CÁC NỘI DUNG MỚI CỦA 37 CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN - Pdf 31

CÁC NỘI DUNG MỚI CỦA 37 CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN
(BAN HÀNH KÈM THÔNG TƯ 214/2012/ TT-BTC NGÀY 6/12/2012)
Thứ nhất, về kết cấu và độ dài chuẩn mực:
Kết cấu của một chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) mới gồm 4 phần
như sau: I/ Quy định chung: gồm Phạm vi áp dụng; Mục tiêu; Giải thích thuật
ngữ (nếu có); II/ Nội dung chuẩn mực: chủ yếu là các yêu cầu phải thực hiện;
III/ Hướng dẫn áp dụng: gồm các đoạn bắt đầu bằng ký hiệu A, hướng dẫn cách
thực hiện các quy định tại phần I và II; Phụ lục (nếu có): gồm các hướng dẫn, ví
dụ, tình huống chi tiết hơn cho một số đoạn tại phần "Nội dung chuẩn mực" và
“Hướng dẫn áp dụng”. Trong khi kết cấu của VSA hiện hành gồm 2 phần: I/
Quy định chung: gồm Mục đích, Nội dung cơ bản, Phạm vi áp dụng, Các thuật
ngữ; II/ Nội dung chuẩn mực: gồm Các yêu cầu phải thực hiện và hướng dẫn
thực hiện các yêu cầu, trong đó chữ in đậm là yêu cầu và in thường là hướng
dẫn. Các đoạn ghi liên tục và không có ký hiệu A.
- VSA mới có sự dẫn chiếu qua lại giữa phần nội dung yêu cầu và phần
hướng dẫn áp dụng trong từng chuẩn mực và giữa các chuẩn mực có liên quan,
được đặt trong ngoặc đơn ngay sau đoạn có liên kết giữa các chuẩn mực (dẫn
chiếu rất chặt chẽ và phức tạp). Trong khi VSA trước đây không có dẫn chiếu.
- VSA mới trình bày tách riêng phần quy định và phần hướng dẫn, với quy
ước các đoạn hướng dẫn sẽ ký hiệu bắt đầu bằng chữ A (trước đây phần quy
định gắn liền với hướng dẫn chi tiết cho từng quy định, với quy ước các đoạn in
đậm là quy định, các đoạn in nhạt là hướng dẫn). Mối liên hệ dẫn chiếu hai
chiều từ phần quy định đến phần hướng dẫn của chuẩn mực (các đoạn có ký
hiệu A) được thể hiện dưới dạng “(xem hướng dẫn tại đoạn Ax Chuẩn mực
này)”/ hoặc “(hướng dẫn đoạn x, xx…)”
- Nhiều VSA mới có độ dài và chi tiết hơn nhiều lần so với các chuẩn mực
trước đây, ví dụ: VSA 200 hiện hành có 29 đoạn, VSA mới là 100 đoạn, tăng
3,4 lần; VSA 240 tăng 4,2 lần (114/27); VSA 260 tăng 3 lần (68/23);…
- Hầu hết các VSA mới đều có các hướng dẫn, lưu ý khi thực hiện kiểm
toán các đơn vị nhỏ và các đơn vị trong lĩnh vực công, thậm chí trong một chuẩn
mực, các hướng dẫn này còn được nêu tại nhiều phần.

