Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong mấy chục năm qua, việc phát triển trí tuệ cho học sinh Tiểu học là
một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia,
các bậc cha mẹ và thầy cô giáo. Tuy nhiên ngành Tiểu học của chúng ta vẫn
còn nhiều tồn tại, trong đó nổi bật là tình trạng lạc hậu về phương pháp dạy
học. Tình trạng này khiến cho giáo dục vừa chưa đáp ứng được nhu cầu đổi
mới của chính bản thân ngành Tiểu học, vừa chưa đáp ứng được nhu cầu đào
tạo ra những lớp người lao động mới, năng động, linh hoạt và sáng tạo phù
hợp với làn sóng đổi mới kinh tế, xã hội để hội nhập với khu vực và thế giới
hiện nay. Vì vậy phải đổi mới phương pháp dạy học.
Tục ngữ có câu: “Học phải đi đôi với hành”. Ở đây, người ta nói từ “học”
trước, từ “hành” sau nên có một số thầy (cô) giáo đã hiểu lầm. Họ cho rằng :
như vậy là việc học phải đi trước một bước. Học xong kiến thức lí thuyết và
rèn luyện kĩ năng, thì mới hành, đem áp dụng cho thực tế đời sống. Thật ra,
với câu tục ngữ này, cần hiểu cụm từ “đi đôi” ở đây hàm ý “học” và “hành” là
hai mặt của cùng một thực thể “học – hành”. Bất cứ lúc nào trong “học” cũng
có “hành” và trong “hành” cũng phải có “học”. Những người dạy học theo
phương pháp cũ vì quá coi trọng trình tự “học trước hành sau”, cho nên đã
lầm tưởng rằng : “học chỉ là phương tiện, còn hành mới là mục đích”. Suy
nghĩ phiến diện đó chính là cội nguồn sâu xa của lối dạy học “coi giáo viên là
trung tâm” ; trong đó, giáo viên chỉ việc thông báo kiến thức có sẵn, còn học
sinh thì tiếp thu thụ động, học thuộc lòng rồi làm bài tập. Có lúc học là
phương tiện, hành là mục đích (học để mà hành). Nhưng cũng có lúc hành là
phương tiện, còn học là mục đích (hành để mà học). Về cách thứ hai : “qua
hành để mà học”, hay làm thế nào để các kiến thức đi vào đầu của trẻ thông
Đối tượng: Học sinh từ lớp 1 đến lớp 5.
V. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp điều tra, quan sát.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
VI. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận được chia làm 3 phần:
Phần 1: Mở đầu
Mai Thị Thu Ngọc
2
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Phần 2: Nội dung (gồm 2 chương)
Chương 1: Cơ sở lí luận
I. Phiếu giao việc và cách thiết kế phiếu giao việc
1.1. Mâu thuẫn về thời gian trong việc tổ chức cho HS tiến hành các
hoạt động bằng tay
1.2. Nguyên tắc thiết kế PGV
1.3. Cấu tạo PGV
II. Sử dụng phiếu giao việc trong dạy học Toán ở Tiểu học
I. Phiếu giao việc và cách thiết kế phiếu giao việc
1.1. Mâu thuẫn về thời gian trong việc tổ chức cho HS tiến hành các hoạt
động bằng tay
1.1.1. Tổ chức cho HS “làm việc bằng tay” tốn rất nhiều thời gian
Ở phần thứ nhất ta nói về một định hướng đổi mới PPDH là cố gắng tổ
chức để cho HS có thể tiến hành các hoạt động bằng tay, gọi tắt là tổ chức để
HS “làm việc bằng tay”. So với các cách giảng giải, đàm thoại và trực quan
thông thường, cách dạy này hiển nhiên là hiệu quả hơn. Song bất cứ GV có
kinh nghiệm nào cũng có thể thấy ngay một nhược điểm quan trọng của nó là
tốn nhiều thời gian, do đó rất dễ “cháy giáo án”.
