Phân tích chiến lược kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam Techcombank - Pdf 31

MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
Năm 2011 là một năm khá khó khăn với ngành ngân hàng khi các hoạt
động tín dụng (chiếm 70% tổng lợi nhuận của các ngân hàng) bị thắt chặt. Trong
30% còn lại thì nguồn thu của các ngân hàng có thể đến từ các hoạt động đầu tư
và các mảng dịch vụ. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, các hoạt động đầu tư
đều khá bấp bênh và rủi ro. Điều này khiến cho các ngân hàng nội địa phải
chuyển hướng chiến lược phát triển sang đang đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ
ngân hàng bán lẻ.
Là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng ổn định và uy tín tại
Việt Nam, Techcombank đã có những chiến lược riêng trong cuộc chiến vượt
qua thách thức khủng hoảng với phương châm “Phát triển nhanh nhưng phải có
tính bền vững, thành quả có được phải dựa trên một chiến lược đúng đắn và lâu
dài". Techcombank đã đưa ra được những chiến lược tạo sự khác biệt hóa, phục
vụ đa dạng nhu cầu của khách hàng, không chỉ đơn thuần là các sản phẩm đơn lẻ
mà đã được tăng cường sự hỗ trợ công nghệ trong quy trình, bán chéo sản phẩm,
như: Thẻ thanh toán, dịch vụ tài khoản, sản phẩm huy động, cho vay nhà, tín
dụng tiêu dùng... Với hướng đi này, Techcombank đã trở thành một trong số ít
ngân hàng có tỷ trọng thu dịch vụ trong doanh thu và lợi nhuận cao, tránh phụ
thuộc nguồn thu tập trung lớn vào tín dụng và hoạt động đầu tư có mức độ rủi ro
cao để phấn đấu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam vào năm
2011. Chính vì những lý do nêu trên, chúng em xin được lựa chọn đề tài “Phân
tích chiến lược kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Techcombank” cho bài tiểu luận của mình.
Qua đây, chúng em xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến cô giáo
ThS.Nguyễn Thị Thu Trang người đã tận tình hướng dẫn chúng em hoàn thành
bài tiểu luận này.
Do trình độ và thời gian có hạn nên bài tiểu luận của chúng em sẽ không
tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết, chúng em rất mong có được sự góp ý

15 Đào Duy Từ, Hà Nội và khai trương chi nhánh Techcombank Đà Nẵng,
mạng lưới giao dịch đã phủ khắp Bắc Trung Nam. Từ năm 1999 đến năm 2001,
vốn điều lệ tăng lên 102,345 tỷ đồng và khai trương phòng giao dịch số 3 tại
Khâm Thiên Hà Nội. Trong năm 2001, Techcombank đã ký kết với nhà cung
cấp phần mềm hệ thống Ngân hàng hàng đầu thế giới Temenos Holding NV về
việc triển khai hệ thống phần mềm Globus cho toàn hệ thống Techcombank
2


nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Đến năm 2002, Khai trương chi
nhánh Chương Dương và Hoàn Kiếm tại Hà Nội, chi nhánh Hải Phòng tại Hải
Phòng, Chi nhánh Thanh Khê tại Đà Nẵng, chi nhánh Tân Bình tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Trong năm này, Techcombank trở thành Ngân hàng cổ phần có
mạng lưới giao dịch rộng rãi nhất tại thủ đô Hà Nội, bao gồm Hội sở chính và 8
Chi nhánh cùng 4 phòng giao dịch tại các thành phố lớn trong cả nước. Vốn
điều lệ của ngân hàng được tăng lên 104,435 tỷ đồng.
Hiện nay, rất nhiều đề án đào tạo nhân viên, quản trị quan hệ khách hàng,
phát triển dịch vụ ngân hàng đầu tư và quản lý tài sản...đang được nghiên cứu và
triển khai trên toàn hệ thống. Với sự tự tin, cam kết và lòng quyết tâm cao,
Techcombank đang và sẽ hướng tới mục tiêu phát triển ngân hàng nhằm đem lại
nhiều hơn nữa lợi ích cho khách hàng, giá trị cho cổ đông: Techcombank đem lại
“sự thân thiện đến tin cậy”. Và phấn đấu để trở thành một trong những ngân hàng
lớn và được ưa thích nhất Việt Nam.


