Xem xét, đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong quy trình lập kế hoạch kiểm toán - Pdf 22

Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
Lời mở đầu
Sự cần thiết của đề tài
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm gần đây, đặc biệt
là thị trường chứng khoán, hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính ngày càng đóng
vai trò quan trọng. Yêu cầu nâng cao tính hiệu quả, chất lượng và tính chuyên
nghiệp của cuộc kiểm toán là vấn đề đang được nhà nước và xã hội quan tâm. Lập
kế hoạch kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trong một cuộc kiểm toán báo cáo
tài chính, là một phần quan trọng không thể thiếu của bất kỳ cuộc kiểm toán nào.
Do đó, việc tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán trong khâu lập kế hoạch kiểm toán sẽ
giúp công ty kiểm toán và kiểm toán viên bao quát tình hình, giúp cho việc kiểm
toán được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng và chính xác hơn.
Do phạm vi của các chuẩn mực kiểm toán quá rộng nên người viết đã chọn
những chuẩn mực có liên quan đến công việc lập kế hoạch kiểm toán để nghiên cứu
việc vận dụng các chuẩn mực trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài
chính của công ty kiểm toán ABC làm đề tài tốt nghiệp: “Xem xét, đánh giá việc
vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong quy trình lập kế hoạch kiểm toán tại
Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn ABC”.
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu công việc cụ thể về lập kế hoạch kiểm toán dựa trên các chuẩn mực
ban hành có liên quan đến công việc lập kế hoạch kiểm toán và tình hình vân dụng
trên thực tế tại công ty.
Nhận xét những ưu điểm và những tồn tại cũng như đưa ra một số kiến nghị
nhằm góp phần hoàn thiện quy trình lập kế hoạch kiểm toán cho khách hàng tại
công ty ABC.
Trang 1
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu dựa trên việc xem xét hồ sơ lưu

K.Loebbecker đã định nghĩa: “ Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có
thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng
được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp
giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”.
Có định nghĩa lại cho rằng: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một
cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc
trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung. Nói
tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về đối
tượng được kiểm toán
1
”.
Tại Việt Nam trong Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân
ban hành kèm theo Nghị định số 07/CP của Chính phủ ngày 29/1/94 có nêu: “Kiểm
toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc
các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế
1
Auditing - Theory & Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice
Hall năm 2003
Trang 3
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể,
tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có yêu cầu của đơn vị này”.
Như vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhau song
chúng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:
- Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm toán
(kiểm toán viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp) có các thông
tin kinh tế được kiểm toán.
- Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán
viên sẽ đưa ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện công việc kiểm

• Xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán
• Phương pháp tiếp cận
• Lập kế hoạch
1.2.2. Mục đích của việc lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
Chuẩn mực VSA 300 – Lập kế hoạch kiểm toán - quy định các nguyên tắc, thủ
tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên
quan đến việc lập kế hoạch cho một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.
Công ty kiểm toán và kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo
cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả.
1.3. Quy trình lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính và các chuẩn mực
kiểm toán có liên quan
1.3.1. Tìm hiểu về khách hàng
1.3.1.1. VSA 310, 250 về tìm hiểu tình hình kinh doanh
a. VSA 310 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh”
Trang 5
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
- Nội dung cần tìm hiểu về tình hình kinh doanh
VSA 310 có quy định: “Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán
viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và
phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm
toán mà theo kiểm toán viên thì có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến
việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc báo cáo kiểm toán”.
Hiểu biết cần thiết của kiểm toán viên để thực hiện một cuộc kiểm toán bao
gồm những hiểu biết tổng quan về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, hiểu
biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Mức độ hiểu
biết về đơn vị của kiểm toán viên không nhất thiết phải như Ban giám đốc của đơn
vị được kiểm toán.
- Cách thức tìm hiểu về tình hình kinh doanh
Kiểm toán viên thu thập thông tin về tình hình kinh doanh từ các nguồn như:

