CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––
Chiến lược
Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Hà nội, tháng 12 năm 2003
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong
thời gian qua ngày càng được chú trọng và đạt những kết quả bước đầu quan trọng.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, môi trường nước ta tiếp tục bị xuống cấp
nhanh, có lúc, có nơi đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng
các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị và khu dân cư đã bị ô nhiễm
nặng; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp
nước sạch nhiều nơi không bảo đảm, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống
nhân dân, đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Để tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, tiếp theo Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu
bền 1991-2000, ngày 2 tháng 12 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 256/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Cùng với việc đánh giá tổng quan môi trường nước ta thời gian qua, dự báo các
thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường thời gian tới, Chiến lược đưa ra các quan
điểm chỉ đạo, mục tiêu, nội dung nhiệm vụ và các giải pháp bảo vệ môi trường cùng
danh mục 36 Chương trình ưu tiên thực hiện về bảo vệ môi trường.
Xin trân trọng giới thiệu Chiến lược này đến các cấp, các ngành, các tổ chức trong
nước và quốc tế.
Hà Nội, tháng 12 năm 2003
Mai Ái Trực
4
Nước ven biển đã có dấu hiệu bị ô nhiễm. Hàm lượng các chất hữu cơ, kim loại
nặng, hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng
dầu trong nước biển có xu hướng tăng nhanh do xẩy ra nhiều sự cố tràn dầu.
Nước ngầm ở một số vùng, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị có nguy cơ
cạn kiệt vào mùa khô và ở một số nơi đã có dấu hiệu bị ô nhiễm. Nguyên nhân là do
khai thác bừa bãi và không đúng kỹ thuật.
Về môi trường không khí: Chất lượng không khí nước ta nói chung còn khá tốt,
đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi. Tuy nhiên, ở các đô thị và khu công nghiệp, ô
nhiễm bụi đang trở thành vấn đề cấp bách cần được xử lý sớm. Việc gia tăng các
phương tiện giao thông cũng đang gây ô nhiễm không khí ở nhiều nơi. Tại một số nút
giao thông lớn, nồng độ khí CO khá cao, trực tiếp gây hại đến sức khoẻ của những
người tham gia giao thông. Chủ trương dùng xăng không pha chì của Chính phủ đã cơ
bản khắc phục tình trạng gia tăng bụi chì trong không khí ở các đô thị và khu công
nghiệp.
Bên cạnh đó, nhiều vụ cháy rừng lớn trong thời gian gần đây đã làm suy giảm
chất lượng không khí và gây ra một số hiện tượng tự nhiên không bình thường khác.
Về rừng và độ che phủ thảm thực vật: Theo số liệu thống kê, nước ta hiện có
khoảng 11.575.400 ha đất có rừng, trong đó khoảng 9.700.000 ha là rừng tự nhiên và
3
1.600.000 ha rừng trồng.
Do có chủ trương đúng đắn và những giải pháp kịp thời, từ năm 1990 đến nay, độ
che phủ rừng trên toàn lãnh thổ tăng lên đáng kể, từ 27,2% năm 1990 lên 33,2% năm
2001 và 34,4% năm 2003. Mặc dù vậy, chất lượng rừng chưa được cải thiện, vẫn tiếp
tục bị suy giảm, rừng tự nhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn vẫn còn bị tàn phá nghiêm
trọng. Rừng giàu, rừng kín, rừng nguyên sinh chỉ còn chiếm khoảng 13% trong khi
rừng nghèo và rừng tái sinh chiếm tới 55% tổng diện tích rừng.
trường.
ở các làng nghề, ô nhiễm môi trường đang hết sức bức xúc và là một trong các
vấn đề môi trường cấp bách của nước ta. Việc lạm dụng hoá chất và thuốc trừ sâu trong
canh tác nông nghiệp đã và đang làm suy thoái đất canh tác, ô nhiễm các nguồn nước
và suy giảm đa dạng sinh học.
Nạn chặt phá rừng làm nương rẫy còn khá phổ biến, sự nghèo đói và những hành
vi xâm hại môi trường đang diễn ra thường xuyên ở các vùng sâu, vùng xa.
4
Về môi trường biển và ven bờ: Việt Nam có bờ biển dài hơn 3200 km với nhiều
hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc thù và đa dạng sinh học cao. Trong những năm qua, do
khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt làm cho các
nguồn lợi thuỷ sản bị suy giảm nghiêm trọng dẫn đến việc khai thác gần bờ đạt hiệu
suất thấp.
Việc nuôi trồng thuỷ sản ven biển tràn lan đi liền với nạn phá rừng ngập mặn đã
làm suy thoái mạnh các hệ sinh thái ven biển. Chỉ trong vòng 20 năm qua, diện tích
rừng ngập mặn ở nước ta giảm hơn một nửa. Hậu quả là lũ quét, triều cường, sóng biển
dẫn tới sạt lở bờ biển làm cho các loài sinh vật bị mất nơi cư trú và suy giảm mạnh về
chủng loại và số lượng.