Vì sao vậy? Hãy xét một ví dụ:
Khi hướng dẫn HS tìm hiểu đề toán, nếu dùng lối đàm thoại cũ, GV chỉ
cần hỏi : “Bài toán cho biết gì và yêu cầu tìm gì?”. Lập tức có vài HS (thường
là HS khá, giỏi) giơ tay… GV chỉ định một em đứng dạy trả lời : “Bài toán
cho…, bài toán hỏi…”. GV (hoặc tổ chức cho HS) nhận xét đúng, sai… Thế
là xong, nhiều khi chỉ hết một phút.
Bây giờ đổi mới, chuyển đàm thoại thành bút đàm. GV phải cho HS lấy
bút chì (HS lấy… GV kiểm tra xem có đủ bút chì không…) GV phát lệnh
làm việc: “Gạch một gạch dưới cái đã cho, gạch hai gạch dưới câu hỏi (của
bài toán) !” Lại sợ HS không nhớ nổi công việc (vì hơi dài), GV cho vài em
nhắc lại công việc (mắt các em đọc đề toán trong sách tìm cái đã cho và cái
Mai Thị Thu Ngọc
4
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Mai Thị Thu Ngọc
5
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tuy nhiên những hướng giải quyết trên chỉ tiết kiệm được chút ít thời gian,
chứ không giải quyết được một cách căn bản vấn đề đã nêu. Cần phải tìm
những hướng đi mới.
Tôi xin giới thiệu một trong những hướng đi ấy đó là sử dụng PHIẾU GIAO
VIỆC (viết tắt PGV) để dạy học.
1.1.3. PGV là gì?
PGV là một hệ thống những công việc mà HS phải tiến hành để có thể tự
mình chiếm lĩnh được kiến thức mới, tự mình hình thành những kĩ năng mới.
Những công việc này đã được viết trước trên giấy có chừa sẵn chỗ trống để
HS làm.
Thường thì GV soạn PGV rồi cho in hoặc photocopy thành nhiều bản để
phát cho từng HS trong mỗi bài học. Ở một mức độ nào đó, có thể coi các
cuốn vở bài tập in sẵn hiện nay gần như là các PGV (trong lúc luyện tập).
1.1.4. Dùng PGV có thể tiết kiệm được nhiều thời gian
Dùng PGV có nhiều cái lợi, trước hết là tiết kiệm được thời gian. Bởi vì ở
PGV người ta đã làm sẵn cho các em nhiều việc, HS chỉ còn phải tự làm
những việc quan trọng nhất, những việc chính mà thôi.
Ví dụ 1:
Nếu dùng PGV (hoặc VBT) thì HS không phải làm việc chuyển đề bài từ
SGK (hoặc trên bảng lớp) vào vở của các em nữa bởi vì trong PGV đã in sẵn:
9 + 5 – 7 =... trẻ chỉ việc tính nhẩm trong đầu: “9 + 5 = 14, 14 – 7 = 7” rồi viết
7 sau dấu = để có 9 + 5 – 7 = 7. Lúc này trẻ chỉ phải làm có 1 thao tác: Viết 7.
So với cách dạy thông thường (HS làm 7 thao tác) thì cách dạy bằng PGV
(hoặc VBT) tiết kiệm thời gian hơn rất nhiều (HS chỉ phải làm 1 thao tác).
Phần thời gian tiết kiệm được ấy sẽ giúp bù lại số thời gian bị kéo dài do GV
tổ chức cho trẻ thao tác.
Ví dụ 2:
Trong ví dụ 1, PGV đã giúp ta tiết kiện được khoảng 60 – 70% thời gian.
Ví dụ 2 này sẽ cho thấy một trường hợp giúp ta tiết kiệm được khỏng 90 –
95% thời gian. Tức là thời gian làm việc trên PGV chỉ bằng
cho đến
thời gian làm việc, nếu không có PGV.
Khi cho HS lớp 2 giải bài tập : Điền số vào ô trống trong bảng:
Mai Thị Thu Ngọc
7
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Số hạng
việc. Bởi vì, muốn thế thì chỉ có mấy cách sau:
- Hoặc là cho HS điền số ngay vào SGK. Điều này rất khó vì:
+ Thứ nhất SGK là tủ sách dùng chung từ năm này qua năm khác, nếu điền số
ngay vào SGK thì HS năm sau sẽ không dùng sách này được nữa.