hiểu biết về pháp luật và các quy định có liên quan đến đơn vị được kiểm toán bằng
cách sử dụng các phương pháp như tìm hiểu tài liệu và phỏng vấn.
Khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán
phải có thái độ thận trọng nghề nghiệp (theo quy định tại Chuẩn mực kiểm toán
VSA 200), phải chú ý đến hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định dẫn
đến sai sót ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Khi phát hiện thấy một hành
vi cố ý không tuân thủ pháp luật và các quy định, kiểm toán viên phải tính đến khả
năng đơn vị còn có những vi phạm khách nữa. Ngược lại, nếu hành vi là vô tình,
kiểm toán viên không nhất thiết phải áp dụng.
Đoạn 15 VSA 250 chỉ ra rằng: “Để hiểu biết tổng thể về pháp luật và các quy
định có liên quan đến đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên áp dụng những biện
pháp sau đây:
• Sử dụng các kiến thức hiện có liên quan đến hoạt động và ngành nghè
kinh doanh của đơn vị;
• Yêu cầu đơn vị cung cấp và giải trình về những quy định và thủ tục nội
bộ của đơn vị liên quan đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định;
• Trao đổi với lãnh đạo đơn vị về pháp luật và các quy định có ảnh hưởng
trọng yếu đến báo cáo tài chính của đơn vị;
• Xem xét các quy định và thủ tục giải quyết cụ thể của đơn vị khi xảy ra
tranh chấp hoặc xử phạt;
Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
• Thảo luận với những cơ quan chức năng liên quan, chuyên gia tư vấn
pháp luật và cá nhân khác để hiểu biết thêm về pháp luật và các quy định
liên quan đến hoạt động của đơn vị”.
1.3.1.2. VSA 400, VSA 550 về tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
a. VSA 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”
- Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các

phải xem xét các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ trên hai phương diện, đó là
hệ thống kiểm soát nội bộ có được thiết kế phù hợp không và chúng có được thực
hiện trên thực tế hay không. Dựa vào những hiểu biết này, kiểm toán viên sẽ xác
định các sai sót tiềm tàng, xem xét các yếu tố ảnh hưởng có thể dẫn đến có sai lệch
trọng yếu trên báo cáo tài chình, thiết kế các thử nghiệm cơ bản,…
• Bước 2: Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát
Đánh giá rủi ro kiểm soát là đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội
bộ trong việc ngăn chặn và phát hiện các sai sót trọng yếu. VSA 400 quy định:
“Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán
viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở
dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.”
• Bước 3: Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát trong
chương trình kiểm toán
Thử nghiệm kiểm soát là những thử nghiệm để thu thập bằng chứng kiểm toán
về sự hữu hiệu trong thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ.
VSA 400 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát bao gồm:
- Kiểm tra chứng từ của các nghiệp vụ kinh tế và các sự kiện để thu được bằng
chứng kiểm toán về hoạt động hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát
nội bộ, ví dụ kiểm tra các chứng từ liên quan đến phiếu chi tiền có được phê duyệt
đầy đủ hay không;
Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
- Phỏng vấn, quan sát thực tế việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm soát
của những người thực thi công việc kiểm soát nội bộ xem có để lại bằng chứng kiểm
soát hay không;
- Kiểm tra lại việc thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ, ví dụ kiểm tra lại bảng
đối chiếu tiền gửi của đơn vị với ngân hàng, xem xét lại biên bản kiểm kê quỹ, kiểm
kê hàng tồn kho, đối chiếu lại công nợ để đảm bảo rằng chúng có được đơn vị thực
hiện hay không.”

kiểm soát là không hữu hiệu
3
.
Tuy nhiên, nếu kiểm toán viên đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát là tối đa thì
bước 3 và bước 4 sẽ không thực hiện. Hai bước này thường được tiến hành trong
giai đoạn thực hiện kiểm toán, nhưng đôi khi kiểm toán viên có thể kết hợp thực
hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
b. VSA 550 “Các bên liên quan”
- Trình bày yêu cầu đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán khi
đánh giá rủi ro kiểm soát về các sự kiện và giao dịch với “các bên có
liên quan”.
Đoạn 13 VSA 550 có nêu “Khi tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ để đánh giá rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần
phải cân nhắc tính đầy đủ và hiệu quả của các thủ tục kiểm soát nội bộ đối với việc
ghi chép và phê duyệt các giao dịch với các bên liên quan”.
VSA 550 cũng nêu rõ: “ Các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả
năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định
tài chính và hoạt động.” Và “Giao dịch giữa các bên liên quan: Là việc chuyển
giao các nguồn lực hay các nghĩa vụ giữa các bên liên quan, không xét đến việc có
tính giá hay không.”
Về ảnh hưởng đáng kể thì: “Ảnh hưởng đáng kể: Là kết quả của việc tham gia
vào việc đề ra các chính sách tài chính và hoạt động của một doanh nghiệp, nhưng
không kiểm soát các chính sách đó.”
Theo Chuẩn mực VSA 200 có nêu “trong một số trường hợp, có thể tồn tại
những nhân tố hạn chế tính thuyết phục của những bằng chứng dùng để kết luận về
cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính. Vì tính không chắc chắn của cơ sở dẫn liệu
của báo cáo tài chính liên quan đến tính đầy đủ về các bên liên quan, những thủ tục
3
Kiểm toán, 2007, NXB Lao động xã hội, trang 99
Trang 11