Cơ cấu tổ chức
Hội đồng quản trị có 9 thành viên gồm Chủ tịch, 1 phó chủ tịch thứ nhất,

2 phó chủ tịch và 5 thành viên.
Ban kiểm soát gồm có 4 thành viên: Trưởng ban, 1 kiểm soát viên chuyên

vụ khách
hàng
doanh
nghiệp

Giám
đốc khối
dịch vụ
khách
hàng cá
nhân

Giám
đốc
trung
tâm
quản lý
vốn và
giao
dịch

Giám
đốc khối
quản lý
tín dụng
và quản
trị rủi ro

Giám
đốc khối

thẩm
định dự
án

*Phòng
tuyển
dụng

*Trung
tâm
thanh
toán

*Phòng
kế hoạch
tổng hợp

*Phòng
kinh
doanh
và giao
dịch tiền
tệ

*Phòng
quản lý
rủi ro tín
dụng

*Phòng

CÁC SỞ GIAO DỊCH, CHI NHÁNH VÀ PHÒNG
GIAO DỊCH

4

*Phòng
tài chính
kế toán


II. Chức năng, nhiệm vụ
Techcombank hiện đang phục vụ hơn 15000 khách hàng doanh nghiệp
vừa và nhỏ với “siêu thị dịch vụ tài chính trọn gói” hỗ trợ tối đa hoạt động kinh
doanh trong nước cũng như nước ngoài bao gồm tài khoản, tiền gửi, tín dụng,
đầu tư dự án, tài trợ xuất nhập khẩu, quản lý nguồn tiền, bao thanh toán, thuê
mua, dịch vụ ngoại hối và quản trị rủi ro, các chương trình cho vay ưu đãi và hỗ
trợ xuất nhập khẩu theo các thỏa thuận ký với các tổ chức quốc tế. Với các
doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có quy mô lớn, Techcombank đang cung cấp
một loạt các dịch vụ hỗ trợ hiện đại như quản lý ngân quỹ, thu xếp vốn đầu tư
dự án, thanh toán quốc tế và các dịch vụ ngân hàng điện tử.
Techcombank đang phục vụ 200.000 khách hàng dân cư. Với khách hàng
cá nhân, Techcombanh cung ứng trọn bộ các sản phẩm ngân hàng đáp ứng mọi
nhu cầu có thể phát sinh của khách hàng bao gồm các sản phẩm tài khoản, tiết
kiệm, tín dụng, thanh toán, thẻ, đầu tư, bảo lãnh, bảo quản tài sản trên nền tảng
công nghệ hiện đại của hệ thống Globus, rất thuận tiện và có nhiều tiện ích và
giá trị gia tăng cho khách hàng, trong đó trụ cột là các nhóm sản phẩm thẻ, tài
trợ tiêu dùng và cho vay mua nhà trả góp.
Trên thị trường liên ngân hàng, Techcombank hiện là một trong những
ngân hàng năng động nhất trong giao dịch với các công ty lớn và tổ chức tài
chính khác. Techcombank hiện đang cung ứng các sản phẩm ngoại hối, giao

các lực lượng cạnh tranh sẽ không ngừng tăng lên. Bên cạnh đó tỷ lệ lạm phát
cao làm cho việc kiểm soát giá cả trở nên khó khăn và các dự án đầu tư trở nên
mạo hiểm hơn. Nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực tài chính- ngân
hàng nói riêng đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Theo
cam kết gia nhập WTO, kể từ ngày 1/4/2009 các tổ chức tín dụng nước ngoài
được thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam với các ràng buộc
6