+ Thứ hai là ô trống ở SGK khá nhỏ.
+ Thứ ba là sách lại dày nên tay HS phải đè mạnh các trang giấy xuống mới
có thể viết được.
- Hoặc là cho các em kẻ một cái bảng như ở SGK vào vở sau đó tính toán
để điền các số thiếu vào các ô trống. Cách này tốn rất nhiều thời gian vì HS kẻ
bảng rất lâu, có khi hết cả tiết học mà vẫn chưa xong, còn đâu thời gian cho
các bài luyện tập khác.
- Hoặc dùng bảng con : GV chỉ vào ô trống nào thì HS ghi vào bảng con
(hoặc vở nháp) số tương ứng. Song cách này không giúp trẻ thấy được tương
quan giữa các số trong cột.
Mai Thị Thu Ngọc
8
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Do đó, trên thực tế không thể nào tổ chức chu đáo cho 100% HS giải bài
này ở trên lớp được.
Tuy nhiên, Nếu dùng PGV (hoặc VBT) Thì vấn đề trở lên hết sức đơn giản.
Trên PGV (hoặc VBT) đã có kẻ sẵn bảng nêu trên, HS chỉ cần nhìn vào đó
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.2.2. Một số ví dụ minh họa
Ví dụ 1:
Ở lớp 2 khi dạy bài “Tổng - Các số hạng của tổng”, một số GV thường nêu
các phép cộng, chẳng hạn:
6+3=9
8 + 2 = 10
5 +2 = 7
10 + 9 = 19
rồi lần lượt chỉ vào từng phép cộng hỏi:
- Trong phép cộng 6 + 3 = 9, 6 và 3 là gì? (số hạng) còn 9 là gì (tổng)
- Trong phép cộng 5 + 2 = 7, Các số hạng những số nào? (5 và 2). Tổng là số
nào? (7) vv....
Trong cách dạy này, “kênh tiếng” được xem trọng vì ở đây chủ yếu là
thầy, trò đàm thoại với nhau. Còn “kênh hình” thì khá mờ nhạt, nó chỉ thể
hiện chút ít qua việc GV chỉ bảng hoặc HS quan sát các phép tính trên bảng.
Làm thế nào để chuyển “từ tiếng sang hình” trong trường hợp này? Có
nhiều cách: sau đây là một cách:
Người ta viết các phép cộng trên xung quanh một bông hoa (có ghi chữ số
hạng) và một chiếc lá ( có ghi chữ tổng)
Ở đầu bài có ghi lệnh “Nối (theo mẫu)”
1. Nối (theo mẫu):
Mai Thị Thu Ngọc
nhằng như cuộn chỉ rối, làm sao mà GV theo dõi để biết được các em làm
đúng hay sai?” Nếu vậy thì cần cách thể hiện khác. Chẳng hạn có thể dùng
bảng kẻ ô như sau:
Mai Thị Thu Ngọc
11
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Phép tính
Số hạng
Số hạng
Tổng
6+3=9
6
3
9
3giờ
(B)
GV kẻ bảng rồi lần lượt đặt câu hỏi để HS tính nhẩm rồi điền số vào bảng:
Mai Thị Thu Ngọc
12
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Thời gian đi
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1giờ
2giờ
3giờ
(C)
Quãng đường đi được
4km
13
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Thời gian đi
1 giờ
2 giờ
3 giờ
Quãng đường đi được
4km
8km
12km
(E)
- Vẽ sự biến đổi của quãng đường từ 4km lên 8km! (cả lớp vẽ mũi tên phía
dưới kèm theo dấu × 2).
- GV nhấn mạnh: Vậy khi thời gian tăng gấp 2 lần thì quãng đường cũng
hình nhiều lúc không dễ dàng gì. Nó đòi hỏi sự suy nghĩ sáng tạo và những
quá trình lao động sư phạm nghiêm túc của người GV. Nó đòi hỏi những thói
quen học tập mới của HS, những thói quen dạy học mới của GV.