1.3.2.1. VSA 200, VSA 320 về xác lập mức trọng yếu
a. VSA 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo
cáo tài chính”
- Khái niệm trọng yếu.
Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
Theo VSA 200 – Tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính – định
nghĩa: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin
(một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin được coi là trọng yếu có
nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng
đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Mức độ trọng yếu tùy
thuộc vào tầm quan trọng của thông tin và tính chất của thông tin hay sai sót được
đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt
chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thông tin
phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính”.
- Đặc điểm của trọng yếu.
Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả 2 phuơng diện, định
lượng và định tính
• Định lượng: sai lệch được gọi là trọng yếu khi nó vượt qua một giới hạn
nhất định có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo
cáo tài chính. Thông thường các chỉ tiêu dùng để xác lập mức trọng yếu là
% trên tổng tài sản, % trên tổng doanh thu hoặc là % trên tổng lợi nhuận.
Tùy vào từng trường hợp cụ thể, kiểm toán viên có thể chọn một chỉ tiêu
hoặc phối hợp cả 3 chỉ tiêu để xác lập mức trọng yếu trong cuộc kiểm toán.
• Định tính: Mức trọng yếu còn tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất
của thông tin, bản chất của sai phạm, phụ thuộc nhiều vào sự xét đoán mang
tính nghề nghiệp của kiểm toán viên. Kiểm toán viên phải nhận thức tuy có
những trường hợp sai lệch nhỏ nhưng vẫn có thể gây ảnh hưởng đến quyết
định của người sử dụng báo cáo tài chính.

kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán gồm ba bộ phận: rủi ro
tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Rủi ro kiểm toán xảy ra khi báo cáo tài chính còn chứa đựng những sai lệch
trọng yếu nhưng kiểm toán viên lại nhận xét rằng chúng đã được trình bày trung
thực và hợp lý. Rủi ro này xuất phát từ các sai lệch tiểm ẩn trong báo cáo tài chính
Trang 14
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
nhưng không được hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị ngăn chặn hay phá hiện và
kiểm toán viên cũng không tìm ra. Để nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh
hưởng đến rủi ro kiểm toán, người ta chia chia rủi ro kiểm toán thành ba bộ phận là
rủi ro tiểm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện.
- Các bộ phận của rủi ro kiểm toán.
a) Rủi ro tiềm tàng: là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ,
từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng
rẽ hoặc tính gộp mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Khi lập chương trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định cụ thể mức độ
rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn
liệu. Trường hợp không thể xác định cụ thể được thì kiểm toán viên phải giả định
rằng rủi ro tiềm tàng là cao cho cơ sở dẫn liệu đó. Căn cứ vào mức độ đánh giá rủi
ro tiềm tàng để dự kiến các công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện cho các
nghiệp vụ, các khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính, hoặc các nghiệp vụ, các
khoản mục mà kiểm toán viên cho là có rủi ro tiềm tàng cao.
Kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro tiềm tàng trên những nhân tố chủ yếu
sau:
+ Trên phương diện báo cáo tài chính:
- Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự
thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán;
- Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân
viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ;

- Kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng
yếu;
Trang 16
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
- Kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở
cho việc đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát.
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có liên hệ chặt chẽ với nhau nên kiểm toán
viên cần kết hợp cùng lúc việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
c) Rủi ro phát hiện: là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ,
từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong
quá trình kiểm toán kiểm toán viên hoặc công ty kiểm toán đã không phát hiện
được.
Mức độ rủi ro phát hiện có liên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của kiểm
toán viên. Kiểm toán viên phải dựa vào đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản để giảm
rủi ro phát hiện và giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận
được.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Hoặc

Với AR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiểm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
- Vận dụng khái niệm rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Rủi ro phát hiện luôn tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên cần đánh giá rủi ro kiểm toán,
bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nhằm xác định mức rủi ro phát hiện

toán viên phải cân nhắc đến mối quan hệ này khi xác định nội dung, lịch trình và
phạm vi của các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp, như khi lập kế hoạch kiểm
toán, nếu kiểm toán viên xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được là thấp thì
rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên. Trong hợp này kiểm toán viên có thể:
Trang 18
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
• Giảm mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá bằng cách mở rộng
hoặc thực hiện thêm thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho việc giảm rủi
ro kiểm soát; hoặc
• Giảm rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm
vi của những thủ tục kiểm tra chi tiết đã dự kiến.
1.3.3. Xây dựng kế hoạch và triển khai chương trình kiểm toán theo VSA
300
1.3.3.1. Xây dựng kế hoạch chiến lược
Đoạn 4 VSA 300: “Lập kế hoạch chiến lược là định hướng cơ bản, nội dung
trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch
ra dựa trên sự hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn
vị được kiểm toán.”
• Đặc điểm của giai đoạn lập kế hoạch chiến lược:
Đoạn 13 VSA 300: “Kế hoạch chiến lược phải được lập cho các cuộc kiểm
toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán báo cáo tài
chính của nhiều năm”. Kế hoạch chiến lược vạch ra mục tiêu, định hướng cơ bản,
nội dung trọng tâm, phương pháp tiếp cận và tiến trình của cuộc kiểm toán. Kế
hoạch chiến lược do người phụ trách cuộc kiểm toán lập và được Giám đốc công ty
phê duyệt, được lập thành một văn bản riêng hoặc lập thành một phần riêng trong
kế hoạch kiểm toán tổng thể, là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét kết quả của cuộc
kiểm toán.
• Những nội dung cần tìm hiểu trong giai đoạn lập kế hoạch chiến lược:
- Tìm hiểu về tình hình kinh doanh của khách hàng

