TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Khi xã hội phát triển, văn hóa được mở cửa nó đã ảnh hưởng không nhỏ
đến lối sống của giới trẻ, ta đi đường hay lướt qua vài trang Web không khỏi bức
xúc về thông tin như thái độ thờ ơ của con người trước những người bị nạn, thậm
trí còn hôi của, hay những hành vi man dợ,… rồi đến những clip các nữ sinh
đánh nhau tung lên mạng, rồi cuộc chơi bời thâu đêm suốt sáng quăng mình trên
sàn nhảy, thử hỏi nhũng con người như vậy có làm cho xã hội phát triển được
không? Trong khi đó ta hãy thử xem một đất nước Nhật Bản bị tàn phá nặng nề
về sóng thần nhưng ở đó không có cướp bóc, không có hôi của, không có bán
hàng ăn chặn mà thay vào đó là lòng yêu thương đùm bọc nhau vượt qua khó
khăn, một xã hội trật tự. Quay trở lại với đất nước chúng ta vẫn có những hình
ảnh tốt đẹp như bài văn của em trường Amsdam về tấm lòng hiếu thảo với cha
mẹ, vẫn có những tấm lòng nhân ái. Qua đó ta thấy con người cần có đức và tài.
Đạo đức là cơ sở để phát triển tài năng, ngược lại tài năng chỉ có thể phát huy
cống hiến cho xã hội khi con người đó có đức mà thôi. Hồ Chí Minh đã viết “
Cũng như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân ”[ Tr
252,253]
Xã hội đặt ra ngày càng cao đối với hệ thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo
dục phải đào tạo ra những con người : “ phát triển trí tuệ, cường tráng về thể lực,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức ”.
Bậc tiểu học là nền tảng nhằm hình thành ở học sinh những cở sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cở sở, trung học phổ thông và xa
- 1 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
dụng các phương pháp giáo dục đạo đức chưa có hiệu quả đặc biệt là nhóm các
phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi. Qua tìm hiểu thực tế giáo viên
tiểu học ở khu vực thành phố Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc về việc sử dụng nhóm các
phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo dục đạo đức chưa
chuẩn như sự khen thưởng, trách phạt chưa kịp thời, không thường xuyên phát
động phong trào thi đua học sinh làm việc tốt, học tập tốt. Ngoài ra nhiều cô giáo
còn mang nặng tâm trạng của gia đình, nỗi ưu tư trong cuộc sống, áp lực trong
công việc cũng như mỗi quan hệ với đồng nghiệp trong trường làm ảnh hưởng
phần nào đến chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh.
Trong giáo dục đạo đức vai trò của nhóm các phương pháp khuyến khích
và điều chỉnh hành vi trong giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học rất quan
trọng nó giúp cho học sinh được tiến bộ và điều chỉnh hành vi trong học tập và
trong cuộc sống.
Qua các phân tích trên là lý do đó tôi chọn đề tài “ Tìm hiểu thực trạng
sử dụng nhóm phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo
dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học ở khu vực thành phố Vĩnh Yên-
Vĩnh Phúc ” Nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
II. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu tôi thấy đã có nhiều tác giả bàn về giáo dục đạo đức cho học
sinh tiểu học như:
Lưu Thu Thủy – “ Giáo dục hành vi đạo đức cho hành sinh Tiểu
học qua trò chơi ”
Lưu Thu Thủy – “ Đổi mới phương pháp dạy học đạo đức ở tiểu học ”
Nguyễn Thị Thanh Thủy – “ Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ”
- 3 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
2.Tìm hiểu thực trạng sử dụng nhóm các phương pháp khuyến khích và
điều chỉnh hành vi trong giáo dục đạo đức học sinh tiểu học ở khu cực thành
phố Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc.
3. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, từ đó đề xuất các giải
pháp.