1.3. Cấu tạo PGV
1.3.1. Ba bộ phận của PGV
Trong điều kiện dạy và học hiện nay, chưa thể nêu ra những yêu cầu quá
cao và không khả thi đối với một PGV. Vì thế trong phạm vi cuốn sách này
chúng ta chỉ xét tới loại PGV của một tiết dạy bài mới gồm có ba bộ phận,
mỗi bộ phận này là một phiếu nhỏ. Đó là :
a) Phiếu kiểm tra
b) Phiếu học
c) Phiếu luyện tập
Ba bộ phận này tương ứng với các bước lên lớp truyền thống:
- Kiểm tra bài cũ.
- Dạy bài mới.
- Luyện tập, củng cố.
Riêng bước “Dặn dò và ra bài tập về nhà” thì GV có thể cho HS ghi vào
vở hoặc GV ghi thêm vào phần cuối của phiếu học tập.
Nơi nào có điều kiện thì in riêng ba phiếu này vào ba tờ giấy khác nhau,
lần lượt phất cho từng HS trong mỗi bước lên lớp. Nơi nào không có điều
kiện thì in chung cả ba phiếu đó lên một trang (hoặc tờ) giấy rồi phát cho HS
theo từng tiết. Trong điều kiện còn nghèo của nước ta, tôi nghĩ rằng việc in
chung cả ba phần vào một trang (tờ) giấy khả thi hơn.
Mai Thị Thu Ngọc
15
K35A - GDTH
x – 8 = 11
x–6=5
Thế thì GV ghi vào phiếu kiểm tra các bài tập giống hệt như thế, chỉ có
khác là có chừa sẵn chỗ trống để trẻ làm:
Tìm x:
x – 5 = 12
Mai Thị Thu Ngọc
x – 10 = 8
16
x–7=6
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
......................
....................
“tìm số bị trừ” không thì có thể ghi thêm vào phiếu kiểm tra đoạn sau:
Điền vào chỗ chấm.
Muốn tìm số bị trừ ta lấy ...........................................
Hoặc điền từ vào khung trống:
Số bị trừ =
+
c) Nếu dùng phiếu kiểm tra, thì đầu giờ GV phát phiếu cho HS và nêu thời
gian làm bài, sau đó để các em tự làm. Việc nhận xét bài làm, chấm và chữa
như thế nào thì tùy từng trường hợp, GV có thể tiến hành theo các cách khác
nhau.
1.3.1.2. Phiếu học
a) Có thể coi phiếu học là một hệ thống công việc được sắp xếp một cách
khéo léo để HS tự làm, qua đó các em có thể tự mình tìm ra được kiến thức
mới, GV chỉ cần nói, hỏi hoặc hướng dẫn rất ít.
b) Ví dụ: Dạy bài “chu vi hình tròn” (xem [4], tr.97):
Mục đích của phiếu học là:
- Tổ chức cho HS làm việc để tự các em có thể tìm ra được quy tắc và
công thức tính chu vi hình tròn.
Mai Thị Thu Ngọc
17
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
×
C = ... x 3,14
3,14 x d = ...
Giải thích thêm về cách sử dụng:
V1: GV dặn HS mang theo (từ tiết trước) sợi dây và lon sữa.
V2: GV cần làm mẫu bằng cách uớm thước vào chính giữa đáy để HS bắt
chước (tránh tình trạng các em đo lệch tâm)
- Có thể ghép chung V4 vào với V2. Lúc đó V2 sẽ là: Đo độ dài đường
kính đáy lon được
cm
3,14
cm; còn V5 phải sửa lại là “V4:
So sánh kết quả ở V2 và V3 em thấy”:
V3: Cách đánh dấu có thể là thắt nút, hoặc bấm móng tay để giữ chặt, hoặc
vạch mực ...
- Sau khi HS làm xong V3, GV nên lưu ý các em: Độ dài đoạn dây chính
là chu vi hình tròn ở đáy lon.
