Chuyên đề TN Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong quy trình lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn ABC - Pdf 21

Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
Lời mở đầu
Sự cần thiết của đề tài
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm gần đây, đặc biệt
là thị trường chứng khoán, hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính ngày càng đóng
vai trò quan trọng. Yêu cầu nâng cao tính hiệu quả, chất lượng và tính chuyên
nghiệp của cuộc kiểm toán là vấn đề đang được nhà nước và xã hội quan tâm. Lập
kế hoạch kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trong một cuộc kiểm toán báo cáo
tài chính, là một phần quan trọng không thể thiếu của bất kỳ cuộc kiểm toán nào.
Do đó, việc tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán trong khâu lập kế hoạch kiểm toán sẽ
giúp công ty kiểm toán và kiểm toán viên bao quát tình hình, giúp cho việc kiểm
toán được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng và chính xác hơn.
Do phạm vi của các chuẩn mực kiểm toán quá rộng nên người viết đã chọn
những chuẩn mực có liên quan đến công việc lập kế hoạch kiểm toán để nghiên cứu
việc vận dụng các chuẩn mực trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài
chính của công ty kiểm toán ABC làm đề tài tốt nghiệp: “Xem xét, đánh giá việc
vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong quy trình lập kế hoạch kiểm toán tại
Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn ABC”.
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu công việc cụ thể về lập kế hoạch kiểm toán dựa trên các chuẩn mực
ban hành có liên quan đến công việc lập kế hoạch kiểm toán và tình hình vân dụng
trên thực tế tại công ty.
Nhận xét những ưu điểm và những tồn tại cũng như đưa ra một số kiến nghị
nhằm góp phần hoàn thiện quy trình lập kế hoạch kiểm toán cho khách hàng tại
công ty ABC.
Trang 1
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu dựa trên việc xem xét hồ sơ lưu
trữ, quan sát, phỏng vấn kiểm toán viên trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán tại
công ty khách hàng.

giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”.
Có định nghĩa lại cho rằng: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một
cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc
trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung. Nói
tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về đối
tượng được kiểm toán
1
”.
Tại Việt Nam trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân
ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP của Chính phủ ngày 29/1/94 có nêu: “Kiểm
toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc
các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế
1
Auditing - Theory & Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice
Hall năm 2003
Trang 3
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể,
tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có yêu cầu của đơn vị này”.
Như vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhau song
chúng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:
- Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm toán
(kiểm toán viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp) có các thông
tin kinh tế được kiểm toán.
- Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán
viên sẽ đưa ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện công việc kiểm
toán.
- Mục tiêu của kiểm toán: kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra
ý kiến về đối tượng kiểm toán.
1.1.2. Sự cần thiết của việc tuân thủ theo chuẩn mực kiểm toán

tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên
quan đến việc lập kế hoạch cho một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.
Công ty kiểm toán và kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo
cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả.
1.3. Quy trình lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính và các chuẩn mực
kiểm toán có liên quan
1.3.1. Tìm hiểu về khách hàng
1.3.1.1. VSA 310, 250 về tìm hiểu tình hình kinh doanh
a. VSA 310 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh”
Trang 5
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
- Nội dung cần tìm hiểu về tình hình kinh doanh
VSA 310 có quy định: “Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán
viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và
phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm
toán mà theo kiểm toán viên thì có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến
việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc báo cáo kiểm toán”.
Hiểu biết cần thiết của kiểm toán viên để thực hiện một cuộc kiểm toán bao
gồm những hiểu biết tổng quan về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, hiểu
biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Mức độ hiểu
biết về đơn vị của kiểm toán viên không nhất thiết phải như Ban giám đốc của đơn
vị được kiểm toán.
- Cách thức tìm hiểu về tình hình kinh doanh
Kiểm toán viên thu thập thông tin về tình hình kinh doanh từ các nguồn như:
• Kinh nghiệm thực tiễn về đơn vị và ngành nghề kinh doanh của đơn vị
được kiểm toán trên báo cáo tổng kết, biên bản làm việc, báo chí;
• Hồ sơ kiểm toán năm trước;
• Trao đổi với Giám đốc, kế toán trưởng hoặc cán bộ, nhân viên của đơn
vị được kiểm toán;
• Trao đổi với kiểm toán viên nội bộ và xem xét báo cáo kiểm toán nội bộ