VII. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài:
- Phương pháp đọc sách
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thống kê toán học
VIII. Kế hoạch thực hiện đề tài:
- Tháng 10 đến tháng 11 năm 2011: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương
- Tháng 12 năm 2011 đến tháng 1 năm 2012: Tìm hiểu cơ sở lí luận
- Tháng 2 đến tháng 4 năm 2012: Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn
đến thực trạng, đưa ra giải pháp.
- Tháng 5 năm 2012: Tổng kết hoàn thành đề tài.
IX. Cấu trúc của đề tài:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phương pháp
I.Một số vấn đề về giáo dục đạo đức
1. Về giáo dục đạo đức.
2. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
II.Nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo dục
đạo đức.
- 5 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
II. Những giải pháp cần thiết để đảm bảo tốt việc sử dụng nhóm các phương
pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo dục đạo đức.
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
I. Kết luận.
II. Kiến nghị.
- 7 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phương pháp giáo dục đạo đức
I. Một số vấn đề về đạo đức và giáo dục đạo đức
1. Về giáo dục đạo đức:
Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái xã hội phản ánh
tồn tại xã hội dưới những chuẩn mực đạo đức. Theo quan niệm của Mác-xít: “
Đạo đức là hệ thống những quy tắc chuẩn mực của đời sống xã hội và hành vi
của con người. Nó quy định nghĩa vụ của người này với người khác, nghĩa vụ
của con người đối với xã hội ”
Đạo đức ra đời là do nhu cầu thực tiễn cuộc sống để thực hiện chức năng
duy trì mối quan hệ giữa con người với con người, duy trì trật tự xã hội và thông
qua đó làm cho xã hội tồn tại và phát triển.
Đạo đức hình thành một cách tự phát ngay trong hiện thực. Đạo đức được
duy trì bằng lương tâm và dư luận xã hội.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội xuất hiện đầu tiên khi loài người mới
hình thành. Đạo đức ra đời phát triển cùng quá trình biến đổi kinh tế - xã hội và
sự tiến bộ văn hóa, vật chất tinh thần của con người. Hiện nay có nhiều quan
niệm khác nhau về nguồn gốc, bản chất về đạo đức. Theo quan niệm triết học
Mác – Lênin, Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có quan hệ với các hình
thái xã hội khác, nảy sinh từ tồn tại xã hội, phát triển cùng sự biến đổi tồn tại của
xã hội. Nhưng Đạo đức khác với các hình thái ý thức xã hội ở chỗ nó điều chỉnh
2. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Chúng ta có thể nhận thấy thành phần quan trọng và căn bản của giáo dục
phổ thông và cũng như mục đích của toàn bộ công tác giáo dục đạo đức thế hệ
trẻ trong giáo dục không những có kiến thức phổ thông mà phải có đạo đức cách
mạng – đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa ( XHCN ). Cho nên công
- 9 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
tác giáo dục trước hết phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho người học, coi đó là
cái gốc cho sự phát triển nhân cách. Chính vì vậy khi nói đến việc học trong chế
độ mới, Bác Hồ đã nói: “ Bầy giờ phải học để yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao
động, yêu khoa học, yêu đạo đức ”.
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là quá trình tác động từ nhiều con
đường khác nhau làm cho nhân cách học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức,
tạo cơ sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong
mỗi quan hệ của cá nhân với bản thân, với người khác và xã hội.
Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức học sinh là học sinh có được phẩm chất
đạo đức tốt đẹp, bền vững, có hiểu biết để ứng xử đúng trong các mỗi quan hệ cụ
thể.
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là vấn đề cần thiết, trước hết vì vị
trí của trẻ em trong tương lai nước nhà, làm cho các em trở thành những công
dân tốt, đủ phẩm chất và năng lực trí tuệ để gánh vác vận mệnh dân tộc. Đó là
nhiệm vụ chính trị hàng đầu của nhà trường nói chung và trường tiểu học nói
riêng.
