin
BDGD Bồi dưỡng giáo dục
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
"Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai". Đầu tư cho trẻ em tức là đầu tư
cho tương lai của nước nhà. Chính vì vậy, mục tiêu của giáo dục mầm non là
giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1,
xây dựng thế hệ mới vừa hồng vừa chuyên cho đất nước.
Muốn thực hiện được mục tiêu đó, cần phải có một chương trình giáo
dục phù hợp. Đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên
cứu khoa học và quản lý. Phát triển nhanh và bền vững về giáo dục là góp
phần đưa con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển kinh tế - xã
hội ở nước ta, giáo dục tạo cơ hội giúp cho mọi người phát huy được tài năng,
trí tuệ, sở trường, năng lực của mình, tham gia vào quá trình phát triển và thụ
hưởng thành quả của quá trình đổi mới toàn diện nước ta mà Đảng đang thực
hiện. Sự thay đổi của ngành giáo dục trước hết là phải tăng cường quản lý
giáo dục (QLGD) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện
ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phải có chiến lược, sách
lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại.
Sau năm năm ngành mầm non thực hiện thí điểm chương trình giáo
dục, từ năm học 2005-2006 đến năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ban hành Chương trình Giáo dục mầm non kèm Thông tư số 17/2009/TT-

động dạy học tích cực cho trẻ khi thực hiện chương trình mới nên không đạt
3
được mục tiêu, ý nghĩa của chương trình. (Chương trình cũ là chương trình
Chăm sóc giáo dục trẻ được ban hành theo quyết định số 1362/GD và ĐT
ngày 31/05/1994 của Bộ Gíao Dục và Đào Tạo). Vì vậy, Hiệu trưởng trường
mầm non gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý thực hiện chương trình mới.
Thêm vào đó, xu thế hiện nay việc tiếp cận chương trình chăm sóc giáo
dục mới rất quan trọng. Đây là bước đi thích hợp trong tình hình hiện nay,
nhưng cách thức chương trình thay gđổi đòi hỏi đội ngũ Giáo viên phải có
những kĩ năng phát triển chương trình mới là phải đảm bảo tính mục đích,
đảm bảo yêu cầu phát triển tòan diện nhân cách trẻ, đảm bảo tính nguyên tắc
tuần tự hệ thống, chứa đựng các cơ hội phát huy vị thế tích cực của trẻ, đảm
bảo tính tích hợp. Làm thế nào để việc thực hiện chương trình mới có hiệu
quả. Tại các trường mầm non trong quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh,
công tác quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới được
tiến hành ra sao, kết quả như thế nào là điều chưa được nghiên cứu. Chính vì
vậy, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Giải pháp quản lý thực hiện
chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình
thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được các giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục
mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh
nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục mầm non.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý chương trình giáo dục mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các
trường mầm non quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh
4

7.2. Về mặt thực tiễn
Khảo sát thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non
ở các trường mầm non quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề
xuất những giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để nâng cao hiệu quả
quản lý chương trình giáo dục mầm non.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục
nghiên cứu, luận văn gồm 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lí thực hiện chương trình giáo
dục mầm non.
- Chương 2: Thực trạng quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm
non ở các trường mầm non quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Giải pháp quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục
mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
6
CHHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định GDMN là
mục tiêu quan trọng của giáo dục và các nhà khoa học không ngừng quan tâm
nghiên cứu đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng GDMN nhằm đảm
bảo chất lượng GDMN.
Ở Mỹ, Anh thì Hiệp hội giáo dục trẻ thơ không khuyến khích các
trường mầm non phải theo một chương trình mẫu giáo nào, mà họ chỉ cung
cấp sự hướng dẫn và dựa trên nguồn tài liệu phong phú giáo viên được chủ
động chọn nội dung, cách thức và sự đánh giá phù hợp với trẻ của mình.
Spodek (1990), nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không
thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì

giáo dục của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của từng dân
tộc và họ đưa các chương trình vào nhà trẻ và trường mẫu giáo ([31], tr.9).
Lời mở đầu trong kế hoạch quốc gia về “Đổi mới hệ thống GDMN” từ
năm 1997 của Hàn Quốc cũng đã ghi nhận rằng môi trường giáo dục đầu đời
đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con
người. Với ý nghĩa ấy, GDMN có thể được coi là lĩnh vực cần đầu tư tốt nhất
và hàng tháng các nhà trẻ tại đây đều được thanh tra về mọi mặt từ giảng dạy,
thiết bị, bếp ăn, vệ sinh… một cách nghiêm ngặt. Các góc chơi quy định trong
chương trình giáo dục của Hàn Quốc: Chương trình giáo dục trẻ mầm non có
8
thể được so sánh giống như “mạng nhện”. Trong mạng nhện đó trẻ thể hiện
hứng thú của bản thân một cách rất tự nhiên không có sự sắp đặt, các góc chơi
sẽ được kết hợp một cách vô thức trong toàn bộ hoạt động của trẻ. Những
giáo viên lựa chọn theo hướng luyện tập này đều cho rằng các yếu tố cấu
thành nên quá trình giáo dục trẻ được kết hợp đan lại giống như một mạng
nhện lành lặn không bị đứt quãng. Nếu một trong những đường nối mạng
nhện bị đứt hoặc thiếu thì cũng giống như hình ảnh mạng nhện bị đứt rơi
xuống, và trong quá trình giáo dục cũng vậy nếu không có các nhóm kết hợp
chặt chẽ thì “tính tổng thể” sẽ bị yếu, không đủ mạnh để thúc đẩy sự phát
triển của trẻ một cách toàn diện [14, tr.1].
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa
quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo
dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế
hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo
dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then

giáo dục mầm non thí điểm (2009), Bộ Giáo dục và Đào tạo - Học viện quản
lý giáo dục, Hà Nội.
- “Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn
cho giáo viên mầm non Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh” 2013, luận văn
Thạc sĩ khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Duyên Hồng, Đại học Vinh.
10
Tuy nhiên, các tài liệu trên chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
việc thực hiện chương trình Giáo dục mầm non mới tại các trường mầm
non, có tài liệu chỉ dừng ở mức độ bồi dưỡng kiến thức về quản lý thực
hiện chương trình.
Bước vào thế kỷ XXI, trước những yêu cầu mới của đất nước và của
giáo dục mầm non, chương trình chăm sóc - giáo dục mẫu giáo ở Việt Nam
đã bộc lộ một số hạn chế bất cập về mục tiêu, nội dung, phương pháp chăm
sóc-giáo dục trẻ. Điều đó đòi hỏi chương trình cần có những cải tiến, đổi mới.
Tại phiên họp Chính phủ tháng 11 năm 2005, Chính phủ đã quyết định về Đề
án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015, trong đó có nội dung
đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục mầm non ([30], tr.14).
Đây là tiền đề cho việc triển khai thực hiện thí điểm chương trình Giáo dục
mầm non mới trong ngành giáo dục mầm non từ năm 2006.
Ngày 25 tháng 7 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban
hành Chương trình giáo dục mầm non, kèm theo ký Thông tư số 17/2009/TT-
BGDĐT ([5], tr.1)
Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai thực hiện chương
trình Giáo dục mầm non mới với số lượng trường lớp tăng dần lên theo từng
năm học. Đầu tiên, chương trình Giáo dục mầm non mới được thực hiện thí
điểm tại một số trường trực thuộc Sở Giáo dục Đào tạo và các trường trọng
điểm của từng quận huyện. Đến năm học 2007-2008 mở rộng thêm đối tượng
là các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, năm học 2008-2009
mở rộng thêm các trường đạt danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến và từ năm
học 2009-2010 được thực hiện đại trà trong toàn thành phố Hồ Chí Minh.