hợp nhất, BCTC tóm lược, BCTC giữa niên độ, BCTC quý..., trong khi VSA
đưa ra khái niệm chi tiết hơn: BCTC riêng (là bộ BCTC của một đơn vị kế
toán); BCTC riêng lẻ (là một báo cáo trong bộ BCTC, như Bảng cân đối kế
toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ , Báo
cáo thay đổi vốn chủ sở hữu – nếu có, kèm theo các thuyết minh liên quan cho
báo cáo đó); BCTC tổng hợp, BCTC hợp nhất, BCTC tóm tắt, BCTC giữa niên
độ và BCTC quý. Để phân biệt với BCTC riêng lẻ với bộ BCTC, trong một số
trường hợp còn sử dụng cụm từ “BCTC (đầy đủ)”, hoặc “bộ BCTC (đầy đủ)”...
Thứ ba, phương pháp luận kiểm toán:
Hệ thống VSA trước đây nhấn mạnh phương pháp luận kiểm toán dựa trên
phương pháp chọn mẫu. Hệ thống VSA mới đặc biệt nhấn mạnh phương pháp
luận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro (tìm hiểu đặc điểm khách hàng, xét đoán
chuyên môn và hoài nghi nghề nghiệp, thể hiện ở VSA 200, 300, 315, 330,
700…). Hệ thống VSA trước đây có VSA 310- “Hiểu biết về tình hình kinh
doanh”- độ dài 13 đoạn, và VSA 400- “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”- độ
dài 50 đoạn, bao gồm các yêu cầu cơ bản đối với KTV trong việc hiểu biết về
tình hình kinh doanh, đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ của đơn vị. Trong hệ
thống VSA mới, VSA 310 và VSA 400 đã được thay thế bằng VSA 315- “Xác
2


định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được
kiểm toán và môi trường của đơn vị”, với 32 đoạn quy định, 132 đoạn hướng
dẫn, đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu tìm hiểu về kiểm soát nội bộ. Ngoài ra, yêu cầu
về đánh giá rủi ro và các biện pháp xử lý của KTV đối với rủi ro đã đánh giá còn
được nhấn mạnh ở một số VSA khác trong hệ thống VSA mới: VSA 330- “Biện
pháp xử lý của KTV đối với rủi ro đã đánh giá’; VSA 540 -“ Kiểm toán các ước
tính kế toán, bao gồm ước tính kế toán về giá trị hợp lý và các thuyết minh có
liên quan”; VSA 550- “Các bên liên quan”; VSA 402-“Kiểm toán đơn vị có sử
dụng dịch vụ bên ngoài”.


3


(7) Đầy đủ thủ tục kiểm toán: KTV phải luôn đánh giá liệu các thủ tục
được quy định trong VSA có đầy đủ không và nếu không thì phải lập kế hoạch
về các thủ tục bổ sung.
(8) Các thuật ngữ phổ biến.
Thứ năm, tăng cường trách nhiệm của kiểm toán viên, doanh nghiệp
kiểm toán và đơn vị được kiểm toán:
1. Về trách nhiệm của KTV và DNKT:
Về trách nhiệm của KTV và DNKT được quy định rõ trong tất cả các VSA:
1.1.VSA 200 (đoạn 03-09) quy định trách nhiệm của KTV và DNKT:
(1) Xác định đúng mục đích kiểm toán BCTC;
(2) Chỉ chấp nhận hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán khi thống
nhất được cơ sở để thực hiện hợp đồng kiểm toán, thông qua việc:
(i)Thiết lập được các tiền đề của một cuộc kiểm toán; (ii) DNKT và
Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đã thống nhất được các điều
khoản hợp đồng kiểm toán;
(3) KTV phải đạt được sự đảm bảo hợp lý để có cơ sở đưa ra ý kiến kiểm
toán;
(4) Sử dụng tính trọng yếu, thực hiện xét đoán chuyên môn và duy trì thái
độ hoài nghi nghề nghiệp;
(5) Trao đổi thông tin và báo cáo các vấn đề phát sinh từ cuộc kiểm toán.
1.2.VSQC1 quy định DNKT phải xây dựng và duy trì hệ thống KSCL bao
gồm các chính sách và thủ tục cho từng yếu tố sau:
(a) Trách nhiệm của Ban Giám đốc về chất lượng trong DNKT;
(b) Chuẩn mực, các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan;
(c) Chấp nhận và duy trì quan hệ khách hàng và các hợp đồng dịch vụ cụ
thể;