Có nhiều phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ tiểu học nhưng có lẽ
trường tiểu học là nơi có thể làm tốt công tác giáo dục đạo đức. Như chúng ta đã
biết trẻ tiểu học dễ dàng học được điều tốt và cũng dễ dàng nhiễm điều xấu. Nếu
ngay từ bậc học này không có sự đầu tư quan tâm giáo dục đạo đức thì rất khó
cho việc hình thành nhân cách con người sau này. Chính vì thế môn học đạo đức
đức xã hội, mà chủ yếu góp phần định hình và phát huy những phẩm chất cần
thiết của nhân cách con người với hành vi cao đẹp đầy tính nhân văn.
II. Nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo
dục đạo đức.
- 11 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
1. Khái niệm phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là cách thức tổ chức hoạt động giáo dục, trong đó
có sự tương tác thống nhất giữa nhà giáo dục – giáo viên tiểu học và người
được giáo dục – học sinh tiểu học, nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục và từ
đó, đạt được mục đích giáo dục do xã hội đặt ra đối với nhà trường tiểu học.
Như vậy khi bàn về phương diện phương pháp giáo dục, chúng ta thấy sự
hiện diện của những yếu tố cơ bản sau:
- Cách thức tổ chức: Khi nói đến phương pháp, cần nghĩ tới “ cách thức ”,
tức là làm thế nào để tiến hành một công việc, hoạt động nào đó cho thành công.
- Giáo viên: Trong việc vận dụng phương pháp giáo dục nào đó, luôn có
sự hiện diện của giáo viên và vai trò tổ chức thuộc về giáo viên.
- Học sinh: Ở mọi phương pháp giáo dục cũng luôn có mặt của học sinh,
trong đó học sinh là mục tiêu của phương pháp – qua phương pháp giáo dục đó,
đạt được kết quả gì của học sinh.
- Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh: Ở bất kỳ phương pháp nào cũng
có sự tương tác, tức là sự tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh.
- Tính hướng đích của phương pháp giáo dục: Mỗi phương pháp giáo dục
đều hướng đến một kết quả mong muốn mà nhiệm vụ giáo dục đã xác định – tri
thức, thái độ…
Trong thực tiễn giáo dục của mình, người giáo viên tiểu học phải giải
quyết nhiều nhiệm vụ giáo dục khác nhau với những nội dung, tính chất hết sức
đa dạng. Đối với cùng nhiệm vụ có thể có nhiều phương án giải quyết khác nhau,
Nhóm phương pháp thuyết phục bao gồm:
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp giảng giải
- 13 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
- Phương pháp nêu gương
b. Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng
xử xã hội
Giáo dục đạo đức là sự thống nhất giữa ý thức và hành vi, là quá trình biến
những yếu tố nhận thức, tình cảm thành hành vi, biến những hành vi, những kinh
nghiệm ứng xử xã hội thành thói quen văn hóa cho học sinh.
Nhóm phương pháp này bao gồm:
- Phương pháp đòi hỏi sư phạm
- Phương pháp tập thói quen
- Phương pháp rèn luyện
c. Nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi [7]
Nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo
dục đạo đức học sinh tiểu học có khả năng to lớn trong việc động viên học sinh
phát huy mọi sức lực và tinh thần, thể chất, tình cảm và trí tuệ để đạt hiệu quả
cao nhất trong học tập và rèn luyện. Đặc điểm cơ bản của nhóm phương pháp
này là dựa trên kết quả hành vi mà đối tượng giáo dục đã thực hiện trước đây để
phát huy tích cực của học sinh vào các hoạt động thực tiễn. Khuyến khích động
viên, lôi cuốn lòng nhiệt thành tham gia vào hoạt động mà học sinh đã đạt được
những thành quả nhất định. Khắc phục, ngăn ngừa, uốn nắn hay trách phạt đối
với những biểu hiện tiêu cực không được xã hội thừa nhận.