về vốn. Đây là sức ép rất lớn đối với các ngân hàng thương mại trong nước.
Thực thi các cam kết quốc tế các ngân hàng thương mại trong nước buộc phải
thay đổi cho phù hợp, nhất là sự hiện diện của các ngân hàng thương mại nước
ngoài tại Việt Nam. Để làm được điều này các ngân hàng thương mại trong
nước cần có những bước đi thích hợp để tạo lập niềm tin của khách hàng đối với
các dịch vụ do ngân hàng cung cấp.
Nắm bắt được những khó khăn về biến động tỷ giá, lãi suất…
Techcombank là một ngân hàng tiên phong đưa ra sản phẩm: tài trợ xuất khẩu
với lãi suất ưu đãi. Đồng thời Techcombank cũng đã và đang xây dựng mô hình
thanh toán quốc tế tập trung cao với sự lãnh đạo của các nhà quản lý chuyên
nghiệp, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực thanh toán quốc tế tại ngân hàng nước
ngoài. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang
trong giai đoạn chuyển đổi, nhiều thiết chế của thị trường mới trong giai đoạn
vận hành và hoàn thiện, trong đó có thị trường ngân hàng. Điều này có tác động
to lớn trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của các doanh nghiệp trên
thị trường nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng.
3. Các yếu tố công nghệ
Kỹ thuật- công nghệ tại Việt Nam ngày càng phát triển dần bắt kịp với
các nước phát triển trên thế giới. Hệ thống kỹ thuật- công nghệ của ngành ngân
hàng ngày càng được nâng cấp và trang bị hiện đại. Công nghệ cao đang được
áp dụng ngày càng nhiều trong các ngân hàng trong nhiều lĩnh vực như thanh

1.Cạnh tranh nội bộ ngành
Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 6-2011, tại Việt Nam có 5
NHTM nhà nước; 1 Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam; 39 NHTM cổ
phần tư nhân; 48 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; 5 ngân hàng
liên doanh; 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 48 văn phòng đại diện ngân
hàng nước ngoài; 17 Cty tài chính; 13 Cty cho thuê tài chính.
Gần đây, Ngày 15/12/ 2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban
hành Thông tư số 40/2011/TT-NHNN quy định về việc cấp Giấy phép và tổ
chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có
hoạt động ngân hàng.

8


Theo đó, những điều kiện để được thành lập mới ngân hàng được nâng
lên cao hơn so với quy định trước đó.
Cụ thể:
-Nâng cao điều kiện “Có lãi trong năm (05) năm liên tiếp liền kề trước
năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép”, quy định trước đây là 3 năm
-Đối với tổ chức là ngân hàng thương mại, Thông tư quy định: “Có tổng
tài sản tối thiểu 100.000 tỷ đồng.... tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy
phép” quy định trước đây là 50.000 tỷ đồng, việc sửa đổi này nhằm đảm bảo
sàng lọc được các tổ chức tham gia thành lập ngân hàng thực sự có tiềm lực tài
chính đáp ứng được các yêu cầu phát triển mới của hệ thống ngân hàng.
-Bên cạnh đó, Thông tư bổ sung thêm một số điều kiện về cổ đông sáng
lập, thành viên sáng lập phải đáp ứng các điều kiện: “Không phải là cổ đông
sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của một tổ chức
tín dụng Việt Nam” để hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ
chức tín dụng, xung đột lợi ích tiềm tàng và bảo đảm nguồn lực tài chính của

giao dịch với các doanh nghiệp FDI. Với số ngoại tệ này, họ có thể bán cho
doanh nghiệp trong nước hoặc chuyển đổi lấy tiền đồng. Thậm chí họ còn sẵn
sàng cho ngân hàng nội vay để giải “cơn khát” ngoại tệ của doanh nghiệp.
Theo thời báo Ngân hàng thì tính đến tháng 3/2012 thì Lãi suất huy động
1 và 3 tháng của ngân hàng ngoại đều dưới 13% một năm, nên cho vay thấp hơn
nhà băng nội. Không chỉ có lãi vay thấp, các ngân hàng ngoại còn đang cạnh
tranh ở nhóm khách hàng tổ chức khi tư vấn miễn phí các dịch vụ tiền vay thanh
toán. Đồng thời, họ gia tăng tiếp cận khách hàng cá nhân trong các dịch vụ cho
vay tiêu dùng với hình thức đa dạng và tiện ích hấp dẫn giới trẻ đô thị.
Phần lớn chi nhánh các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam âm thầm tiếp
cận người tiêu dùng có thu nhập cao trong những doanh nghiệp ngoại để cho
vay. Ngoài ra, tín dụng tiêu dùng theo hình thức tín chấp thông qua các dịch vụ
cho vay khấu trừ qua thẻ tín dụng đang là loại hình ngân hàng ngoại tấn công
vào thị trường nội địa. Theo dự đoán, hình thức cho vay tín chấp hoặc thế chấp
bằng thu nhập hình thành từ tương lai (tiền lương, thu nhập theo tháng,..) sẽ
ngày càng hấp dẫn người dân hơn.