Phát triển công nghiệp trên bờ và dọc các lưu vực sông lớn cũng đang làm cho bờ
biển nước ta bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng. Nhiều rạn san hô bị chết, hiện
tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện ở một số nơi. Sự cố tràn dầu xẩy ra nhiều hơn đang gây ô
nhiễm và suy thoái môi trường biển và đa dạng sinh học ven bờ.
Về môi trường lao động: Môi trường lao động trong những năm gần đây đã được
cải thiện một bước, có tác động tích cực đến sức khỏe người lao động, tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy vậy, còn nhiều khu vực sản xuất không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn
lao động. Tình trạng ô nhiễm về bụi, hoá chất độc hại, tiếng ồn, nhiệt độ đã làm gia
tăng tỷ lệ công nhân mắc bệnh nghề nghiệp, nhất là trong các ngành hoá chất, luyện
giống loài quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt,... Nhiều doanh nghiệp đầu tư đổi mới
công nghệ, xây dựng hệ thống xử lý chất thải, cải thiện môi trường. Phong trào quần
chúng tham gia bảo vệ môi trường được đẩy mạnh, công tác xã hội hoá bảo vệ môi
trường đã được hình thành ở một số nơi, nhiều điển hình tiên tiến trong công tác bảo vệ
môi trường, các mô hình tự quản về môi trường ở cộng đồng đã xuất hiện và đang phát
huy tác dụng tích cực,...
Mặc dù đạt được những bước tiến ban đầu, nhưng nhìn chung công tác bảo vệ môi
trường còn nhiều tồn tại và yếu kém. Hệ thống luật pháp về môi trường chưa hoàn
thiện; còn thiếu một số văn bản luật quan trọng nhưLuật về không khí sạch, Luật về an
toàn hoá chất, Luật đa dạng sinh học,... cũng như nhiều văn bản hướng dẫn khác chưa
được ban hành. Hệ thống cơ quan quản lý môi trường còn nhiều bất cập, lực lượng cán
bộ làm công tác môi trường vừa thiếu vừa yếu về năng lực chuyên môn. Việc phân
công, phân nhiệm chưa rõ ràng, vừa chồng chéo vừa để nhiều khoảng trống thiếu sự
quản lý của nhà nước. ý thức tự giác bảo vệ môi trường của người dân còn thấp; đầu tư
cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu, còn dàn trải và thiếu hiệu quả; các công
cụ kinh tế chưa được áp dụng mạnh mẽ trong quản lý môi trường v.v. Những yếu kém
trên đây cùng với việc chất lượng môi trường xuống cấp nhanh đang đặt ra những thách
thức lớn đối với công tác bảo vệ môi trường thời gian tới.
3. Những thách thức đối với môi trường nước ta thời gian tới
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, môi trường nước ta đứng trước nhiều thách
thức lớn cả về mặt khách quan và chủ quan. Một số thách thức chính:
3.1. Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết trong khi dự báo mức
độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng
Những hậu quả do chiến tranh để lại, tác động xấu do một thời gian dài phát triển
kinh tế không chú trọng đầy đủ, đúng mức đến môi trường cùng với việc các nguồn lực
bảo vệ môi trường còn quá hạn hẹp, là nguyên nhân dẫn đến việc tồn tại nhiều vấn đề
môi trường bức xúc chưa được giải quyết.
Nhiều nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là các ao, hồ, các dòng sông
chảy qua các đô thị lớn, các khu công nghiệp; chất thải rắn đô thị và công nghiệp có tỷ
lệ chất thải nguy hại cao phát sinh hàng ngày rất lớn trong khi năng lực thu gom và xử
khoa học và công nghệ còn hạn chế nếu không ngăn chặn kịp thời dễ dẫn tới những
hành vi chấp nhận, đánh đổi nhiều giá trị, lợi ích về môi trường để thực hiện các mục
tiêu trước mắt đơn thuần về kinh tế. Đây là thách thức lớn nhất đối với môi trường nước
ta, vì khi đã xẩy ra theo chiều hướng này thì việc khắc phục sẽ rất tốn kém, thậm chí
trong nhiều trường hợp không thể thực hiện được.
3.3. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu, nguồn lực bảo vệ môi
trường của nhà nước và các doanh nghiệp đều bị hạn chế
Hiện nay, tình trạng kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường ở đô thị và nông
thôn, cũng như trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường ở các cơ sở sản xuất, đặc biệt là
ở các xí nghiệp vừa và nhỏ, còn rất lạc hậu và thấp kém. Để giải quyết các vấn đề đang
tồn tại về môi trường và hạn chế mức gia tăng ô nhiễm trong thời gian tới đòi hỏi phải
có nguồn lực đầu tư rất lớn cho môi trường, trong khi khả năng tài chính của nhà nước
cũng như của các doanh nghiệp đều rất hạn hẹp cũng đặt ra thách thức rất lớn đối với
môi trường nước ta.