V4: có thể thực hiện bằng máy tính bỏ túi cho nhanh.
Mai Thị Thu Ngọc
18
K35A - GDTH
Giả sử ta đang xem xét việc soạn phiếu luyện tập cho tiết 14 lớp 2 “9 cộng
với một số: 9 + 5” (xem, [3], tr.15).
Cần phải có các bài tập về số học, chẳng hạn:
9 + 7,
9 + 4,
6 + 9,
9 + 9,
v.v…
7 + 2 + 3,
Mai Thị Thu Ngọc
10 – 1 + 8, v.v…
19
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Số hạng
9
* Tìm x:
x + 9 = 16
A. x = 8
B. x = 6
C. x = 7
D. x = 5
B. x = 8
C. x = 10
D. x = 9
5 + x = 14
A. x = 7
* Điền dấu (>,
v.v…
1.3.1.4. Ghi chú:
Có thể thêm :
- PGV về nhà.
- Phiếu bổ sung cho HS giỏi để các em làm thêm.
- Hoặc có nhiều loại PGV cho các đối tượng HS có trình độ khác nhau.
- Ở một chừng mực nào đó, có thể coi phần lớn các vở bài tập in sẵn hiện
nay là phiếu luyện tập được đóng sẵn thành tập.
- Nên soạn PGV vào các tờ giấy rời, mỗi tiết phát cho HS một phiếu
sau đó GV thu để chấm. Tiết sau lại phát phiếu khác. Tuy nhiên, nơi nào gặp
khó khăn thì cũng có thể đóng thành tập để giảm giá thành của bộ phiếu, song
cách này không tốt vì trẻ có thể làm trước.
Mai Thị Thu Ngọc
21
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
II. Sử dụng PGV trong dạy học Toán ở Tiểu học
2.1. Hình thức soạn bài mới tương ứng với lối dạy học bằng PGV
2.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới cách soạn bài
Như ta đã biết thì bản thân PGV đã là một sự phân bậc, trong đó người soạn
đã tính toán kĩ từng bước nhỏ vừa với sức của trẻ, để các em có thể tự làm
được; qua đó có thể tự vươn lên để chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kĩ
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Bên trái là các việc làm của GV
- Bên phải là các việc làm của HS.
Hai phần này được sắp xếp song song với nhau theo trình tự thời gian.
Ngoài ra, các công việc (hoặc các nhóm công việc) đều được đánh số một
các rõ ràng để GV tiện sử dụng khi lên lớp.
2.1.3. Ví dụ
Giả sử PGV của bảng nhân 2 (xem [3], tr.95) là:
A. Phiếu kiểm tra:
1. Viết thành phép cộng rồi tính kết quả:
6 x 2 = ... + ... = ...
4 x 3 = ......... = ...
5 x 4 = .......... = ...
2. Tính:
7 + 7 + 7 = ...
Suy ra: 7 x ... = ...
3. Tính:
6 x 3 = ...
7 x 8 = ...
4. Điền vào chỗ chấm:
Phép nhân là phép cộng các số hạng ...............................
B. Phiếu học:
1. Làm tính cộng rồi suy ra kết quả phép nhân:
2 được lấy 1 lần
K35A - GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2+2+2+2+2+2=…
2x6=…
2+2+2+2+2+2+2=…
2x7=…
2+2+2+2+2+2+2+2=…
2x8=…
2+2+2+2+2+2+2+2+2=…
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
..........................
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2x9=
2 x 10 =
2x6=
2. Mỗi con vịt có 2 chân. Hỏi 8 con vịt có bao nhiêu chân?
Giải:
……………………………………………………………………………….…
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
3. a) Mẹ cho Minh mỗi lần 2 cái kẹo.
b) Mẹ đã mua vải 4 lần, mỗi lần mua 2m
Mẹ đã cho 4 lần. Vậy mẹ đã cho Minh số vải. Vậy số vải mẹ đã mua là:
kẹo là:
- Giải bằng phép cộng:
- Giải bằng phép cộng:
……………………………………………
2 + … + … + … + … = … (cái)