năng đơn vị còn có những vi phạm khách nữa. Ngược lại, nếu hành vi là vô tình,
kiểm toán viên không nhất thiết phải áp dụng.
Đoạn 15 VSA 250 chỉ ra rằng: “Để hiểu biết tổng thể về pháp luật và các quy
định có liên quan đến đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên áp dụng những biện
pháp sau đây:
• Sử dụng các kiến thức hiện có liên quan đến hoạt động và ngành nghè
kinh doanh của đơn vị;
• Yêu cầu đơn vị cung cấp và giải trình về những quy định và thủ tục nội
bộ của đơn vị liên quan đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định;
• Trao đổi với lãnh đạo đơn vị về pháp luật và các quy định có ảnh hưởng
trọng yếu đến báo cáo tài chính của đơn vị;
• Xem xét các quy định và thủ tục giải quyết cụ thể của đơn vị khi xảy ra
tranh chấp hoặc xử phạt;
Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
• Thảo luận với những cơ quan chức năng liên quan, chuyên gia tư vấn
pháp luật và cá nhân khác để hiểu biết thêm về pháp luật và các quy định
liên quan đến hoạt động của đơn vị”.
1.3.1.2. VSA 400, VSA 550 về tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
a. VSA 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”
- Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các
nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý
nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
2

- Mục đích của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ.

viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở
dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.”
• Bước 3: Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát trong
chương trình kiểm toán
Thử nghiệm kiểm soát là những thử nghiệm để thu thập bằng chứng kiểm toán
về sự hữu hiệu trong thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ.
VSA 400 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát bao gồm:
- Kiểm tra chứng từ của các nghiệp vụ kinh tế và các sự kiện để thu được bằng
chứng kiểm toán về hoạt động hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ, ví dụ kiểm tra các chứng từ liên quan đến phiếu chi tiền có được phê duyệt
đầy đủ hay không;
Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
- Phỏng vấn, quan sát thực tế việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm soát
của những người thực thi công việc kiểm soát nội bộ xem có để lại bằng chứng kiểm
soát hay không;
- Kiểm tra lại việc thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ, ví dụ kiểm tra lại bảng
đối chiếu tiền gửi của đơn vị với ngân hàng, xem xét lại biên bản kiểm kê quỹ, kiểm
kê hàng tồn kho, đối chiếu lại công nợ để đảm bảo rằng chúng có được đơn vị thực
hiện hay không.”
• Bước 4: Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và điều chỉnh lại những thử
nghiệm cơ bản đã dự kiến
Sau khi hoàn thành các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên phải đánh giá lại
rủi ro kiểm soát. Khi nghiên cứu bằng chứng sử dụng làm cơ sở cho việc đánh giá
lại rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên phải xem xét cả về số lượng và chất lượng của
bằng chứng. Theo đoạn 40 VSA 400: “Dựa trên kết quả các thử nghiệm kiểm soát,
kiểm toán viên phải xác định xem hệ thống kiểm soát nội bộ có được thiết kế và
thực hiện phù hợp với đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát hay không…” Tức là
kiểm toán viên phải đánh giá sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ. Kiểm toán viên
thường sử dụng bảng hướng dẫn về tỷ lệ sai phạm có thể bỏ qua (thường dùng theo