b) Đạt được thỏa thuận với Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về việc
Ban Giám đốc hiểu và thừa nhận trách nhiệm của họ:
(i) Đối với việc lập và trình bày BCTC phù hợp với khuôn khổ về lập và
trình bày BCTC được áp dụng, kể cả sự trình bày hợp lý, nếu thích hợp;
(ii) Đối với kiểm soát nội bộ mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để
đảm bảo cho việc lập và trình bày BCTC không còn sai sót trọng yếu do gian lận
hoặc nhầm lẫn;
(iii) Trong việc cung cấp cho KTV:
+ Quyền tiếp cận với tất cả tài liệu, thông tin mà Ban Giám đốc nhận thấy
là có liên quan đến quá trình lập và trình bày BCTC;
+ Các tài liệu, thông tin bổ sung mà KTV yêu cầu Ban Giám đốc cung cấp
hoặc giải trình để phục vụ cho mục đích của cuộc kiểm toán;
+ Quyền tiếp cận không hạn chế đối với nhân sự của đơn vị được kiểm toán
mà KTV xác định là cần thiết để thu thập bằng chứng kiểm toán.
(Đây chính là cơ sở để tiến hành cuộc kiểm toán liên quan đến trách nhiệm
của Ban Giám đốc và Ban Quản trị đơn vị được kiểm toán – trong phạm vi phù
hợp (đoạn 13, VSA 200).
2.2.Theo hướng dẫn thực hiện tại các đoạn A17, A18 của VSA số 210,
KTV phải đạt được thỏa thuận với Ban Giám đốc đơn vị về việc Ban Giám đốc
hiểu và thừa nhận trách nhiệm của họ đối với kiểm soát nội bộ.
Ban Giám đốc có trách nhiệm xác định kiểm soát nội bộ nào là cần thiết
cho việc lập và trình bày BCTC. Theo hướng dẫn tại đoạn A51 và Phụ lục 01
VSA số 315, thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bao hàm phạm vi rộng, thường gồm
5 thành phần: (1) Môi trường kiểm soát; (2) Quy trình đánh giá rủi ro của đơn
vị; (3) Hệ thống thông tin liên quan đến việc lập và trình bày BCTC, bao gồm
các quy trình kinh doanh có liên quan, và trao đổi thông tin; (4) Các hoạt động
kiểm soát; (5) Giám sát các kiểm soát. Sự phân chia này không nhất thiết phải
thể hiện cách thức đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì kiểm soát nội bộ hoặc các
thành phần đó được phân loại như thế nào. Kiểm soát nội bộ của một đơn vị sẽ
5

3. Ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần
“Theo ý kiến chúng tôi, BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý, trên các
khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty ABC tại ngày 31/12/20x1,
cũng như kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho năm
tài chính kết thúc cùng ngày, phù hợp với Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán
(doanh nghiệp) Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và
trình bày BCTC”. Theo VSA 700 trước đây câu cuối ghi là: “.... và các quy định
pháp lý có liên quan./.”
4. Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần:
VSA 705 quy định rõ các trường hợp KTV phải đưa ra ý kiến không phải ý
kến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán khi: Dựa trên bằng chứng
kiểm toán đã thu thập được, KTV kết luận là tổng thể BCTC vẫn còn sai sót
6


trọng yếu; hoặc KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp để kết luận rằng tổng thể BCTC không còn sai sót trọng yếu.
VSA 705 quy định về xác định dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý
kiến chấp nhận toàn phần
* Ý kiến kiểm toán ngoại trừ: KTV phải trình bày “ý kiến kiểm toán ngoại
trừ” khi: Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được,
KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng
yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập được đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng
KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát
hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC.
*Ý kiến kiểm toán trái ngược: KTV phải trình bày “ý kiến kiểm toán trái
ngược” khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập
được, KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng
trọng yếu và lan tỏa đối với BCTC.

quan đến số dư đầu kỳ có thể dẫn đến việc KTV phải đưa ra hai loại ý kiến kiểm
toán trên cùng một báo cáo kiểm toán, đó là: “ý kiến ngoại trừ hoặc từ chối đưa
ra ý kiến về kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ (nếu
phù hợp), và ý kiến chấp nhận toàn phần về tình hình tài chính”.
6. Báo cáo kiểm toán có thể có thêm 1 trong 2 hoặc cả 2 đoạn