3.4. Sự gia tăng dân số, di dân tự do và đói nghèo
Tỷ lệ tăng dân số nước ta vẫn đang ở mức cao (khoảng 1,7%/năm), dự báo đến
năm 2020 dân số sẽ xấp xỉ 100 triệu người. Nạn di dân tự do và chặt phá rừng làm
nương rẫy, trồng cây công nghiệp còn khá phổ biến. Vấn đề nghèo đói ở các vùng sâu,
vùng xa chưa được giải quyết triệt để (hiện có 2300 xã ở diện đói nghèo). Đây là thách
thức sẽ gây sức ép lớn đối với cả tài nguyên và môi trường trên phạm vi toàn quốc và
đòi hỏi phải có chiến lược tài nguyên, môi trường phù hợp, đi đôi với chiến lược dân số
và chiến lược tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo.
3.5. ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội còn thấp
Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cấp lãnh đạo, các nhà quản
lý, các doanh nhân và cộng đồng còn chưa đầy đủ. ý thức tự giác bảo vệ môi trường
trong cộng đồng còn thấp nên các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, tác động
xấu đến môi trường còn khá phổ biến. Hậu quả gây ra trong nhiều trường hợp là rất lớn.
Cháy rừng và nhiều sự cố môi trường lớn xẩy ra, ô nhiễm do rác thải nơi công cộng v.v.
trong những năm gần đây, đã báo động về các hành vi vô ý thức và cả có ý thức đang
gây hậu quả rất lớn cho môi trường.
thải vũ trụ, suy giảm tầng ô zôn, mưa a-xít, biến đổi khí hậu, hiện tượng el-nino, lanina, khói mù do cháy rừng, ô nhiễm biển và đại dương, dịch chuyển ô nhiễm, mất rừng
và suy thoái đa dạng sinh học v.v. Các vấn đề môi trường xuyên biên giới, các vấn đề
môi trường lưu vực sông Mê Kông và sông Hồng cũng đang ảnh hưởng xấu đến môi
trường trong nước và tạo nên những thách thức trong thời gian tới.
Mẫu hình tiêu thụ lãng phí, trào lưu văn hoá không lành mạnh, tệ nạn ma tuý, mại
dâm theo dòng toàn cầu hoá sẽ tác động mạnh đến hành vi của con người cũng sẽ trực
tiếp thách thức đối với môi trường nước ta.
8
Phần thứ hai
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC NỘI DUNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CƠ BẢN
1. Quan điểm
Để vượt qua các thách thức và thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ môi trường,
phát triển bền vững đất nước, trong giai đoạn tới cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo
sau:
1.1. Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách rời của
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng để phát triển bền vững đất
nước. Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
Để phát triển bền vững, cần kết hợp một cách khoa học, cân đối các yếu tố kinh
tế, xã hội, môi trường trong từng giai đoạn và lĩnh vực phát triển. Môi trường là một
trong những mục tiêu cơ bản và nội dung quan trọng không thể tách rời trong quá trình
phát triển. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
Việc lồng ghép yếu tố môi trường trong các chủ trương, chính sách, kế hoạch phát
triển của các cấp, các ngành ở nước ta chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Yếu tố
môi trường đang bị xem nhẹ. Đầu tư cho bảo vệ môi trường còn ở mức rất thấp, chưa
đáp ứng yêu cầu. Cần tạo được chuyển biến rõ rệt trong quan niệm về đầu tư, nâng mức
đầu tư, và đầu tưmột cách có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường.
1.2. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các
tổ chức, cộng đồng và mọi người dân; bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, khu vực
đã đạt được những tiến bộ nhất định. Tuy nhiên, vẫn chưa tạo ra được sự chuyển biến
mạnh mẽ trong nhận thức về môi trường của toàn xã hội. Bảo vệ môi trường chưa trở
thành ý thức và hành vi thường xuyên của mỗi người dân. Vì vậy, phải coi ý thức bảo
vệ môi trường của toàn xã hội là yếu tố quan trọng nhất.
Mọi thành công trong lĩnh vực bảo vệ môi trường luôn gắn liền với quá trình
không ngừng nâng cao nhận thức của người dân. Một mặt, phải làm cho mỗi công dân
thấm nhuần quan điểm bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mình, vì lợi ích toàn xã hội
và cũng vì lợi ích của chính bản thân mình. Mặt khác, phải tích cực trang bị cho các
công dân những tri thức cần thiết để thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường một cách
tích cực và có hiệu quả. Việc nhận thức đúng đắn nghĩa vụ bảo vệ môi trường và có đầy
đủ năng lực để thực hiện nghĩa vụ đó của mỗi công dân là tiền đề cơ bản để hình thành
ý thức tự giác bảo vệ môi trường trong toàn xã hội.