10


Ngoài ra, các ngân hàng thương mại Việt Nam đứng trước áp lực cạnh
tranh từ phía các ngân hàng nước ngoài với năng lực tài chính tốt hơn, công
nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao hơn,
có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Bởi vậy, để tạo thế cân bằng trước sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng,
điều quan trọng là hệ thống ngân hàng trong nước phải tiếp tục quyết tâm thực
hiện mục tiêu cải cách, nâng cao năng lực tài chính, hoạt động và quản trị ngân
hàng, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ và khai thác tối đa các khoảng trống
hiện nay trong thị trường dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, vai trò quản lý, điều
tiết của Ngân hàng Nhà nước cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để tạo thế cân

tiết kiệm chi phí hoạt động, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận vốn vay để
phát triển sản xuất – kinh doanh, nhất là khu vực nông nghiệp và nông thôn,
doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tổ chức tín dụng điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với mức biến động
của lãi suất huy động vốn bằng VND và mục tiêu, giải pháp điều hành chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
Vì vậy, sự cạnh tranh về mức lãi suất cho vay của các ngân hàng càng
được gia tăng. Ngân hàng nào đưa ra mức lãi suất cho vay rẻ hơn sẽ thu hút
được nhiều khách hàng hơn. Cũng chính bởi nếu trước đây, lãi suất hoàn toàn do
ngân hàng quyết định thì nay, vai trò này bị chuyển sang khách hàng, nhất là
khách hàng nắm giữ cơ số lớn VND vì thế, quyền lực thương lượng từ phía
khách hàng trong ngành ngân hàng được nâng cao.
4.Các sản phẩm thay thế
Đối với các chức năng dịch vụ như: là nơi nhận các khoản tiền gửi
( lương, trợ cấp,..); nơi giữ tiền (các loại tiền gửi tiết kiệm..); nơi thực hiện các
chức năng thanh toán thì nguy cơ ngân hàng bị thay thế là hầu như không có.
Tuy nhiên, với các chức năng dịch vụ như nơi hoạt động kiều hối, dịch vụ
tiết kiệm và dịch vụ cho vay tiền thì nguy cơ ngân hàng bị thay thế là có.
-Với dịch vụ kiều hối: Nguy cơ thay thế đến từ các hoạt động kinh doanh
ngoại hối từ thị trường tự do. Nguyên nhân dẫn đến việc tồn tại các hoạt động
đổi tiền ngoài thị trường tự do là do: Vàng và USD đã đi liền với đời sống người
dân Việt Nam trong nhiều năm qua như một vấn đề hết sức bình thường. Trong
giao dịch người ta cũng niêm yết và sử dụng USD như một điều gần như hiển
12


nhiên. Từ những tài sản có giá trị lớn như nhà đất, xe hơi… hay đến những suất
ăn tại các nhà hàng cũng được niêm yết bằng USD. Bên cạnh đó, muốn mua
ngoại tệ cần có các giấy tờ chứng minh nhu cầu là hợp pháp. Thực tế việc mua
USD tại tổ chức tín dụng gặp không ít khó khăn do thủ tục rắc rối dù nhu cầu là

VND)
13


-

Tổ chức các chương trình tiết kiệm với các kỳ hạn như 3 tháng, 6

tháng, 12 tháng, 24 tháng…
Giảm lãi suát cho vay, tăng lãi suất tiết kiệm
Để thực hiện huy động có hiệu quả, Teckcombank đã mở thêm nhiều chi
nhánh, điểm giao dịch… ở các quận, huyện trên toàn quốc kèm theo nhiều
chương trình khuyến mãi như phát hành phiếu dự thưởng cho khách hàng gửi
tiền vào ngân hàng…
Ngoài ra, Teckcombank còn đưa ra nhiều chương trình khuyến mại khác,
tạo mọi thuận lợi cho các cá nhân, các thành phần kinh tế được vay vốn ngân
hàng để đầu tư, kinh doanh, mua sắm hàng tiêu dùng…
b)