Đoạn 13 VSA 550 có nêu “Khi tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ để đánh giá rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần
phải cân nhắc tính đầy đủ và hiệu quả của các thủ tục kiểm soát nội bộ đối với việc
ghi chép và phê duyệt các giao dịch với các bên liên quan”.
VSA 550 cũng nêu rõ: “ Các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả
năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định
tài chính và hoạt động.” Và “Giao dịch giữa các bên liên quan: Là việc chuyển
giao các nguồn lực hay các nghĩa vụ giữa các bên liên quan, không xét đến việc có
tính giá hay không.”
Về ảnh hưởng đáng kể thì: “Ảnh hưởng đáng kể: Là kết quả của việc tham gia
vào việc đề ra các chính sách tài chính và hoạt động của một doanh nghiệp, nhưng
không kiểm soát các chính sách đó.”
Theo Chuẩn mực VSA 200 có nêu “trong một số trường hợp, có thể tồn tại
những nhân tố hạn chế tính thuyết phục của những bằng chứng dùng để kết luận về
cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính. Vì tính không chắc chắn của cơ sở dẫn liệu
của báo cáo tài chính liên quan đến tính đầy đủ về các bên liên quan, những thủ tục
3
Kiểm toán, 2007, NXB Lao động xã hội, trang 99
Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
được quy định trong Chuẩn mực này nhằm cung cấp đầy đủ những bằng chứng
kiểm toán thích hợp liên quan đến những cơ sở dẫn liệu này khi không có những
tình huống kiểm toán viên xác định là:
• Làm tăng rủi ro sai sót vượt quá mức độ dự tính;
• Đã xảy ra sai sót trọng yếu liên quan đến các bên liên quan
Khi có dấu hiệu cho thấy còn tồn tại những tình huống trên thì kiểm toán viên
phải thực hiện thêm một số thủ tục hoặc thực hiện những thủ tục sửa đổi thích hợp.
Khi có sự tồn tại các bên có liên quan và những giao dịch với các bên liên
quan được xem như những hoạt động kinh doanh thông thường, kiểm toán viên
phải nắm bắt được thông tin về những hoạt động này vì:

đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt
chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin
phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính”.
- Đặc điểm của trọng yếu.
Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả 2 phuơng diện, định
lượng và định tính
• Định lượng: sai lệch được gọi là trọng yếu khi nó vượt qua một giới hạn
nhất định có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo
cáo tài chính. Thông thường các chỉ tiêu dùng để xác lập mức trọng yếu là
% trên tổng tài sản, % trên tổng doanh thu hoặc là % trên tổng lợi nhuận.
Tùy vào từng trường hợp cụ thể, kiểm toán viên có thể chọn một chỉ tiêu
hoặc phối hợp cả 3 chỉ tiêu để xác lập mức trọng yếu trong cuộc kiểm toán.
• Định tính: Mức trọng yếu còn tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất
của thông tin, bản chất của sai phạm, phụ thuộc nhiều vào sự xét đoán mang
tính nghề nghiệp của kiểm toán viên. Kiểm toán viên phải nhận thức tuy có
những trường hợp sai lệch nhỏ nhưng vẫn có thể gây ảnh hưởng đến quyết
định của người sử dụng báo cáo tài chính.
b. VSA 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”
- Yêu cầu về xác lập mức trọng yếu.
VSA 320 có nêu: “Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định
mức trọng yếu có thể chấp nhận đuợc để làm tiêu chuẩn phát hiện ra những sai sót
trọng yếu về mặt định lượng. Tuy nhiên, để đánh giá những sai sót được coi là
Trang 13
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
trọng yếu, kiểm toán viên còn phải xem xét cả hai mặt định lượng và định tính của
sai sót.”
Kiểm toán viên cần xét tới khả năng có sai sót là tương đối nhỏ nhưng tổng
hợp lại có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Kiểm toán viên cần xem xét
tính trọng yếu trên cả phương diện mức độ sai sót tổng thể của báo cáo tài chính
trong mối quan hệ với mức độ sai sót chi tiết của số dư các tài khoản, của các giao

rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Khi lập chương trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định cụ thể mức độ
rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn
liệu. Trường hợp không thể xác định cụ thể được thì kiểm toán viên phải giả định
rằng rủi ro tiềm tàng là cao cho cơ sở dẫn liệu đó. Căn cứ vào mức độ đánh giá rủi
ro tiềm tàng để dự kiến các công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện cho các
nghiệp vụ, các khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính, hoặc các nghiệp vụ, các
khoản mục mà kiểm toán viên cho là có rủi ro tiềm tàng cao.
Kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro tiềm tàng trên những nhân tố chủ yếu
sau:
+ Trên phương diện báo cáo tài chính:
- Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự
thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán;
- Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân
viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ;
- Những áp lực bất thường đối với Ban giám đốc, đối với kế toán trưởng,
nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày báo
cáo tài chính không trung thực;
- Đặc điểm hoạt động của đơn vị;
- Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị.
Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
+ Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ:
- Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót;
- Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh
tế;
- Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản;
- Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải
có ý kiến của chuyên gia;
- Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời

rủi ro phát hiện và giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận
được.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Hoặc

Với AR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiểm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
- Vận dụng khái niệm rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Rủi ro phát hiện luôn tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên cần đánh giá rủi ro kiểm toán,
bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nhằm xác định mức rủi ro phát hiện
phù hợp, trên cơ sở đó thiết kế các thử nghiệm cơ bản thích hợp để rủi ro kiểm toán
sau cùng sẽ nằm trong giới hạn được phép. Đối với các khoản mục mà rủi ro phát
Trang 17
AR = IR x CR x DR DR = AR / (IR x CR)
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
hiện chấp nhận được là thấp, kiểm toán viên cần tăng cường thử nghiệm chi tiết, mở
rộng cỡ mẫu…Ngược lại, đối với các khoản mục có thể cho phép mức rủi ro phát
hiện cao, kiểm toán viên có thể giảm bớt các thử nghiệm cơ bản và giảm cỡ mẫu để
tăng tính hiệu quả.
- Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm toán.
• Ở mức độ tổng thể báo cáo tài chính: việc đánh giá rủi ro kiểm toán
được tiến hành dựa trên những thông tin thu thập được về đặc điểm và tình
hình hoạt động kinh doanh, kinh nghiệm kiểm toán, các nhân tố về rủi ro
tiềm tàng ở mức độ báo cáo tài chính, sự xuất hiện của những nhân tố làm
gia tăng khả năng gian lận và sai sót cũng như những hành vi không tuân
thủ pháp luật và các quy định.
• Ở mức độ khoản mục (hay bộ phận): việc đánh giá rủi ro trong từng bộ

• Đặc điểm của giai đoạn lập kế hoạch chiến lược:
Đoạn 13 VSA 300: “Kế hoạch chiến lược phải được lập cho các cuộc kiểm
toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán báo cáo tài
chính của nhiều năm”. Kế hoạch chiến lược vạch ra mục tiêu, định hướng cơ bản,
nội dung trọng tâm, phương pháp tiếp cận và tiến trình của cuộc kiểm toán. Kế
hoạch chiến lược do người phụ trách cuộc kiểm toán lập và được Giám đốc công ty
phê duyệt, được lập thành một văn bản riêng hoặc lập thành một phần riêng trong
kế hoạch kiểm toán tổng thể, là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét kết quả của cuộc
kiểm toán.
• Những nội dung cần tìm hiểu trong giai đoạn lập kế hoạch chiến lược:
- Tìm hiểu về tình hình kinh doanh của khách hàng
- Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính
- Xác định rủi ro tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của
doanh nghiệp
- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
- Xác định nhu cầu hợp tác với chuyên gia
Trang 19
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
- Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện
1.3.3.2. Xây dựng kế hoạch tổng thể
Đoạn 5 VSA 300: “Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hóa kế
hoạch chiến lược và phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm
vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán. Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng
thể là để có thể thực hiện công việc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng
thời gian dự kiến”.
Kế hoạch kiểm toán tổng thể thường bao gồm các nội dung sau:
• Hiểu biết chung về nền kinh tế
• Thực trạng nền kinh tế (tăng trưởng, suy thoái, lạm phát…)
• Các chính sách tiền tệ, ngân hàng, thuế, tài chính… của Nhà nước
• Biến động của thị trường chứng khoán