1.4. Bảo vệ môi trường là việc làm thường xuyên, lâu dài. Coi phòng ngừa là
chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất
lượng môi trường; tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; coi khoa học và công nghệ là
công cụ hữu hiệu trong bảo vệ môi trường.
Việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường là rất khó khăn và tốn
kém, thậm chí, trong nhiều trường hợp không thể thực hiện được. Vì vậy, phòng ngừa
ô nhiễm, ngăn chặn có hiệu quả suy thoái môi trường phải được coi là biện pháp hữu
hiệu và phù hợp nhất đối với nước ta trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 và về lâu dài
đến năm 2020. Hạn chế tối đa việc cho phép đầu tư xây dựng các công trình, dự án có
ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm và suy thoái môi
trường cao. Kiểm soát và tiến tới xử lý triệt để hoặc loại bỏ các cơ sở sản xuất kinh
doanh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ sạch,
dây chuyền sản xuất sạch hơn, sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu ít gây ô nhiễm và thân
thiện với môi trường. Tích cực vận động thay đổi mẫu hình tiêu thụ lãng phí v.v.
Khoa học, công nghệ trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 đã đạt được
những thành tựu mang tính đột phá. Ngày nay, khoa học, công nghệ đã trở thành động
lực chính của mọi quá trình phát triển. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, những tiến bộ
khoa học, công nghệ mang lại những khả năng to lớn. Khoa học, công nghệ cho phép
2a. Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện
chất lượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở
các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc ở các thành phố lớn và một số vùng
nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, ao hồ, kênh mương.
3b. Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự
biến động khí hậu bất lợi đối với môi trường; ứng cứu và khắc phục có hiệu quả sự cố
môi trường do thiên tai gây ra.
4c. Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân
bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học.
5d. Chủ động thực hiện và đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong hội nhập
kinh tế quốc tế, hạn chế các ảnh hưởng xấu từ của quá trình toàn cầu hoá đến môi
trường trong nước.
2.2.2. Các mục tiêu cụ thể
a. Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm:
1) 100% cơ sở sản xuất xây dựng mới phải có công nghệ sạch hoặc có các thiết bị
giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường;
2) 50% các cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn
môi trường hoặc Chứng chỉ ISO 14001;
3) Phấn đấu 30% hộ gia đình, 70% doanh nghiệp có dụng cụ phân loại rác thải tại
nguồn, 80% khu dân cư có thùng đựng rác tập trung; 80% khu vực công cộng có thùng
gom rác thải;
4) 40% các khu đô thị, 70% các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý
nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; thu gom 90% chất thải rắn sinh hoạt,
công nghiệp và dịch vụ, xử lý trên 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải bệnh viện;
11
5) An toàn hoá chất được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là các hoá chất có mức độ
độc hại cao; việc sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường
được hạn chế tối đa, tăng cường sử dụng các biện pháp trừ dịch hại tổng hợp;
trường;
2) Đảm bảo 100% các giống, loài, các nguồn gen nhập khẩu vào nước ta phải
được kiểm định;
3) 100% sinh vật biến đổi gen nhập khẩu vào Việt Nam được kiểm soát.
3. Các nội dung nhiệm vụ cơ bản về bảo vệ môi trường
3.1. Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm
3.1.1. Thực hiện đồng bộ các biện pháp về phòng ngừa ô nhiễm môi trường
Thực hiện nghiêm quy định về lập và thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi
12
trường, thông qua thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường để phân loại các dự
án đầu tư thành:
1- Nhóm 1. Các dự án có tác động lớn hoặc tiềm ẩn nguy cơ cao đối với môi
trường;
2- Nhóm 2. Các dự án tác động đến môi trường ở mức có thể kiểm soát được
thông qua sự can thiệp của con người;
- Nhóm 3. Các dự án ít tác động đến môi trường.
Hạn chế phê duyệt và tiến tới cấm hoàn toàn việc đầu tư xây dựng mới các công
trình, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc nhóm 1. Yêu cầu khắt khe về đầu tư lắp
đặt các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, các công trình xử lý chất thải cũng như các biện
pháp giảm thiểu tác động đến môi trường đối với các dự án thuộc nhóm 2.
3.1.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm cấp quốc gia,
ngành và địa phương để ngăn chặn, xử lý và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm và suy
thoái môi trường
Tiến hành các biện pháp hạn chế nhập khẩu và lưu hành các phương tiện giao
thông, các máy móc thiết bị đã qua sử dụng có hiệu suất sử dụng nhiên liệu thấp, gây ô
nhiễm môi trường. Kiểm soát chặt chẽ các công trình xây dựng ở nội thành, các dự án
nâng cấp, cải tạo các đường phố có mức độ phát tán bụi cao. Quản lý tốt các phương
tiện chuyên chở nguyên vật liệu trong thành phố, đặc biệt là ở các khu vực có mật độ
3.1.4. Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động quản lý chất thải
Tổ chức tốt hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ. Có
cơ chế khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ gia đình phân loại rác thải tại
nguồn. Có cơ chế hình thành và phát triển các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ thu gom
và xử lý chất thải rắn. Nhà nước chủ động kết hợp liên doanh với các nhà đầu tư khác
hình thành hệ thống các cơ sở xử lý, tái chế, đốt và chôn lấp chất thải rắn. Đầu tư xây
dựng các cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung và có các biện pháp bắt buộc các
doanh nghiệp phải xử lý triệt để hoặc hợp đồng với các tổ chức dịch vụ chuyên nghiệp
để xử lý chất thải nguy hại.
