Phương pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc dạy trẻ kể truyện văn học - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ thuở ấu thơ, trẻ em đã có nhu cầu lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử được vật chất hóa trong nền văn hóa của loài người. Đó là quá trình
chỉ được thực hiện trong điều kiện có sự hướng dẫn thường xuyên của người
lớn, tức là giáo dục.
Ở nước ta đối với trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông (trước 6 tuổi),
Giáo dục mầm non có nhiệm vụ hướng dẫn sự phát triển ấy.
Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân cách
con người mới Việt Nam, và là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục
Quốc dân. Trong Báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho con người năm
2005, Unessco đã đánh giá: “Những năm đầu tiên của cuộc sống là giai đoạn
chủ yếu của sự phát triển trí tuệ, nhân cách và hành vi” và “bằng chứng cho
thấy rằng trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở trước tuổi học có liên quan tới
việc phát triển nhận thức và xã hội tốt hơn”. L.N.Tônxtôi đã nhấn mạnh ý
nghĩa của giai đoạn trước tuổi đi học: “Tất cả những gì mà đứa trẻ có sau này
khi trở thành người đều thu nhận được trong thời thơ ấu. Trong quãng đời
còn lại, những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng 1% những cái đó mà thôi”.
Ông đã nêu ra một phép so sánh cho thấy tầm quan trọng của giáo dục mầm
non như sau: “Nếu từ đứa trẻ 5 tuổi đến người lớn, khoảng cách chỉ là một
bước thì đứa trẻ sơ sinh đến đứa trẻ 5 tuổi là khoảng dài kinh khủng”.
Để có những con người lao động, người công dân thực sự của đất nước
trong tương lai, việc đào tạo con người mới cần phải bắt đầu ngay từ thuở lọt
lòng. Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những cơ
sở ban đầu của nhân cách con người mới, làm cho trẻ phát triển toàn diện, hài
hòa và cân đối, tạo điều kiện tốt cho những bước phát triển sau này, xây dựng

SV: Đặng Thị Dinh

1

Daghextan đã nói: “Khi chết, người cha để lại cho con cái của mình nhà cửa,
ruộng vườn, thanh kiếm và cây đàn Pandua. Nhưng một thế hệ khi mất đi thì
để lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói. Ai có tiếng nói người ấy sẽ xây dựng nhà

SV: Đặng Thị Dinh

2

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

mình, sẽ cày được ruộng, đúc được kiếm, lên được dây đàn Pandua và gảy
được nó”. Trẻ em nắm trong tay tương lai của đất nước, do đó việc phát triển
tiếng mẹ đẻ cho trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo là một nhiệm vụ vô cùng quan
trọng, mà ở độ tuổi mẫu giáo lớn nhiệm vụ đó phải được hoàn thành. Vì vậy
việc dạy trẻ lời nói mạch lạc sẽ là tiền đề, là công cụ để trẻ lĩnh hội tri thức
khi trẻ bước vào lớp một.
Thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non, đặc biệt là lời nói mạch lạc, chúng tôi nghiên cứu vấn đề phát triển lời
nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn. Ở đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào việc
phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại
truyện văn học. Thông qua dạy trẻ kể lại truyện văn học dưới sự hướng dẫn
của giáo viên, trước hết sẽ giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, quan trọng hơn nó sẽ góp
phần trang bị những kĩ năng phát triển lời nói mạch lạc. Dạy trẻ kể lại truyện
văn học sẽ giúp trẻ chọn lựa những viên gạch tốt nhất xây nên lâu đài ngôn
ngữ cho riêng mình.Vai trò của giáo viên trong việc phát triển lời nói mạch
lạc cho trẻ - cụ thể chúng tôi muốn nói đến ở đây là việc dạy trẻ kể lại truyện
văn học là vô cùng quan trọng. Giáo viên mầm non là những người trực tiếp

ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở những đánh giá chung về đặc điểm
sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học
với những bộ môn khác ông đã đưa ra được một số phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ. Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho cả giáo viên và sinh viên
ngành mầm non, cũng như các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.
Cùng với Nguyễn Xuân Khoa, cuốn “Giáo trình phương pháp phát
triển lời nói trẻ em" của Đinh Hồng Thái, NXBĐHSP, năm 2007 đã viết rất
chi tiết về lời nói mạch lạc và các hình thức, phương pháp phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ mẫu giáo.
Trẻ 5 - 6 tuổi là lứa tuổi phát triển nhất trong giai đoạn mẫu giáo, sắp
bước vào môi trường hoàn toàn mới mẻ nên lời nói mạch lạc trở thành một
yếu tố không thể thiếu. Xuất phát từ góc nhìn này, luận án tiến sĩ của Vũ Thị
Hương Giang, ĐHSP Hà Nội, 2007 đã bàn về “Một số phương pháp dạy trẻ 5
- 6 tuổi kể chuyện với đồ chơi nhằm phát triển lời nói mạch lạc”. Luận án này
đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận của việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện với đồ chơi, thực trạng việc sử dụng các

SV: Đặng Thị Dinh

4

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

biện pháp dạy trẻ kể chuyện với đồ chơi nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho
trẻ ở các trường mầm non hiện nay. Bên cạnh đó, trong luận án của mình, Vũ
Thị Hương Giang còn xây dựng được một số biện pháp kể chuyện với đồ chơi


Khóa luận tốt nghiệp

cho trẻ, tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá và kiểm tra giả thiết khoa
học, đồng thời xử lí kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê.
Hồ Lam Hồng cũng nghiên cứu vấn đề này trong luận văn: “Sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua kể chuyện”.
Tạp chí Giáo dục Mầm non có rất nhiều bài viết về cách tổ chức, quản
lý, tin hoạt động, những sáng kiến kinh nghiệm dạy học của giáo viên và các
cán bộ quản lý ngành mầm non. Ở đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề
phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trong tạp chí số 1/2006, Đinh Thị Uyên có bài
dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non Hàn
Quốc. Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam hiện
nay.
Và còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đã đi vào tìm hiểu
về ngôn ngữ và lời nói mạch lạc của các độ tuổi, các giai đoạn. Tựu chung lại,
các nhà khoa học đều muốn tìm ra các hình thức và biện pháp để phát triển lời
nói mạch lạc cho trẻ hiệu quả nhất, nâng cao chất lượng dạy và học của ngành
giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước ta nói chung. Tuy
nhiên, cho tới thời điểm này, chưa có một ai và chưa có một công trình khoa
học nào đi sâu vào khai thác việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo
lớn thông qua dạy trẻ kể lại truyện văn học. Với đề tài nghiên cứu này, chúng
tôi đã tìm được cho mình một hướng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá
và thực nghiệm của chính bản thân mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại truyện văn học.
- Phạm vi nghiên cứu: trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi).
4. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu

+ Viết khóa luận
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung của khóa luận gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Chương 2: Phân tích và miêu tả kết quả của phương pháp phát triển
lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại truyện văn học.

SV: Đặng Thị Dinh

7

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lý luận
1. Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn
1.1. Khái niệm lời nói mạch lạc
Nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra các định nghĩa về lời nói mạch lạc của
trẻ em trong đó có những điểm chung và điểm khác nhau. Trong cuốn "Giáo
trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em" của Đinh Hồng Thái đã nêu ra
định nghĩa của Tiến sĩ Ngôn ngữ học Xôkhin - tác giả của nhiều cuốn sách
giáo khoa, phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em. Ông đã định nghĩa
đơn giản như sau:
"Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác
định, được thực hiện một cách logic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có
tính biểu cảm".