7


“Nhấn mạnh vấn đề” và “Vấn đề khác”để thu hút sự chú ý của người sử
dụng BCTC đối với một hoặc một số vấn đề mà theo xét đoán của KTV, vấn đề
đó là đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC, mặc dù vấn đề đó
đã được trình bày hoặc thuyết minh phù hợp trong BCTC (đoạn “Nhấn mạnh
vấn đề”); hoặc vấn đề đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc
kiểm toán, về trách nhiệm của KTV hoặc về báo cáo kiểm toán (đoạn “Vấn đề
khác”). Nội dung trình bày trong 2 đoạn này không làm thay đổi ý kiến của
KTV đối với BCTC (VSA 706 – Xem Phụ lục 02).
7. Báo cáo kiểm toán cũng có thể có thêm đoạn
“Báo cáo về các yêu cầu khác của pháp luật và các quy định” theo quy
định của pháp luật (đoạn 38-39 VSA 700) – Xem kết cấu báo cáo kiểm toán
(Phụ lục 02).
8. Báo cáo kiểm toán về hai (02) BCTC trở lên áp dụng trong trường hợp
một đơn vị vừa phải lập BCTC theo CMKT Việt Nam, vừa phải lập BCTC theo
CMKT quốc tế, hoặc vừa phải lập BCTC theo yêu cầu chung, vừa phải lập
BCTC theo yêu cầu riêng (Ban quản lý dự án), hoặc BCTC vừa bằng VNĐ, vừa
chuyển đổi thành ngoại tệ (USD). Trường hợp này, trong báo cáo kiểm toán cho
BCTC lập theo VSA phải ghi rõ “đã lập BCTC khác theo khuôn khổ là CMKT
quốc tế và KTV đã phát hành báo cáo kiểm toán cho BCTC đó”, hoặc “đã
chuyển đổi thành BCTC khác theo đơn vị tiền tệ là USD và KTV đã phát hành
báo cáo kiểm toán, (hoặc đã phát hành báo cáo soát xét) cho BCTC đó...” .

trong việc trao đổi với Ban quản trị (i) các vấn đề quan trọng, liên quan đến cuộc
kiểm toán và các vấn đề quản trị cần quan tâm (VSA 260); (ii) các khiếm khuyết
nghiêm trọng trong KSNB của đơn vị được kiểm toán (VSA 265) và (iii) các
vấn đề khác theo các VSA khác và theo yêu cầu của pháp luật và các quy định
có liên quan.
2. Phân biệt rõ các thuật ngữ về Ban giám đốc và Ban quản trị (trong
phạm vị phù hợp) (VSA 200, 260, 265, 210, …)
3. Các VSA quy định rõ vai trò của quá trình trao đổi, mục tiêu của kiểm
toán trong việc trao đổi, các vấn đề cụ thể cần trao đổi, gồm: (i) các phát hiện
quan trọng khi thực hiện kiểm toán, đặc biệt là nhận xét của KTV về các khía
cạnh định tính của công việc kế toán của đơn vị; (ii) về tính độc lập của KTV
(đối với đơn vị kiểm toán là tổ chức niêm yết). Đồng thời quy định KTV phải
thiết lập quá trình trao đổi, hình thức, thời điểm, tính thoả đáng của quá trình
trao đổi và tài liệu, hồ sơ kiểm toán phải lập, lưu giữ.
4. VSA 265, quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và DNKT phải
kịp thời trao đổi với Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về
những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ (đoạn 04 và 12 VSA 315) mà KTV
đã phát hiện được khi kiểm toán BCTC. KTV phải trao đổi bằng văn bản một
cách kịp thời (ví dụ dưới hình thức thư đề nghị, thư quản lý) với Ban quản trị
đơn vị được kiểm toán về những khiếm khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội
bộ được phát hiện trong quá trình kiểm toán.
Theo VSA 265, KTV cũng phải trao đổi một cách kịp thời với Ban Giám
đốc và cấp quản lý phù hợp của đơn vị được kiểm toán về: (a) Những khiếm
khuyết nghiêm trọng trong kiểm soát nội bộ mà KTV đã trao đổi hoặc có ý định
trao đổi với Ban quản trị, trừ khi các nội dung này không thích hợp để trao đổi
trực tiếp với Ban Giám đốc. Những nội dung này phải được trao đổi bằng văn
bản; (b) Những khiếm khuyết khác trong kiểm soát nội bộ được phát hiện trong
quá trình kiểm toán mà chưa được các bên khác trao đổi với Ban Giám đốc và
theo xét đoán chuyên môn của KTV là nghiêm trọng và cần sự lưu ý của Ban
Giám đốc đơn vị được kiểm toán.