Chức năng của nhóm phương pháp này là khuyến khích, củng cố, điều
chỉnh hành vi của học sinh, tạo ra những tiền đề tâm lí thuận lợi cho việc thực
hiện nhiệm vụ mới trên cơ sở những hoạt động trước đây của các em. Phương
kết quả của hoạt động.
- 15 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
Trong quá trình giáo dục, khen thưởng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó
có tác dụng khẳng định kết quả của quá trình giáo dục hoàn toàn phù hợp với
những chuẩn mực và quy tắc của xã hội
Khen thưởng còn giúp cá nhân tự khẳng định mình, tin tưởng vào những
gì bản thân đã làm, củng cố vững chắc các kết quả giáo dục, không ngừng cố
gắng vươn lên để tiếp tục hoàn thành nhân cách.
Trong thực tiễn giáo dục, khen thưởng được thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau. Có thể khen đơn thuần về mặt tinh thần, có thể kết hợp giữa khen và
thưởng vật chất, có thể khen tức thì, có thể khen trong những dịp trịnh trọng, có
thể khen trực tiếp, có thể khen gián tiếp thông qua cấp trên…Tùy theo tính chất,
mức độ, phạm vi ảnh hưởng của những kết quả giáo dục, tùy theo điều kiện,
hoàn cảnh và cá nhân cụ thể…để lựa chọn hình thức khen thưởng cho phù hợp.
Trong nhà trường hiện nay có các hình thức khen thưởng cơ bản sau:
- Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ thông qua thái độ thiện cảm, thông qua ánh
mắt, nụ cười, hoặc lời nói động viên khích lệ hoặc có lời khen trực tiếp đối với
các hành vi tích cực của học sinh.
- Biểu dương, tuyên dương trước tập thể những cá nhân có thành tích,
những việc tốt, những hành vi đẹp…
- Tặng giấy khen, bằng khen, kỉ niệm chương…và các hiện vật kèm theo
cho những cá nhân có thành tích xứng đáng.
- Đề nghị cấp trên khen thưởng các hình thức như tặng học bổng, miễn thi
vào các cấp học cao hơn, cấp tặng các danh hiệu cao quý đối với những hành vi
của học sinh có tầm ảnh hưởng lớn đối với thế hệ trẻ trên phạm vi cả nước hay
địa phương…
- 16 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
điều chỉnh những hành vi không phù hợp với chuẩn mực của xã hội, ngăn chặn
và răn đe kịp thời những lỗi lầm của cá nhân hay tập thể. Trách phạt sẽ gây cho
học sinh có lỗi tâm trạng hổ thẹn, cảm thấy thầy cô giáo không còn tin yêu
nữa…Làm cho các em cảm thấy cắn rứt lương tâm, sự đấu tranh động cơ, sự ăn
năn, sự hối hận…,nhờ đó giúp họ có thêm ý chí và nghị lực để từ bỏ những thói
quen và hành vi sai trái, sửa chữa khuyết điểm.
Để sử dụng phương pháp trách phạt thực sự có hiệu quả các nhà quản lí
giáo dục cũng như các giáo viên tiểu học cần lưu ý sau:
- Chỉ sử dụng phương pháp trách phạt khi sử dụng phương pháp thuyết
phục và các phương pháp khác không còn tác dụng hoặc tác dụng ít. Đây là
phương pháp không thể áp dụng thường xuyên, liên tục, vì nếu thường xuyên
trách phạt sẽ gây lên trạng thái căng thẳng, làm cho đối tượng trở lên trơ lì, chai
sạn dẫn đến càng khó giáo dục.
- Trách phạt phải hoàn toàn khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội,
đúng lúc, đúng chỗ, phải thận trọng khi đưa ra quyết định, không được định kiến,
để tránh tình trạng oan sai. Trách phạt mục đích để học sinh ăn năn, hối lỗi mà
cố gắng sủa chữa khuyết điểm để tiến bộ. Chứ không nhằm mục đích thỏa mãn
cơn khát tức giận của giáo viên.