về nội dung và phải có kĩ năng ngôn ngữ phát triển tốt.
Trẻ học độc thoại khó vì ít nghe trong đời sống hàng ngày.
1.3. Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn
Ở trẻ mẫu giáo lớn, lời nói mạch lạc đã đạt được tới trình độ cao hơn
hẳn so với hai độ tuổi trước (mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ).
Ở trẻ mẫu giáo bé phù hợp với hình thức đơn giản của lời đối thoại (trả
lời câu hỏi), nhưng ở đây trẻ thường xa rời với nội dung câu hỏi. Chúng mới
chỉ bắt đầu nắm được kĩ năng bày tỏ một cách mạch lạc những ý nghĩ của
mình, mắc nhiều lỗi trong xây dựng câu, đặc biệt là câu phức.
Lời nói của trẻ mang tính tình huống, chủ yếu là diễn đạt một cách vội
vàng. Những lời nói mạch lạc đầu tiên của trẻ được cấu tạo từ hai đến ba câu,
nhưng cũng cần phải xem đó là chính sự thể hiện mạch lạc. Dạy lời nói hội
thoại cho trẻ mẫu giáo bé và sự phát triển của nó sau này là cơ sở để hình
thành lời nói độc thoại.
Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ sự phát triển lời nói mạch lạc chịu ảnh hưởng
lớn của việc tích cực hóa vốn từ (khối lượng lúc này đã đạt đến khoảng 700
từ) lời nói mạch lạc cho trẻ đã trở nên được mở rộng hơn, có trật tự hơn, mặc
dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện.
Trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu được học đặt những câu chuyện nhỏ theo
tranh, theo đồ chơi. Nhưng phần lớn câu chuyện của trẻ giờ đây chỉ đơn thuần

SV: Đặng Thị Dinh

9

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp



Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

Mẫu giáo lớn là lứa tuổi cao nhất của bậc học Mầm non, ở tuổi này
trong nội dung dạy học cho trẻ có thêm một nội dung mới hết sức quan trọng
là chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một. Lứa tuổi này, nhu cầu nhận thức của trẻ
phát triển mạnh, nhu cầu nhận thức là nhu cầu hướng tới tiếp thu những tri
thức mới, phương pháp mới, nhu cầu này sẽ phát triển thành động cơ học tập
nếu như trẻ em được vào lớp một, biểu hiện là trẻ rất thích được đến trường.
Tròn 6 tuổi trẻ em phải có vốn ngôn ngữ phong phú, diễn đạt những
câu nói đơn giản, hiểu được những câu đơn giản người khác nói.
Do vậy phát triển lời nói mạch lạc là một nhiệm vụ quan trọng trong
việc giáo dục trẻ mẫu giáo lớn.
2. Dạy trẻ kể lại truyện văn học
2.1. Đặc điểm của phương pháp dạy trẻ kể lại truyện văn học
Kể lại truyện văn học - đó là thuật lại một văn bản đã học, đã có sẵn:
một câu chuyện dân gian, một truyện ngắn do các nhà văn hiện đại sáng tác
phù hợp với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, cũng có thể có đôi phần sáng tạo trong cách
kể chuyện bên cạnh yêu cầu đảm bảo tính chính xác của cốt truyện.
Trong giờ kể lại truyện văn học, trẻ được tiếp cận với ngôn ngữ văn
học, ghi nhớ những từ, câu có xúc cảm, có hình ảnh sinh động. Tính nghệ
thuật cao của tác phẩm được lựa chọn kể lại, giá trị của hình thức kết cấu
ngôn ngữ dạy trẻ xây dựng câu chuyện một cách rõ ràng, trật tự. Không bỏ
qua cái chính, nhằm phát triển kỹ năng nói của trẻ.
Khi chọn lựa các tác phẩm để cho trẻ kể lại, cô giáo cần tính đến các
yếu tố sau: giá trị nghệ thuật cao, có tính tư tưởng, có tính sinh động, ngắn
gọn và hình ảnh, có sự rõ ràng và tuần tự trong triển khai hành động, biểu