để phát hiện và nghiên cứu các trường hợp bất thường
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC CHUẨN
MỰC KIỂM TOÁN TRONG VIỆC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN CHUẨN VIỆT
2.1. Khái quát về công ty TNHH Kiểm toán tư vấn ABC
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Quá trình hình thành
Tên công ty : Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn ABC
Tên giao dịch : ABC Auditing and Consulting Company.
Tên viết tắt : ABC Co., Ltd;
Mã số thuế : 0303128182
Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp(hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ)
Trụ sở chính : 33 Phan Văn Hải, P13, Q6, Tp.HCM
Điện thoại : +84 (8) 38594168
Fax : +84 (8) 38592289
Email :
Hình thức sở hữu : Công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Lĩnh vực kinh doanh : Cung cấp dịch vụ Kiểm Toán và tư vấn
Đại diện pháp luật : TAP
Công ty thành lập ngày 20/11/2003, hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn
kiểm toán, kế toán, thuế và tài chính. Trụ sở chính của công ty đặt tại 33 Phan Văn
Hải, Q.6, TP. Hồ Chí Minh do TGĐ, TAP làm đại diện pháp luật.
2.1.1.2. Quá trình phát triển
Hiện tại công ty có nhiều chi nhánh và văn phòng đại diện đặt ở một số tỉnh
thành trong nước: Chi nhánh tại TP. Biên Hòa – Đồng Nai và văn phòng đại diện
đặt tại các tỉnh Bình Thuận, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang và
Sóc Trăng…
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.2.1. Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty

Trưởng
phòng
kiểm
toán 1
Trưởng
phòng
kiểm
toán 2
Trưởng
phòng
kiểm
toán 3
Trưởng
phòng
kiểm
toán 4
Trưởng
phòng
tư vấn
Trưởng
phòng
DV kế
toán
Nhân viên và chuyên
gia
Kiểm toán viên và các trợ

Chuyên gia
Nhân viên
kế toán

Với mục tiêu phát triển lâu dài xem chất lượng phục vụ khách hàng là trên hết
nên tôn chỉ hoạt động của công ty: “Bring knowledge to Clients” (Đem tri thức
phục vụ khách hàng). ABC hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, chính
trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách hàng cũng như quyền lợi của
chính bản thân mình trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật; hoàn toàn chịu
trách nhiệm và có khả năng bồi thường thiệt hại cho khách hàng.
2.1.3.1. Mục tiêu
Giúp cho các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế thực hiện tốt công tác tài chính-
kế toán theo đúng các quy định và pháp luật nhà nước Việt Nam, đảm bảo số liệu kế
toán phản ánh đúng thực trạng của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Giúp cho các cơ quan nhà nước có số liệu trung thực, chính xác, hợp pháp để
thực hiện tốt chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch
vụ trong nền kinh tế quốc dân.
2.1.3.2. Phương hướng phát triển
Với mục tiêu ban đầu là giúp cho khách hàng lành mạnh hóa về nền tài chính
của mình, công ty ABC phát triển không ngừng đội ngũ nhân viên có năng lực sáng
tạo và giàu sáng tạo, kết hợp giữa sức khỏe và kinh nghiệm để giúp cho công ty
vững bước đi trên con đường xây dựng nền tài chính cho khách hàng nói riêng và
nền tài chính của Việt nam nói chung.
2.1.4. Khách hàng
Khách hàng của ABC đa dạng và thuộc các loại hình sau:
− Công ty trong nước
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status