Cung ứng đầu ra

Hoạt động cung ứng đầu ra của một ngân hàng là cung cấp các dịch vụ tín
dụng của ngân hàng đó cho đối tượng khách hàng của mình là các cá nhân hay
tổ chức, doanh nghiệp…
Đối với nhóm khách hàng là cá nhân, Techcombank cung cấp các dịch vụ
như: tiết kiệm; tài khoản; tín dụng bán lẻ; dịch vụ thẻ; ngân hàng điện tử… Còn
đối với nhóm khách hàng là các doanh nghiệp hay tổ chức, ngân hàng cung cấp
các dịch vụ sau: Huy động và dịch vụ tài khoản; trả lương theo tài khoản; tín
dụng trong nước; tài trợ thương mại; bảo lãnh; thanh toán trong nước và quốc tế;
internet banking; dịch vụ tư vấn và các sản phẩm phái sinh.

vụ bổ trợ chức năng này có thể tạo ra sự vượt trội trong tâm trí khách hàng
thông qua việc giải quyết các vấn đề của khách hàng nhanh chóng, hỗ trợ họ sau
khi đã chính thức trở thành đối tác làm ăn của ngân hàng. Và thực tế
Teckcombank đã làm được điều đó với tác phong xử lý nhanh chóng, phong
cách phục vụ, làm việc chuyên nghiệp, chu đáo, tận tình.
2. Các hoạt động bổ trợ
a) Nghiên cứu và phát triển (R&D)
Nghiên cứu và phát triển là hoạt động liên quan đến việc thiết kế các sản
phẩm và quá trình sản xuất. Mặc dù chúng ta vẫn nghĩ rằng hoạt động R&D
được cấu thành bởi việc thiết kế các sản phẩm vật lý hoặc quá trình sản xuất
trong một doanh nghiệp sản xuất, nhưng trong nhiều doanh nghiệp dịch vụ, các
hoạt động này vẫn được đảm bảo. Hoạt động R&D ở Teckcombank được áp
dụng trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng khác bằng việc nghiên cứu
các dịch vụ tài chính mới tốt hơn, hiệu quả hơn và những cách thức để đưa dịch
vụ đó đến được với khách hàng.
15


b)

Quản trị nguồn nhân lực

Tuyển dụng nhân tài – phát triển nguồn lực là 1 trong 5 giá trị cốt lõi của
Techcombank. Nhận thức được việc quản lý tốt nguồn nhân lực là một vấn đề
mang tính sống còn với doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
kinh doanh và sự phát triển bền vững của tổ chức, lãnh đạo ngân hàng đã quyết
định lựa chọn một Giải pháp phần mềm Quản lý nguồn nhân lực phù hợp để ứng
dụng tại Techcombank.
Với yêu cầu cao và sự đánh giá khắt khe, Techcombank đã tiến hành lựa
chọn nhà thầu qua rất nhiều bước đánh giá: đánh giá trên hồ sơ dự thầu, đánh giá

phân phối rộng lớn và nền tảng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ
tốt. Đội ngũ lãnh đạo của Techcombank có năng lực thích nghi tốt với những
thay đổi ngoại cảnh và đang từng bước vững mạnh. Lãnh đạo đã chọn chiến
lược “phòng thủ” bằng cách giảm tăng trưởng tín dụng và phát huy khai thác
những tài sản có rủi ro thấp dựa trong bối cảnh môi trường kinh doanh đang gặp
nhiều khó khăn. Techcombank có được nhiều lợi ích thiết thực từ mối quan hệ
hợp tác chiến lược với ngân hàng HSBC thông qua việc chuyển giao kinh
nghiệm và nhân sự.
2. Đánh giá về mức độ rủi ro của Techcombank
Mức độ rủi ro của Techcombank được đánh giá ở mức vừa đủ. Mô hình
kinh doanh của Techcombank khá đơn giản, phần lớn doanh thu có từ các sản
phẩm cho vay đơn thuần. Sự hỗ trợ từ HSBC cũng góp phần nâng cao năng lực
của hệ thống quản trị rủi ro và quy trình thẩm định tín dụng của Techcombank.
3. Đánh giá về nguồn vốn và thanh khoản của Techcombank
Nguồn vốn của Techcombank được đánh giá ở mức trên trung bình và
thanh khoản ở mức vừa đủ. Tỉ lệ cho vay trên huy động (loan-to-customer
deposit ratio) ở mức 66% là cao hơn mức trung bình của ngành ngân hàng, kể cả
đối với các ngân hàng lớn hơn và có hệ thống chi nhánh rộng hơn. Điều này thể
hiện những nỗ lực để thu hút tiền gửi và hiệu quả hoạt động của hệ thống chi
nhánh của Techcombank. Số lượng và chất lượng của những tài sản “lỏng”
(liquid assets) đủ để trả những khoản nợ ngắn hạn. Techcombank hiện nay cũng
đang là “chủ nợ” trên thị trường liên ngân hàng.
V. Mô hình phân tích tổng hợp các yếu tố từ môi trường kinh doanh
bên ngoài và nội bộ ngân hàng Techcombank
17