cách đơn giản những câu chuyện quen thuộc đối với trẻ, cô giúp trẻ ghi nhớ
có chủ định sự xuất hiện của các nhân vật và các hành động của chúng trong
truyện. Thường thì trẻ ghi nhớ tốt phần mở đầu câu chuyện vì thế chúng tự kể
lại được. Trong trường hợp trẻ lúng túng, giáo viên tham gia kể chuyện cùng
trẻ, nhắc trẻ nhớ lại văn bản đó, trẻ nhắc lại một hai từ hoặc nguyên văn cả
câu. Dần dần trẻ chuyển sang kể theo các câu hỏi. Các câu hỏi của cô phải
hướng trẻ vào việc hình thành tuần tự các sự kiện gọi tên các nhân vật, nhớ lại
văn bản kể. Để củng cố các kĩ năng kể lại truyện, cô cần phải luyện cá nhân

SV: Đặng Thị Dinh

12

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

cho các cháu vào lúc trẻ trả lời - nhất là những lúc trẻ rụt rè, ít tích cực tham
gia vào giờ học.
2.3. Yêu cầu trong giờ dạy trẻ kể lại truyện văn học
Yêu cầu đối với trẻ từ giờ học này đến giờ học khác đang tăng dần lên
và kết quả cũng tốt dần lên: văn bản kể được tái tạo chính xác, đầy đủ hơn, trẻ
truyền đạt biểu cảm hơn. Nếu trẻ sử dụng lời kể của mình, cô giáo chú ý
hướng cho trẻ kể lại đúng theo tư tưởng của tác giả và tác phẩm.
Đánh giá truyện kể lại của trẻ cũng là một biện pháp quan trọng trong
nhóm mẫu giáo nhỡ, cô có thể tiến hành công việc này. Trong khi nhận xét cô
phân tích ngắn gọn về câu chuyện, về những điểm được và chưa được, nhất
thiết phải động viên sự cố gắng của trẻ để trẻ tự tin hơn.
Phương pháp dạy trẻ kể lại truyện trong các tiết học phụ thuộc vào trình

BIỆN PHÁP NÀY CẦN CÁC BƯỚC CƠ BẢN NHƯ SAU
Bước 1: Cô kể diễn cảm truyện cho trẻ nghe kết hợp cho trẻ xem tranh minh
họa.

Bước 2: Đàm thoại với trẻ về nội dung truyện. Cô chỉ dẫn cho trẻ những từ trẻ
quên hoặc nhắc lại lời thoại.

Bước 3: Cho trẻ kể lại truyện. Cô chỉ dẫn những trẻ yếu, hướng dẫn trẻ cách
thể hiện ngữ điệu nhân vật, tâm trạng, tính cách nhân vật phù hợp.

Bước 4: Cô (hoặc 1 trẻ giỏi) kể lại cho trẻ nghe toàn bộ câu chuyện để trẻ tri
giác lại tổng thể tác phẩm. Có thể kết hợp cho trẻ xem băng đĩa.

Bước 5: Cô nhận xét, đánh giá (phần nhận xét phải hết sức nhẹ nhàng, ngắn
gọn).

SV: Đặng Thị Dinh

14

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

2.4.2. Biện pháp cho trẻ kể lại truyện tập thể
BIỆN PHÁP NÀY CẦN CÓ CÁC BƯỚC CƠ BẢN NHƯ SAU
Bước 1: Cô giáo hoặc một trẻ giỏi kể lại đoạn đầu của câu chuyện hoặc toàn
bộ câu chuyện.


Bước 3: Cô cùng trẻ lập dàn ý chi tiết truyện vừa kể.

Bước 4: Cô cho trẻ suy nghĩ về dàn ý chi tiết truyện vừa lập sau đó hướng dẫn
cho trẻ về cách thức kể chuyện: cách kể đoạn mở đầu, đoạn diễn biến, đoạn
kết thúc truyện.