Tổ chức thu phí bảo vệ môi trường theo Nghị định số 67/2003/NĐCP ngày
13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và các văn bản
hướng dẫn khác có liên quan và sử dụng kinh phí thu được kết hợp đầu tư từ nguồn
ngân sách Nhà nước để xây dựng các khu xử lý nước thải tập trung ở các đô thị, khu
dân cư v.v.
Hình thành cơ chế phát hiện, xử phạt nghiêm các tổ chức, cá nhân xả thải các loại
chất gây ô nhiễm môi trường ra đường phố, nơi công cộng, đặc biệt là ở các đô thị và
khu đông dân cư. Xây dựng phong trào toàn dân ủng hộ và thực hiện nghiêm túc khẩu
hiệu "Không vứt rác, đổ rác ra đường".
Kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển có nguồn gốc từ đất
liền, có các biện pháp phòng tránh và hạn chế có hiệu quả đối với các sự cố môi trường
biển, đặc biệt là các sự cố tràn dầu.
3.1.5. Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Tổ chức tốt việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp
tục điều tra, thống kê danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và lập
kế hoạch xử lý triệt để, đặc biệt đối với các cơ sở nằm xen kẽ các khu dân cư. Có các
biện pháp hỗ trợ kịp thời, các cơ chế chính sách hợp lý đối với các cơ sở phải đóng cửa,
di dời địa điểm. Xử phạt nặng đối với các cơ sở vi phạm tiêu chuẩn môi trường.
3.2. Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng
3.2.1. Thực hiện các dự án khắc phục và cải tạo các điểm, vùng, khu vực bị ô
kiểm định, lập danh sách các nạn nhân chất độc màu da cam/đi-ô-xin, có các giải pháp
y tế cần thiết tăng cường sức khoẻ, hạn chế các di chứng do các chất độc để lại trên con
người ở các thế hệ sau này.
3.2.3. ứng cứu sự cố môi trường và khắc phục nhanh hậu quả ô nhiễm môi trường
do thiên tai gây ra
Xây dựng năng lực ứng cứu sự cố môi trường, đặc biệt là sự cố tràn dầu. Đẩy
mạnh công tác phòng chống sự cố môi trường trong các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ sự cố môi trường cao.
Kịp thời khắc phục nhanh hậu quả đối với môi trường do sự cố và thiên tai gây ra,
tránh lây lan bệnh tật và ảnh hưởng lâu dài đến môi trường và con người.
3.3. Bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên
3.3.1. Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất,
tài nguyên khoáng sản
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch sử dụng bền
vững tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản trong lòng đất.
áp dụng có hiệu quả các công cụ quản lý để giải quyết hài hoà các vấn đề liên
ngành trong sử dụng đất, khai thác tài nguyên khoáng sản với việc bảo vệ môi trường
và với các lĩnh vực phát triển khác.
Thực hiện đánh giá tác động môi trường các dự án quy hoạch, khai thác, sử dụng
tài nguyên đất và tài nguyên khoáng sản, bảo đảm các dự án khi đi vào hoạt động phải
thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu về công nghệ, kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo
Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
Trong sản xuất nông nghiệp cần nghiên cứu thay đổi phương thức canh tác theo
hướng bảo đảm cân bằng sinh thái và bền vững, nâng cao chất lượng đất, giảm diện tích
đất thoái hoá, bạc màu. áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc một cách khoa học,
15
chống rửa trôi, xói mòn. Có các biện pháp giảm diện tích đất dốc bị thoái hoá, bạc màu
trong phạm vi toàn quốc.
3.4.1. Các đô thị và khu công nghiệp
Tiến hành đánh giá tác động môi trường đối với quy hoạch phát triển đô thị, khu
công nghiệp; xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp mới với các điều kiện vệ sinh
môi trường, kết cấu hạ tầng về môi trường đồng bộ; kết hợp cải tạo, chỉnh trang đô thị
với cải thiện các điều kiện về môi trường.
Tăng cường năng lực thu gom chất thải rắn; quy hoạch các bãi chôn lấp đủ công
suất và đạt tiêu chuẩn môi trường; xây dựng các cơ sở xử lý, tái chế hoặc các lò thiêu
chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp trên phạm vi cả nước.