- Trách phạt người giáo viên phải chú ý tới nguyên nhân, hoàn cảnh gây ra
sai phạm và động cơ dẫn đến việc sai phạm đó. Việc trách phạt đó phải làm cho
học sinh nhận rõ khuyết điểm, sai trái của mình cũng như lí do trách phạt từ đó
trách phạt mới có tác dụng
- Trách phạt phải đảm bảo sự tôn trọng nhân cách học sinh, không được
xúc phạm, làm tổn hại đến thể xác và tinh thần học sinh, phải tin tưởng, lạc quan
và sự cố gắng tiến bộ của học sinh.
- 18 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
kiện nào đó của nhà trường. Thi đua là nhằm mục đích làm cho cá nhân và tập
thể hoạt động tích cực hơn. Thi đua có thể áp dụng trong mọi hoạt động của học
sinh.
Tuy vậy để thi đua có ý nghĩa giáo dục, nhà trường, các thầy cô không nên
chú trọng vào kết quả mà điều cơ bản là tạo ra phong trào phấn đấu rèn luyện
cho học sinh, tránh tình trạng vì thành tích, bệnh thành tích tạo ra sự ganh đua,
hiếu thắng, tìm mọi cách để hơn người khác…
Cần tổ chức phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, hấp dẫn, lôi cuốn được
tất cả mọi người tham gia với động cơ tốt, lành mạnh, vì sự phát triển chung.
Trong quá trình tổ chức thi đua, nhà trường phải đặt ra mục đích yêu cầu cũng
như mục tiêu phấn đấu rõ ràng cho từng cá nhân và tập thể để họ phấn đấu.
Phải thường xuyên và có hệ thống tiến hành sơ kết, tổng kết công tác thi
đua, động viên khen thưởng và trách phạt kịp thời, công bằng và khách quan cho
cá nhân và tập thể tham gia
Như vậy có thể nói nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh
hành vi là nhóm phương pháp bổ trợ cho các nhóm phương pháp giáo dục khác.
Trong đó phương pháp khen thưởng và phương pháp thi đua có chức năng chủ
yếu là kích thích và khuyến khích đối tượng tích cực, cố gắng hơn để phát huy
những ưu điểm để đạt được, thông qua đối tượng giáo dục dần dần tự hoàn thiện
nhân cách của mình theo yêu cầu xã hội. Phương pháp trách phạt có chức năng
chủ yếu dùng để điều chỉnh hành vi, để ngăn ngừa sai phạm, giúp học sinh nhận
ra lỗi lầm, từ bỏ những hành vi và thói quen không phù hợp.
Giữa các phương pháp có mỗi quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau. Thi đua bao giờ cũng gắn với khen thưởng và trách phạt mới có tác
dụng giáo dục. Để khen thưởng và trách phạt đúng, có ý nghĩa giáo dục phải
thông qua việc tổ chức các hoạt động cho học sinh thông qua các phong trào thi
- 20 -
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
Bảng 1: Trình độ của giáo viên
Tên trường
tiểu học
Tổng
số giáo
viên
Trình độ
Trung cấp Cao đẳng Đại học
Trên Đại
học
Liên Minh 36 0/36 0%
1/36 2,8% 35/36 97,2% 0/36 0%
Đống Đa 31 0/31 0% 1/31 3,2% 29/31 93,6%
1/31
3,2%
Ngô Quyền 17 0/17 0% 5/17 29,4% 12/17 70,6% 0/17 0%
Dựa vào kết quả thu được ta nhận thấy trình độ giáo viên ở các trường tiểu
học ở khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc đều đạt trên chuẩn, đây là một
yếu tố rất thuận lợi trong việc nâng cao chất giáo dục ở các trường tiểu học.