Bước 5: Cô nhận xét, đánh giá câu chuyện kể của trẻ có theo dàn ý đã lập ra
hay không.
2.4.4. Biện pháp sử dụng tranh (rối) minh họa truyện
CÁC BƯỚC CƠ BẢN KHI SỬ DỤNG BIỆN PHÁP NÀY
Bước 1: Cô kể diễn cảm truyện cho trẻ nghe.

Bước 2: Cô đàm thoại với trẻ về nội dung câu chuyện.

Bước 3: Trẻ nghe cô kể diễn cảm, kết hợp với xem tranh minh họa truyện.

Bước 4: Cô tập cho trẻ tự kể lại chuyện, vừa quan sát tranh vừa kể.

Bước 5: Cô nhận xét, đánh giá.

SV: Đặng Thị Dinh

16

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

2.4.5. Biện pháp sử dụng băng đĩa phim minh họa truyện

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

viên có ý thức trò truyện, sửa lời nói cho trẻ cũng không thể làm đầy đủ được
vì số trẻ trong một lớp quá đông.
Trong hoạt động học tập cũng như vui chơi, hiện tượng giáo viên nói
nhiều hơn trẻ vẫn là phổ biến.
Do hạn chế về thời gian của tiết học, giáo viên sợ trẻ trả lời không
chính xác nên thường áp đặt trẻ trả lời hoặc kể lại truyện theo ngôn ngữ, lời
nói của cô nên trẻ rất ít khi được sử dụng ngôn ngữ riêng của mình để tự thể
hiện, tự diễn đạt một vấn đề nào.

SV: Đặng Thị Dinh

18

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ MIÊU TẢ KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG
PHÁP PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO
LỚN THÔNG QUA DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN VĂN HỌC

I. Biện pháp sử dụng lời chỉ dẫn của cô
Biện pháp sử dụng lời chỉ dẫn của cô là một biện pháp quan trọng, là sự
giao lưu giữa cô và trẻ. Nó được sử dụng khi trẻ quên lời kể hoặc một từ nào

cảnh; nét mặt, cử chỉ đã tự tin; tư thế phù hợp với ngữ cảnh. Vì thế mà qua
khảo sát ta nhận được kết quả: trẻ thể hiện văn hóa kể đúng chiếm 50%.
Nhưng bên cạnh đó cũng vẫn còn 50% trẻ thể hiện văn hóa kể sai. Ví dụ: em
Bùi Anh Phong (lớp A3, trường mầm non Sao Mai - Đông Anh - Hà Nội) kể
lại truyện "Sự tích dưa hấu". Khi kể câu: "Đã thế, ta cho nó cứ thử trông cậy
vào hai bàn tay xem có sống nổi không". Mặc dù em đã được cô hướng dẫn
về văn hóa kể: giọng phải to, thể hiện sự nóng giận, nhịp kể liên tục, nét mặt,
cử chỉ thể hiện sự không vừa ý (cau mày, mặt hầm hầm…) nhưng em Anh
Phong vẫn chưa thể hiện được những điều đó, giọng kể cứ đều đều không dứt
khoát, kể như đọc thuộc.
Về mặt từ vựng, qua khảo sát cho ta kết quả: vốn từ tự nhiên trẻ dùng
đúng và nhiều nhất (đúng 39 từ chiếm 70,9%) so với vốn từ xã hội (64,7%) và
vốn từ sinh hoạt (61,8%). Ví dụ em Phạm Tuấn Đạt (lớp A3, trường mầm non
Sao Mai - Đông Anh - Hà Nội) kể lại truyện "Thạch Sanh". Em nói được rất
nhiều từ tự nhiên: trăn, gốc đa, đại bàng, hang, hoa, vách đá, sắt, vàng bạc,
châu báu, ngọc ngà, mưa giông, sét. Vốn từ xã hội: Thạch Nghĩa, Cao Bình,
Thạch Sanh, Ngọc Hoàng, Lý Thông. Vốn từ sinh hoạt: đào (mương), đắp
(đường), vét (giếng), nấu (nướng). Bên cạnh đó danh từ được trẻ sử dụng
nhiều nhất so với động từ và tính từ, đặc biệt là danh từ riêng. Ví dụ như:
Thạch Sanh, Ngọc Hoàng, Lý Thông, vua Thủy Tề.
Về mặt ngữ pháp, chúng tôi xét hai loại câu mà trẻ thường sử dụng, câu
đơn và câu ghép. Qua khảo sát cho ta thấy trẻ sử dụng và nói câu đơn chiếm
70,8%, nhiều hơn so với câu ghép chiếm 46,9%. Trẻ đã biết đặt câu, trẻ nói
được nhiều câu đơn hơn là câu ghép, đặc biệt là câu đơn mở rộng. Chẳng hạn
như em Nguyễn Minh Châu (lớp A3, trường mầm non Sao Mai - Đông Anh Hà Nội) kể lại truyện "Sự tích dưa hấu".