hình dung trước những kết quả mà học sinh sẽ đạt được sau một thời gian học
12
tập và cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để làm cho mong muốn
đó trở thành hiện thực.
Từ việc tham khảo các định nghĩa về chương trình có thể tóm tắt một
cách dễ hiều về chương trình dạy học như sau:
Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng
thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các
mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi,
mức độ nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức
học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được mục tiêu
học tập đã đề ra.
Theo điều 6 Luật giáo dục, Chương trình giáo dục
1. Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn
kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và
hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối
với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo.
2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính
thống nhất; kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho
sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo
và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.
3. Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương
trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục phổ
thông, giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại
học, giáo dục thường xuyên. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy
phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục.
4. Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với
giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo năm học hoặc theo hình thức
tích luỹ tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
13

thức khác nhau để tổ chức các hoạt động cho trẻ, dựa trên sự hiểu biết về
những nguyên tắc cơ bản của quá trình giáo dục, về những đặc điểm phát
triển tâm - sinh lý của trẻ ở các độ tuổi khác nhau và đặc điểm riêng biệt của
mỗi cá nhân trẻ. Trong chương trình giáo dục, mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ,
nội dung hình thức, phương pháp - biện pháp giáo dục trẻ cần được xác định
một cách cụ thể, phù hợp với điều kiện giáo dục. Điều này giúp cho quá trình
giáo dục được chuẩn bị và thực hiện một cách có tổ chức nhất và đem lại hiệu
quả cao, đồng thời cũng làm tăng vai trò hướng dẫn của người giáo viên trong
quá trình giáo dục trẻ. Chương trình giáo dục sẽ trở thành kim chỉ nam, định
hướng cho hoạt động giáo dục nếu nó được xây dựng một cách cụ thể và thiết
thực với thực tiễn ([6],tr.15).
1.2.2. Quản lý
Quản lý không chỉ là một dạng hoạt động cụ thể mà đã trở thành một
khoa học, một nghệ thuật và là một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại.
Chính vì vậy, lý luận về quản lý ngày càng phong phú và phát triển. Quản lý
được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không
thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được
giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải
là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo
tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý.
Về điều này C.Mác đã từng viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp
hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng
cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện
những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất
khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ
15
cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”
([10], tr.480).
Trong quyển “Lý luận quản lý nhà nước”, tác giả Mai Hữu Khuê đã
định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật

của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
- Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể quản lý.
Các khái niệm trên đây cho thấy:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những
người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt dược mục tiêu
đề ra ([28], tr.5).
Quản lý luôn có hướng đích, tồn tại với tư cách là một hệ thống bao
gồm các yếu tố cơ bản như sau:
− Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay tập thể đề ra mục tiêu tổ chức,
hướng các đối tượng quản lý, tác động có mục đích nhằm đạt mục tiêu.
− Đối tượng quản lý: Từ con người đến giới vô sinh hay hữu sinh,
trong đó cơ bản là con người nhận tác động trực tiếp của chủ thể quản lý.
− Khách thể quản lý: Nằm ngoài hệ thống hoặc hệ thống khác hay là
các ràng buộc của môi trường, nó chịu tác động hay tác động trở lại hệ thống
giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục. Do đó, chủ thể quản lý phải làm như
thế nào để cho những tác động từ phía khách thể là tác động tích cực cùng
nhằm thực hiện mục tiêu chung.
17
− Mục tiêu quản lý: Là trạng thái mong đợi ở tương lai mà mọi hoạt
động của hệ thống hướng đến. Mục tiêu quản lý định hướng và chi phối sự
vận động của hệ thống.
Phương pháp quản lý: là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý bằng cách sử dụng các phương tiện và biện pháp khác nhau
nhằm đạt được mục đích đề ra.
Như vậy quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Đó là
nghệ thuật làm cho người khác (nhân viên) làm việc hiệu quả hơn những điều

giải quyết một vấn đề cụ thể” ([22], tr.64).
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này
là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp.
1.2.4. Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục
đào tạo. Nó chịu sự quản lý trực tiếp của các cấp quản lý giáo dục đồng thời
nhà trường cũng là một hệ thống độc lập, tự quản. Việc quản lý nhà trường
phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà
trường. Nói đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục tức là nói đến
việc tổ chức dạy và học trong nhà trường. Do đó, thực chất công tác quản lý
cơ bản trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, mà hoạt động dạy
và học dựa trên nền tảng cơ bản và cốt lõi là chương trình giáo dục. Có thể
nói không có chương trình giáo dục thì người dạy sẽ không biết phải dạy cái
gì, phải dạy bắt đầu từ đâu và kết thúc như thế nào. Người học cũng không
thể lĩnh hội kiến thức từ nền tảng ban đầu đến nâng cao dần theo cấp học,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status