Trong số ba trường tiểu học trên thì trường tiểu học Liên Minh có số giáo viên
Đại học và trên Đại học chiếm 97,2% cao nhất trong khu vực thành phố. Ngoài
ra trường tiểu học Đống Đa có số giáo viên đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ
tương đương với trường tiểu học Liên Minh, và có một giáo viên trên trình độ
đại học. Trường tiểu học Ngô Quyên có số giáo viên chiếm tỷ lệ đại học thấp
hơn so với hai trường trong khu vực.
Ngoài ra theo sự phát triển của xã hội đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải có
trình độ cao, có sự hiểu biết sâu rộng về chuyên môn, cũng như sự bùng nổ về
khoa học công nghệ đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Tổng số Kết quả
- 23 -
Không cần thiết
Cần thiết
TrầnThị Lan Khóa luận tốt nghiệp
Lớp A K34 Khoa GDTH ĐHSP Hà Nội II
Cần thiết Không cần thiết
84 84/84 100% 0/84 0%
Với kết quả thu được là 100% các thấy ( cô ) đều cho rằng việc sử dụng
nhóm phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi trong giáo dục đạo đức
là cần thiết. Đây là nhận thức đúng đắn vì đã đánh giá khả năng giáo dục đạo đức
của người giáo viên với học sinh của mình. Người giáo viên phải nhận thức được
giáo dục đạo đức thông qua con đường khuyến khích và điều chỉnh hành vi chỉ
có thể đạt hiệu quả khi người giáo viên biết lôi cuốn phát huy cao độ tính tích
cực của học sinh, khuyến khích, động viên, thu hút học sinh tham ra vào các
phong trào hoạt động lành mạnh, đồng thời cũng khắc phục, ngăn ngừa, uốn nắn
những biểu hiện tiêu cực trong học sinh không bị lệch lạc khỏi chuẩn mực đạo
đức của xã hội. Đồng thời đây là tiêu chí nhận xét đánh giá giáo viên trong các
hoạt động dạy học cũng như hoạt động ngoại khóa cho học sinh trong quá trình
giáo dục trong nhà trường.
2. Nhận thức của giáo viên về vai trò nhóm các phương pháp khuyến khích
và điều chỉnh hành vi trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
Để tìm hiểu thực trạng này, tôi sử dụng bộ câu hỏi sau:
Theo các Thầy ( Cô ) nhóm các phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành
vi có vai trò như thế nào trong việc giáo dục đạo đức học sinh:
1. Phát huy tính tích cực của học sinh vào các hoạt động thực tiễn.
2. Khuyến khích động viên, động viên, lôi cuốn lòng nhiệt tình của
học sinh tham gia vào các hoạt động mà học sinh đã đạt được những thành quả
nhất định.
Kết quả thu được ở bảng 3 cho thấy đa phần là các giáo viên có nhận thức
đúng đắn về vai trò của nhóm phương pháp khuyến khích và điều chỉnh hành vi
trong giáo dục đạo đức ( 95,24%), với phương pháp giáo dục đạo đức này có thể
phát huy được tính tích cực, khuyến khích, lôi cuốn, động viên lòng nhiệt tình
của học sinh trong các hoạt động học, hoạt động ngoại khóa, đồng thời ngăn
ngừa hoạt động không lành mạnh trong xã hội từ đó giúp các em tự tin để có
hành động tiếp theo. Theo kết quả trên cũng không có giáo viên nào cho rằng
phương pháp trên là không tác dụng. Các giáo viên lựa chọn 1 và 2 chiếm tỷ lệ
cao, như vậy các giáo viên này mới thấy được một phần nào đó của vai trò ở
phương pháp này, tuy nhiên số giáo viên nhận thấy vai trò của phương pháp này
trong việc uốn nắn, ngăn ngừa hoạt động tiêu cực chiếm tỷ lệ trên trung bình
điều đó cho thấy giáo viên nhận thức phương pháp khuyến khích và điều chỉnh
hành vi trong việc uốn nắn ngăn ngừa là chưa cao.
- 25 -