SV: Đặng Thị Dinh

20


câu đơn (nói đúng 27 câu chiếm 71,1%) hơn so với câu ghép (trẻ nói đúng

SV: Đặng Thị Dinh

21

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

chiếm 45,5%). Trẻ đã biết đặt câu, đặc biệt là câu đơn mở rộng và câu ghép.
Cụ thể như em Nguyễn Gia Bảo (lớp A3, trường mầm non Sao Mai - Đông
Anh - Hà Nội) kể lại truyện "Quả bầu tiên": "Mùa xuân tươi đẹp đã tới. Con
én nhỏ tìm về ngôi nhà của chú bé. Nó kêu lên vui mừng khi thấy chú bé. Én
bay sà xuống và én thả trước mặt chú bé một hạt bầu".
Qua bảng khảo sát về lời nói hội thoại và lời nói độc thoại, chúng tôi
đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến kết quả như trên:
Một số trẻ yếu chưa phát âm được các nhóm âm vị: "ch - tr", "l - n".
Trẻ yếu chưa biết cách thể hiện ngữ điệu giọng nhân vật, tâm trạng,
tính cách nhân vật, sao cho phù hợp với tác phẩm.
Trẻ thỉnh thoảng quên lời thoại của truyện, nhiều từ dùng chưa chính
xác.
Nhiều trẻ yếu vẫn chưa biết đặt câu (câu đơn, câu ghép…).
Từ những nguyên nhân trên, ta đưa ra một số biện pháp khắc phục như
sau:
Cô giáo phải là người phát âm chuẩn, chính xác, cô đọc mẫu và giúp
trẻ phân biệt được các nhóm âm vị: "ch - tr", "l - n".
Cô kể diễn cảm truyện cho trẻ nghe, thu hút sự tập trung chú ý của trẻ.
Cô chỉ dẫn trẻ biết và thể hiện được ngữ điệu giọng nhân vật, tâm trạng, tính

chiếm 53,1% và trẻ phát âm sai 15 từ (lúi (núi), làng (nàng), ngá (ngã), dáy
núi (dãy núi)…) chiếm 46,9%. Chẳng hạn như em Nguyễn Thị Kiều Oanh
(lớp A3, trường mầm non Sao Mai - Đông Anh - Hà Nội) kể lại truyện "Sự
tích dưa hấu" phát âm sai thanh điệu dấu "~" của em thành dấu "".
Cô hỏi: An Tiêm đã nghĩ gì khi thấy con chim ăn quả lạ?
Trẻ trả lời: An Tiêm nghĩ thầm: "Quả mà chim ăn được thì chắc hẳn
người cúng (cũng) ăn được".
Về văn hóa kể của trẻ, trẻ vẫn chưa thể hiện được giọng điệu, nét mặt,
cử chỉ, điệu bộ, tư thế sao cho phù hợp với ngữ cảnh của câu chuyện, đặc biệt
là đoạn mà trẻ sẽ kể. Vì thế mà kết quả khảo sát cho ta thấy trẻ có văn hóa kể
đúng chiếm 48,8% và trẻ có văn hóa kể sai chiếm 51,2%. Cụ thể như em
Nguyễn Minh Châu (lớp A3, trường mầm non Sao Mai - Đông Anh - Hà Nội)
khi kể lại một đoạn của truyện "Sự tích Hồ Gươm": "Thanh gươm đó là của