Cải tạo và nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước thải, nước mưa ở các đô thị và khu
công nghiệp theo hướng tách nước mưa và nước thải, tách nước thải sinh hoạt và nước
thải công nghiệp. Tiến hành xây dựng các hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các đô
16
thị và khu công nghiệp bảo đảm nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra
môi trường.
Xây dựng hệ thống các lò đốt chất thải y tế đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, các cơ sở xử
lý chất thải bệnh viện, chất thải nguy hại.
Thực hiện nạo vét, cải tạo các ao, hồ, các đoạn sông, kênh, rạch đi qua các đô thị
và khu công nghiệp. Cải tiến hệ thống giao thông, từng bước lắp đặt các thiết bị giảm
thiểu, hấp phụ khí thải từ các phương tiện giao thông, đặc biệt là các khí thải độc hại.
3.4.2. Biển, ven biển và hải đảo
Chiến lược phát triển kinh tế biển phải được xây dựng theo quan điểm sử dụng
tổng hợp, hợp lý đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và ven bờ. Các ngành
khai thác dầu khí, giao thông vận tải, thuỷ sản, lâm nghiệp, du lịch,... phải thực hiện
đầy đủ các yêu cầu bảo vệ môi trường trong ngành và phối hợp cùng bảo vệ môi trường
biển, ven biển và hải đảo.
Thực hiện tốt quản lý môi trường biển và ven biển bao gồm phân vùng chức năng
biển và ven biển, quản lý tổng hợp các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven
biển, thành lập hệ thống các khu bảo tồn biển và ven biển, phát triển và cải thiện sinh
kết cấu hạ tầng đạt tiêu chuẩn môi trường.
3.4.5. Di sản tự nhiên và di sản văn hóa
Nước ta có nhiều di sản văn hoá và tự nhiên có tầm cỡ quốc tế và quốc gia trong
đó có những di sản đã được thế giới công nhận như: Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ
Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn, Động Phong Nha
- Kẻ Bàng.
Cần phải coi việc gìn giữ, bảo vệ và tôn tạo môi trường văn hoá, tự nhiên cho các
di sản văn hoá, tự nhiên của đất nước như một bộ phận quan trọng của Chiến lược bảo
vệ môi trường quốc gia và có các biện pháp bảo vệ cũng như phát triển các di tích văn
hoá, tự nhiên quý giá đó.
3.5. Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
3.5.1. Bảo vệ, phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia
Cần coi nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên có tầm quan trọng như nhiệm vụ phòng
ngừa và khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường. Bảo tồn thiên nhiên góp
phần cân bằng sinh thái, tạo sự ổn định tự nhiên. Bảo tồn các hệ sinh thái, đặc biệt là
các hệ sinh thái đầu nguồn sẽ hạn chế thiên tai, lũ lụt, giữ được sự ổn định mực nước
mặt và nước ngầm. Nhà nước khoanh vùng bảo tồn các hệ sinh thái đặc thù, có tính đa
dạng sinh học cao theo quy chế đặc biệt và tiếp tục nghiên cứu khoanh vùng cho các
mục đích bảo tồn ở các nơi khác nhằm tăng số lượng vùng và diện tích bảo tồn trên
phạm vi cả nước. Quy hoạch khu bảo tồn phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
3.5.2. Phát triển rừng và nâng diện tích thảm thực vật
Nội dung phát triển diện tích rừng gồm trồng rừng để đến năm 2010 đạt tỷ lệ 43%
diện tích đất tự nhiên, đặc biệt, chú trọng việc khôi phục diện tích các khu vực rừng
nguyên sinh đầu nguồn đã bị suy thoái và nâng cao chất lượng rừng nhằm đạt hiệu quả
kinh tế cao, phát huy hiệu quả bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, phát triển đa dạng
sinh học.
3.5.3. Bảo vệ đa dạng sinh học
Kiểm soát chặt việc buôn bán các động vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao;
loại bỏ các phương thức khai thác huỷ diệt, đặc biệt là trong khai thác thuỷ sản; đẩy
từ lứa tuổi học đường. Tăng cường giáo dục môi trường trong các trường học bao gồm:
lồng ghép các kiến thức môi trường một cách khoa học với một khối lượng hợp lý trong
các chương trình giáo dục của từng cấp học; khuyến khích các cơ sở giáo dục - đào tạo
tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao ý thức tự giác bảo vệ môi trường, thấm sâu tình
yêu thiên nhiên, đất nước, của học sinh tại các trường học, đặc biệt tại các trường mầm
non mẫu giáo, tiểu học, trung học phổ thông.
2. Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật về bảo vệ môi trường
Tăng cường năng lực quản lý và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của hệ
thống quản lý môi trường ở Trung ương , đặc biệt là phục vụ công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát về môi trường.
Hình thành và phát triển hệ thống quản lý môi trường ở địa phương theo hướng
kết hợp quản lý tài nguyên với quản lý môi trường. Trước mắt kiện toàn các Sở Tài
nguyên và Môi trường trong đó có đơn vị quản lý môi trường đủ mạnh ở các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương; hình thành bộ phận quản lý môi trường kết hợp với quản lý
tài nguyên ở cấp huyện, có cán bộ chuyên trách về môi trường và tài nguyên ở cấp xã.