Tiêu chí
Điểm
mạnh

- Hạn chế tối đa việc xáo trộn nhân
sự chủ chốt
- Đưa ra các chính sách cho cán bộ
nhân viên ổn định và thông điệp
văn hóa cần đánh giá cao công sức
và nâng cao chế độ đãi ngộ.
- Trung tâm đào tạo và Khối Quản
trị nguồn nhân lực cần phải đào tạo
diện rộng; kết hợp kĩ năng đào tạo
cho các lãnh đạo đơn vị để kèm cặp
trực tiếp.
- Khai thác kiến thức, chuyên môn
của đội ngũ chuyên gia.
- Các bước chuyển đổi chiến lược
cần dứt điểm, nhanh và luôn bám
sát mục tiêu về hiệu quả kinh
doanh và mở rộng khách hàng.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh về
tài chính, về vị thế, chất lượng sản
phẩm dịch vụ.
- Nghiên cứu và triển các nghiệp vụ
tài chính mới, tham gia các thị
trường nước ngoài.
- Liên tục cải tiến công nghệ.

- Có sự hợp tác của các Chuyên gia từ
HSBC tư vấn và làm việc
- Là ngân hàng có những chuyển đổi
sớm nhất trên thị trường các ngân
hàng TMCP nội địa nên có cơ hội

Techcombank đã sớm nhận thấy với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng thì Việt
Nam sẽ là một thị trường mới nổi trong tương lai thì các dịch vụ tài chính cá
nhân sẽ trở nên phổ biến trong một tương lai không xa. Tiềm năng này là cơ hội
lớn cho chiến lược kinh doanh của các ngân hàng trong tương lai vì chỉ trong
một thời gian ngắn, tỷ lệ người dân tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng bán lẻ,
theo nhiều đánh giá, tăng nhanh chóng từ con số 10% lên 20%. Điều này giải
thích vì sao trong các chiến lược trọng tâm của Techcombank thì chiến lược bán
lẻ lại được đưa lên hàng đầu với một chiến lược tổng thể, mang tính đột phá
trong dài hạn bên cạnh phân khúc thị trường doanh nghiệp vừa và nhỏ. Và kết
quả thu được đó là vào năm 2011, Techcombank đã giành danh hiệu nhà bán lẻ
tốt nhất Việt Nam trong phân khúc khách hàng trung, cap cấp.
Dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng và sự phát triển
nhanh chóng của công nghệ thông tin, các ngân hàng thương mại đã bắt đầu đẩy
mạnh hiện đại hóa, ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào khai
thác thị trường bán lẻ. Nhiều ngân hàng đã đầu tư mạnh cho công nghệ để tạo
lập cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng
19


cao của khách hàng, chủ động đối mặt với những thách thức của tiến trình hội
nhập và đặc biệt là một danh mục dài các sản phẩm bán lẻ nhiều tiện ích. Trong
môi trường cạnh tranh gay gắt này, Techcombank chọn cho mình hai giá trị định
vị rất khó trong chiến lược bán lẻ là nâng cao dịch vụ, tiện ích cho khách hàng
và nhìn nhận đây là hai yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng một ngân
hàng bán lẻ chuyên nghiệp, từ đó mang đến cho khách hàng sự khác biệt thật
sự.
Khi bắt tay vào xây dựng chiến lược bán lẻ, Techcombank đã nhận thấy
có nhiều yếu tố tác động vào việc phát triển chiến lược như về: sản phẩm, giá,
dịch vụ, tiện ích…Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu nhu cầu của khách hàng,
Techcombank đã quyết định lựa chọn hai yếu tố dịch vụ và tiện ích làm kim chỉ

trọng điểm.
Chức năng thực hiện giao dịch và phân phối trên tất cả các kênh.
Dịch vụ tận nơi cho khách hàng Priority
Chất lượng dịch vụ
-