SV: Đặng Thị Dinh

23

Lớp: K34 – Giáo dục Mầm non


Khóa luận tốt nghiệp

ta, ta cho Lê Lợi mượn để giết giặc Minh. Các ngươi hãy mang thanh gươm
đó về dâng cho Lê Lợi". Em chưa kể được diễn cảm, giọng thì đều đều, thỉnh
thoảng còn quên nên không thể hiện được lời nói uy nghiêm của Long Quân
(giọng vang, rõ ràng, dứt khoát).
Về từ vựng, ta xét vốn từ tự nhiên, vốn từ sinh hoạt và vốn từ xã hội.
Qua khảo sát, thì ta thấy trẻ sử dụng đúng và nhiều vốn từ tự nhiên nhất
(66,7%) và vốn từ sinh hoạt trẻ sử dụng đúng và ít nhất (46,2%). Và trẻ sử

sát thì trẻ vẫn còn phát âm sai nhóm âm vị "l - n" nên kết quả là trẻ phát âm
sai chiếm 44,1% (nửa (lửa), nàng (làng), nên (lên), nưới (lưới), nà (là)) và trẻ
phát âm đúng chiếm 55,9%.
Về văn hóa kể của trẻ, nhiều trẻ chưa nắm rõ được văn hóa kể của đoạn
trẻ sẽ kể như thế nào nên dẫn đến trẻ có văn hóa kể sai chiếm 58,1% và trẻ có
văn hóa kể đúng chiếm 41,9%. Cụ thể như em Nguyễn Thu Hoài (5 - 6 tuổi,
lớp A3, trường mầm non Sao Mai - Đông Anh - Hà Nội) khi kể lại truyện
"Cây khế". Kể đoạn: "Người em vừa khóc vừa nói: Chim ơi, nhà tôi chỉ có
một cây khế này thôi, tôi định bán khế lấy tiền đong gạo. Chim ăn hết khế thì
gia đình tôi sống bằng gì?". Kể đoạn này, Thu Hoài chưa thể hiện được văn
hóa kể (giọng em đều đều, hơi nhỏ, điệu bộ, nét mặt chưa thay đổi để thể hiện
tâm trạng của nhân vật người em: buồn, khóc, thương, tiếc; nhịp kể không
liên tục do em còn quên).
Về từ vựng, ta xét vốn từ tự nhiên, vốn từ xã hội và vốn từ sinh hoạt.
Vốn từ của trẻ khá phong phú, từ bảng khảo sát cho ta kết quả trẻ nói đúng và
nhiều vốn từ tự nhiên nhất (61,8%) rồi đến vốn từ sinh hoạt (56,7 %) và cuối
cùng là vốn từ xã hội (53,6%).
Cụ thể trong truyện "Sự tích dưa hấu", trẻ nói được:
Vốn từ tự nhiên: núi, sông, biển, trời, nắng, rừng, hoa quả, hòn đảo, hốc
đá, chim, ngao, cá…
Vốn từ sinh hoạt: cầm, quăng, bắn, mò, bắt, nhặt…
Vốn từ xã hội: Mai An Tiêm, nàng Ba.
Và trẻ nói được nhiều danh từ: Mai An Tiêm, núi, sông, biển...
Về ngữ pháp, chúng tôi xét hai loại câu mà trẻ thường dùng, câu đơn và
câu ghép. Theo kết quả khảo sát thì trẻ sử dụng đúng và nhiều câu đơn
(75,9%) hơn so với câu ghép (52,2%). Cụ thể em Trần Nhật Linh (lớp A3,

SV: Đặng Thị Dinh

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status