Tăng cường pháp chế về môi trường bao gồm các nội dung hoàn thiện hệ thống
các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo hướng quy định rõ quyền
lợi, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân, các chế tài cụ thể cho
trường hợp vi phạm; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, lực lượng thanh tra, kiểm tra;
triển khai thường xuyên, định kỳ, đột xuất các đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm
các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm Luật Bảo vệ môi trường được thực hiện nghiêm
chỉnh.
19
Hiệu lực thi hành pháp luật, trong đó có pháp luật về bảo vệ môi trường của nước
ta hiện nay nhìn chung còn yếu. Trong giai đoạn tới, cần phải nâng cao hiệu lực thi
hành pháp luật về bảo vệ môi trường. Một mặt, nâng cao ý thức tự giác chấp hành luật
của công dân, mặt khác, tăng cường việc giám sát, quản lý của các cơ quan quản lý Nhà
nước đối với việc thi hành luật. Bên cạnh đẩy mạnh xử phạt vi phạm hành chính, cần
đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường. Tăng chi cho môi trường
từ nguồn vốn ODA. Phấn đấu đến năm 2010, đầu tư bảo vệ môi trường ở mức 2% tổng
chi ngân sách nhà nước.
Khai thác triệt để các nguồn đầu tư từ xã hội cho công tác bảo vệ môi trường.
Phấn đấu đến năm 2010, các nguồn đầu tư từ xã hội cho công tác bảo vệ môi trường
ngang bằng với nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Tăng nguồn vốn cho Quỹ Bảo vệ
môi trường Việt Nam.
Thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ODA, đến năm 2010, tăng vốn
ODA cho lĩnh vực môi trường lên gấp 3 lần so với mức năm 2000.
Quản lý các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường theo hướng tiết kiệm, hiệu
20
quả, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải và hiệu quả thấp.
6. Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ về bảo vệ môi trường
Tiếp tục phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu, triển khai về môi trường.
Các trung tâm, viện, trường có nghiên cứu, đào tạo về môi trường cần được củng cố và
phát triển làm chỗ dựa vững chắc của công tác quản lý môi trường.
Thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp nhà
nước, cấp bộ về bảo vệ môi trường nhằm phục vụ đắc lực cho công tác quản lý nhà
nước về môi trường cũng như phục vụ nhu cầu bảo vệ môi trường của cộng đồng doanh
nghiệp và toàn xã hội.
7. Đẩy mạnh Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
Để thực hiện thành công các mục tiêu về môi trường trong giai đoạn từ nay đến
năm 2010 và những năm tiếp theo, một mặt, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn thể
nhân dân, mặt khác, cần có sự định hướng, tổ chức, giám sát thực hiện một cách chặt
chẽ của Nhà nước. Nội dung của việc xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường là huy
động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác bảo vệ môi trường. Xác lập
các cơ chế khuyến khích, các chế tài hành chính, hình sự và thực hiện một cách công
bằng, hợp lý đối với cả các đối tác thuộc Nhà nước cũng như các đối tác tư nhân khi
21
Phần thứ tư
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 là văn bản định hướng hết sức quan trọng, có phạm vi tác động rộng lớn, có thời
gian thực hiện khá dài, đòi hỏi phải tổ chức thực hiện nghiêm túc với quyết tâm cao.
1. Phân công tổ chức thực hiện
1.1. Thống nhất tổ chức thực hiện Chiến lược
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối, có nhiệm vụ chủ trì phối hợp
với các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là
UBND các tỉnh) thống nhất tổ chức thực hiện các nội dung và giải pháp của Chiến
lược.
Các bộ, ngành, UBND các cấp, theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm tổ chức thực hiện các mục tiêu, nội dung, giải pháp liên quan đến ngành,
địa phương và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện
Chiến lược.
Hàng năm Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, các
địa phương tổ chức đánh giá việc thực hiện Chiến lược và báo cáo Thủ tướng Chính
phủ. Nội dung thực hiện công tác bảo vệ môi trường phải được xem là một bộ phận
quan trọng trong báo cáo của Chính phủ trong phiên họp cuối năm của Quốc hội.
1.2. Chủ trì tổ chức thực hiện các nội dung của Chiến lược
1.2.1. Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm
Bộ Công nghiệp chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và UBND các tỉnh liên quan
và thống nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện nội dung 3.1.1.
“Thực hiện đồng bộ các biện pháp về phòng ngừa ô nhiễm môi trường” và 3.1.2. “Xây
dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm cấp quốc gia, ngành và địa
phương để ngăn chặn, xử lý và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm và suy thoái môi
trường”.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với UBND các tỉnh, các bộ, ngành
liên quan tổ chức thực hiện nội dung 3.1.3. “Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về
thị và Công nghiệp”.