Tối ưu hóa quy trình, thủ tục nhằm mang lại sự đơn giản, nhanh

gọn cho khách hàng khi mở tài khoản, gửi tiết kiệm, vay cá nhân
Đa dạng hóa kênh dịch vụ, dễ sử dụng và phục vụ liên tục 24/7:
Internet banking, Mobile banking, 24/7 Call Center
Chuyên biệt hóa hệ thống kênh phân phối
Các giá trị gia tăng dành cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ của
Techcombank
Hiện Techcombank là một trong những ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ
Internet Banking. Chỉ cần một máy tính nối mạng hoặc điện thoại di động,
khách hàng có thể thực hiện nhiều giao dịch khách nhau mà không cần phải đến
giao dịch trực tiếp tại ngân hàng, từ việc tra cứu số dư, chuyển khoản trong và
ngoài hệ thống ngân hàng đến mở gửi tiết kiệm online, thanh toán tiền điện,
nước, điện thoại, học phí, mua vé máy bay.
Hướng đến nhóm khách hàng cao và trung cấp, Techcobank đã mang đến
những dịch vụ như sau:
Đối với Khách hàng cao cấp: Dịch vụ ưu tiên - Priority Banking
+ Các dịch vụ chuyên biệt, mọi lúc mọi nơi, được phục vụ bởi đội ngũ
chuyên viên quan hệ khách hàng cao cấp
+ Các ưu đãi xứng tầm và các giá trị gia tăng phù hợp với nhu cầu của
khách hàng
Khách hàng cấp trung: Dịch vụ dễ tiếp cận
+ Sự tiện lợi về mạng lưới và các kênh giao dịch
+ Dịch vụ tốt, chuyên nghiệp với các thủ tục đơn giản, nhanh gọn

(HSBC đã bỏ ra số tiền gần 80 triệu USD khi mua cổ phần thêm để nâng tỷ lệ sở
hữu tại Techcombank từ 15% lên 20%). Tất nhiên với tỷ lệ sở hữu tại
Techcombank tăng lên, vai trò của nhà đầu tư chiến lược này trong các quyết
định của ngân hàng cũng lớn hơn.

22


Năm 2009, ngân hàng Techcombank đã ký kết thỏa thuận với công ty tài
chính Proparco, cung cấp khoản vay giá trị 15 triệu USD trung dài hạn để
Techcombank có thêm vốn phục vụ chiến lược hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và
nhỏ theo chủ trương của chính phủ và ngân hàng nhà nước.
Tháng 5/2010, IFC (một thành viên của Ngân hàng Thế giới) và
Techcombank đã kí kết thỏa thuận thành lập Quỹ tài trợ Dự dán Hiệu quả năng
lượng với tổng giá trị 50 triệu USD. IFC đã tài trợ 24 triệu USD, cộng với 1
triệu USD từ Quỹ Trái đất Toàn cầu của tổ chức này, còn Techcombank cam kết
đóng góp phần còn lại của quỹ. Quỹ này nhằm mục đích cung cấp nguồn vốn
trung và dài hạn để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam thay thế các thiết bị
không hiệu quả và nâng cấp công nghệ để tăng năng suất sử dụng năng lượng và
cắt giảm tỷ lệ chi phí/ lượng khí thải.
Bên cạnh đó, tháng 07/2010, Techcombank đã được Bộ Công
Thương lựa chọn là một trong năm Ngân hàng tham gia vào Dự án phát triển
Năng lượng Tái tạo. Dự án có thời hạn 20 năm nhằm mục đích tăng cường
lượng cung điện với chi phí thấp nhất cho vùng nông thôn bằng cách cung cấp
một hạn mức tín dụng cho các Ngân hàng thương mại để tài trợ các khoản vay
cho các dự án năng lượng tái tạo đủ điều kiện. Chi phí dự án ước tính là 230
triệu USD, trong đó 152 triệu USD sẽ được tài trợ từ các nguồn của Ngân hàng
Thế giới (từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế).
Tháng 12/2010, Techcombank đã kí kết thành công hợp đồng vay vốn dài
hạn thứ 2 với Proparco trị giá 15 triệu USD. Số tiền này sẽ được Techcombank

vực kinh doanh trọng điểm.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status