BCTC có thể chấp nhận được trong việc lập BCTC và sự chấp thuận của Ban
Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (trong phạm vi phù hợp) đối
với các cơ sở để tiến hành cuộc kiểm toán”.
4. VSA 210 bổ sung quy định các trường hợp KTV và DNKT không được
chấp thuận hợp đồng kiểm toán như:
(i) Giới hạn phạm vi trước khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán: Nếu Ban
Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán giới hạn phạm vi công việc
của KTV trong các điều khoản của dự thảo HĐKT mà KTV cho rằng sự giới
hạn này sẽ dẫn đến việc KTV từ chối đưa ra ý kiến đối với BCTC thì KTV
không được chấp nhận HĐKT bị giới hạn như vậy, trừ khi pháp luật yêu cầu
phải chấp nhận hợp đồng đó.
(ii) Các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc chấp nhận hợp đồng kiểm toán,
như không có đầy đủ tiền đề của cuộc kiểm toán.
5. Bổ sung và quy định chi tiết về chấp nhận thay đổi điều khoản hợp
đồng kiểm toán, các vấn đề cần xem xét thêm trong quá trình chấp nhận hợp
đồng kiểm toán (trong các trường hợp CM lập và trình bầy BCTC được pháp
luật và các quy định bổ sung) hoặc khuôn khổ lập và trình bầy BCTC theo yêu
10


cầu của pháp luật và các quy định có các vấn đề khác ảnh hưởng đến việc chập
nhận hợp đồng kiểm toán.
6. VSA 230 bổ sung quy định trong hợp đồng kiểm toán phải kèm theo
“dự kiến về báo cáo mà KTV và DNKT sẽ phát hành”.
7. Mẫu hợp đồng kiểm toán có nhiều thay đổi đặc biệt là trách nhiệm của
DNKT và khách hàng quy định đầy đủ các thông tin cần thiết trong hợp đồng
kiểm toán.
VSA 230: Tài liệu, hồ sơ kiểm toán
1. VSA 230 quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và DNKT về
lập tài liệu, hồ sơ kiểm toán cho một cuộc kiểm toán. VSA 230 mới không phân


11


2. Quy định 2 thuật ngữ “gian lận” và các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian
lận” (Tam giác gian lận: (1) Động cơ/ Áp lực; (2) Cơ hội; (3) Sự biện minh/ hợp
lý hóa hành vi gian lận.
3. Mục tiêu của KTV và DNKT là:
- Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC do gian
lận;
- Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các rủi ro có sai
sót trọng yếu do gian lận mà KTV đã tiến hành đánh giá, thông qua việc thiết lập
và triển khai những biện pháp xử lý;
- Có biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định hoặc có
nghi vấn.
4. Phải tổ chức thảo luận giữa các thành viên trong nhóm kiểm toán và
thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán, đặc biệt tập trung
vào nội dung và cách thức mà BCTC của đơn vị được kiểm toán dễ có sai sót
trọng yếu do gian lận, kể cả việc gian lận đó có thể xảy ra như thế nào. Cuộc
thảo luận này phải được thực hiện kể cả khi nhóm kiểm toán tin tưởng vào tính
trung thực và chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được
kiểm toán.
5. KTV phải phỏng vấn Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về: Đánh
giá của Ban Giám đốc về rủi ro có thể có sai sót do gian lận trong BCTC (nội
dung, phạm vi và tần suất đánh giá); Quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian
lận trong đơn vị; Việc trao đổi của Ban Giám đốc với Ban quản trị về quy trình
xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị; Việc trao đổi của BGĐ với các
nhân viên về quan điểm của Ban Giám đốc đối với các hoạt động kinh doanh và
hành vi đạo đức.
KTV phải phỏng vấn Ban quản trị, Bộ phận kiểm toán nội bộ, các cá nhân