Đối chiếu lại với kế hoạch kiểm toán xem
có thích hợp hay không?
Tham khảo ý kiến
đơn vị và cấp trên
Lựa chọn phương hướng kiểm toán
Đánh giá xem lựa chọn có thích đáng hay
không?
Lập chương trình kiểm toán
Không
Không
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
Thiết kế được một chương trình kiểm toán thích hợp sẽ giúp kiểm toán viên
đạt được mức thỏa mãn trong kiểm toán với chi phí và thời gian hợp lý. Các thủ tục
kiểm toán được thiết kế trong chương trình kiểm toán gồm hai phần:
• Thử nghiệm kiểm soát: là thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng kiểm
toán về sự hữu hiệu trong thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ.
• Thử nghiệm cơ bản: là thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng về những
sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chinh, gồm hai loại:
- Thử nghiệm chi tiết: là việc kiểm tra trực tiếp các nghiệp vụ hay số dư
- Thủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin tài chính, chỉ số, tỷ lệ
để phát hiện và nghiên cứu các trường hợp bất thường
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC CHUẨN
MỰC KIỂM TOÁN TRONG VIỆC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN ABC
2.1. Khái quát về công ty TNHH Kiểm toán tư vấn ABC
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Quá trình hình thành
Tên công ty : Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn ABC
Tên giao dịch : ABC Auditing and Consulting Company.

cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn.
Phó Tổng Giám Đốc bộ phận:
− Tham mưu cho Giám đốc trong những vấn đề quan trọng của cơng ty
Trang 23
Hội Đồng Thành Viên
Ban Tổng Giám Đốc
Trưởng
phòng kế
toán
Trưởng
phòng
TCHC
Trưởng
phòng IT
Phó TGĐ
BP Kiểm
Toán
Phó TGĐ
BP DV Kế
Toán
Phó TGĐ
BP Tư
Vấn
Trưởng
phòng
kiểm
toán 1
Trưởng
phòng
kiểm

hướng phát triển Công ty.
Các phòng ban:
− Phòng IT: Quản lý mạng nội bộ công ty
− Phòng kế toán: Thực hiện việc ghi chp sổ sch của công ty
− Phòng hành chính - Quản trị:
+ Thi hành các chính sách về quản lý do Phó gám đốc đưa xuống.
+ Bảo quản và lưu trữ các dữ liệu kế toán; theo dõi và kiểm tra việc thực
hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ.
+ Phụ trách quản lý, phân bổ nhiện vụ.
+ Đảm bảo chính sách tiền lương và các khoản bảo hiểm xã hội cho
nhân viên.
+ Thực hiện các chức năng hành chính khác trong Công ty.
− Bộ phận Kiểm toán: Thực hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán
do Ban giám đốc ký kết và đưa xuống.
− Bộ phận dịch vụ Kế toán:
+ Thực hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ kế toán do Ban giám đốc ký
kết và đưa xuống.
+ Tổ chức công tác kế toán của Công ty.
Trang 24
Chuyên đề tốt nghiệp (Xem xét đánh giá việc vận dụng chuẩn mực kiểm toán trong việc
lấp kế hoạch kiểm toán)
− Bộ phận dịch vụ tư vấn: Cung cấp các dịch vụ tư vấn về các văn bản pháp
quy, hệ thống kiểm soát nội bộ, dịch vụ tin học kế toán…cho các khách hàng có yêu
cầu.
2.1.3. Nguyên tắc và mục tiêu hoạt động
Với mục tiêu phát triển lâu dài xem chất lượng phục vụ khách hàng là trên hết
nên tôn chỉ hoạt động của công ty: “Bring knowledge to Clients” (Đem tri thức
phục vụ khách hàng). ABC hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, chính
trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách hàng cũng như quyền lợi của
chính bản thân mình trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật; hoàn toàn chịu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status