Bộ Thuỷ sản chủ trì phối hợp với bộ, ngành và UBND các tỉnh liên quan liên
quan và thống nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện nội dung 3.4.2.
“Biển, ven biển và hải đảo”.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với bộ, ngành và UBND các tỉnh
liên quan tổ chức thực hiện nội dung 3.4.3. “các lưu vực sông và các vùng đất ngập
nước”.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với bộ, ngành và UBND
các tỉnh liên quan và thống nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện
nội dung 3.4.4. “Nông thôn, miền núi”.
Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì phối hợp với bộ, ngành và UBND các tỉnh liên
quan và thống nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện nội dung 3.4.5.
“Di sản tự nhiên và di sản văn hoá”.
1.2.5. Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Thuỷ sản và
UBND các tỉnh liên quan tổ chức thực hiện nội dung 3.5.1. “Bảo vệ, phát triển các khu
bảo tồn thiên nhiên và các vườn quốc gia” và
3.5.2. “Phát triển rừng và nâng diện tích thảm thực vật”.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với bộ, ngành và UBND các tỉnh
liên quan tổ chức thực hiện nội dung 3.5.3. “Bảo vệ đa dạng sinh học”.
1.3. Chủ trì tổ chức thực hiện các giải pháp của Chiến lược
Bộ Văn hoá Thông tin chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ, ngành,
UBND các tỉnh liên quan và thống nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực
hiện giải pháp 1. “Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi
trường”
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với bộ, ngành và UBND các tỉnh
liên quan tổ chức thực hiện giải pháp 2. “Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và
pháp luật về bảo vệ môi trường”.
24
Phụ lục:
Các chương trình bảo vệ môi trường ưu tiên thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Ký hiệu
Tên chương trình
Thời gian hoàn
thành
Mức độ ưu tiên
Cơ quan thực hiện và cơ quan phối
hợp
I. Các chương trình thực hiện nội dung (nhiệm vụ) bảo vệ môi trường của Chiến lược
1. Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm
MT.PK1
MT.PK2
MT.PK3
MT.PK4
MT.PK5
MT.PK6
MT.PK7
Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng (thực hiện theo quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày
22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Kế hoạch
xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”)
Ưu tiên
2010 xong bước 1
Ưu tiên
2010
Bộ TN&MT, bộ, ngành và UBND
tỉnh liên quan
Bộ TN&MT, bộ, ngành và UBND
tỉnh liên quan
Bộ Y tế, bộ, ngành và UBND tỉnh
liên quan
Bộ XD, GTVT, bộ, ngành và UBND
tỉnh liên quan
Bộ CN, TN&MT, bộ, ngành và
UBND tỉnh liên quan
Bộ TM, TN&MT, bộ, ngành và
UBND tỉnh liên quan
Bộ KH&CN, các bộ, ngành và
UBND tỉnh liên quan
2. Khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng
MT.KP1
MT.KP2
Chương trình cải tạo kênh, mương, sông, hồ ở các đô thị đã bị ô
MT.BK2
Chương trình bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu
Ưu tiên cao nhất
2010 xong bước 1
Bộ NN&PTNT, bộ, ngành và UBND
tỉnh liên quan
Bộ TN&MT, NN&PTNT, bộ, ngành
25
MT.BK3
MT.BK4
MT.BK5
Chương trình bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Chương trình bảo vệ môi trường lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai
Chương trình cải thiện chất lượng không khí ở các đô thị Việt Nam
Ưu tiên cao nhất
2010 xong bước 1
Ưu tiên cao nhất
2010 xong bước 1
Ưu tiên
2010
Ưu tiên cao
2010
Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn,
bộ, ngành và UBND tỉnh liên quan
Ưu tiên cao
2010 xong bước 1
Bộ NN&PTNT, bộ, ngành và UBND
tỉnh liên quan
Ưu tiên cao
2010 xong bước 1
Ưu tiên cao
2010 xong bước 1
Ưu tiên cao
2010
Chương trình xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu
chuẩn môi trường ở tất cả các khu công nghiệp
Chương trình bảo vệ các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng
quốc gia, quốc tế
Chương trình bảo vệ và phát triển các di sản tự nhiên và di sản văn
hoá
Bộ XD, GTVT, bộ, ngành và UBND
tỉnh liên quan
Bộ CN, Ban quản lý các khu công
nghiệp, bộ, ngành và UBND tỉnh liên
quan
Bộ NN&PTNT, TN&MT, bộ, ngành
và UBND tỉnh liên quan
Bộ VHTT, bộ, ngành và UBND tỉnh
liên quan
5. Bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học
MT.TN1
MT.TN2
Chương trình tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển các khu bảo
tồn thiên nhiên (thực hiện theo Quyết định sô 192/2003/QĐ-TTg
ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến
lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm
2010)
Chương trình thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (thực hiện
theo Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Bộ NN&PTNT, TS, bộ, ngành và