và các quy định này có thể là yêu cầu nền tảng đối với hoạt động của đơn vị, đối
với khả năng tiếp tục hoạt động kinh doanh, hoặc để tránh các khoản phạt nặng
(ví dụ, việc tuân thủ các điều khoản trong giấy phép hoạt động, tuân thủ các yêu
cầu về năng lực tài chính, hoặc tuân thủ yêu cầu về môi trường); hành vi không
tuân thủ pháp luật và các quy định này có thể có ảnh hưởng trọng yếu đến
BCTC.
VSA 250 quy định các yêu cầu khác nhau cho từng nhóm luật và các quy
định nêu trên. Đối với nhóm nêu ở mục (a) trách nhiệm của KTV là thu thập đầy
đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc tuân thủ các luật và quy định này.
Đối với nhóm nhóm nêu ở mục (b) trách nhiệm của KTV được giới hạn trong
việc thực hiện các thủ tục kiểm toán cụ thể để phát hiện các hành vi không tuân
thủ pháp luật và các quy định có thể có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.
2. Bổ sung thêm 2 thuật ngữ: “Pháp luật và các quy định” (bổ sung so với
VSA 250 trước đây là gồm cả văn bản do doanh nghiệp và tổ chức quy định) và
“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà KTV có trách nhiệm phải báo cáo”.
3. Quy định rõ việc thông báo các hành vi không tuân thủ pháp luật và các
quy định mà KTV nhận thấy trong quá trình kiểm toán. Còn theo VSA 250
trước đây chỉ quy định KTV phải thông báo cho giám đốc (hoặc người đứng
đầu) đơn vị được kiểm toán là chưa phù hợp. VSA 250 quy định rõ 3 vấn đề mà
KTV phải thông bảo:
(i) Thông báo: KTV phải thông báo với Ban quản trị những vấn đề liên
quan đến hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định mà KTV nhận thấy
trong quá trình kiểm toán, trừ khi các vấn đề đó rõ ràng là không đáng kể. KTV
không cần thực hiện điều này nếu toàn bộ thành viên Ban quản trị đều là thành
viên Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán nên đã biết được những vấn đề liên
quan đến việc phát hiện hoặc nghi ngờ có hành vi không tuân thủ được KTV
thông báo.
Nếu KTV nghi ngờ Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị có liên quan đến
hành vi không tuân thủ, KTV phải thông báo vấn đề này cho cấp cao hơn trong
đơn vị, như Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát. Khi không có cấp cao hơn

- Truyền đạt thông tin và yêu cầu thực thi tính chính trực và các giá
trị đạo đức;
- Cam kết về năng lực;
- Sự tham gia của Ban quản trị;
- Triết lý và phong cách điều hành của Ban Giám đốc;
- Cơ cấu tổ chức;
- Phân công quyền hạn và trách nhiệm;
- Các chính sách và thông lệ về nhân sự;
Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị: Cho mục tiêu lập và trình bày BCTC,
quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị bao gồm việc Ban GĐ xác định các rủi ro kinh
doanh có liên quan như thế nào đến việc lập và trình bày BCTC theo khuôn khổ về lập
và trình bày BCTC, ước tính độ rủi ro, đánh giá khả năng xảy ra rủi ro và quyết định

14


các hành động nhằm xử lý, quản trị rủi ro và kết quả thu được. Các rủi ro có thể phát
sinh hoặc thay đổi trong các tình huống như:

- Những thay đổi trong môi trường hoạt động;
- Nhân sự mới;
- Hệ thống thông tin mới hoặc được chỉnh sửa;
- Tăng trưởng nhanh;
- Công nghệ mới;
- Các hoạt động, sản phẩm, mô hình kinh doanh mới;
- Tái cơ cấu đơn vị;
- Mở rộng các hoạt động ở nước ngoài;
- Áp dụng các quy định kế toán mới.
Hệ thống thông tin liên quan đến việc lập và trình bày BCTC, bao gồm
các quy trình kinh doanh có liên quan, và trao đổi thông tin.

Có ít cấp độ quản lý mà mỗi cấp có trách nhiệm kiểm soát rộng;

(vi) Có ít nhân sự và thường phải kiêm nhiệm.
15


16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status