45
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Hoạt động nông nghiệp và nuôi
trồng thủy sản
Trồng trọt: LVHTS Đồng Nai hiện
có khoảng 1,8 triệu ha đất nông
nghiệp (chiếm 48,7% diện tích toàn
lưu vực). Hoạt động canh tác trên LVS
đã gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường nước do việc sử dụng phân
bón và thuốc bảo vệ thực vật không
đúng quy cách.
Việc khai thác và cải tạo đất phèn
trên một số vùng như Long An, Củ
Chi, Bình Chánh (thành phố Hồ Chí
Minh), cộng với việc sử dụng phân
bón có đặc tính chua làm gia tăng
mức độ axít hóa nước sông Sài Gòn
và Vàm Cỏ Đông.
Chăn nuôi:
Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai
là những khu vực có hoạt động chăn
nuôi phát triển rất mạnh trong lưu vực
(Hình 2.54). Tổng lượng nước thải từ
hoạt động chăn nuôi trên toàn LVS là
khoảng 147.300 m
3
/ngày. Hầu hết
lượng nước thải này đều được đổ
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Hoạt động giao thông vận tải thủy
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có
nhiều sông lớn, rộng, sâu và luồng lạch
ổn đònh, đặc biệt là khu vực hạ lưu sông
Đồng Nai, Sài Gòn, Nhà Bè, Soài Rạp,
Vàm Cỏ, Thò Vải Những khu vực này
có các điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển giao thông thủy và hệ thống cảng
nước sâu trong khu vực.
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
hiện có tổng số 37 cảng lớn nhỏ với khả
năng tiếp nhận các tàu từ 1.000 - 30.000
DWT. Sự phát triển mạnh mẽ của hệ
thống các cảng kéo theo số lượng tàu
thuyền gia tăng. Đây là một trong những
nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
nước mặt do việc xả thải dầu cặn và các
chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng.
Theo nhiều công trình nghiên cứu thì khối
lượng dầu phát sinh trong quá trình vệ
sinh các tàu chở dầu chiếm khoảng 0,67%
trọng tải tàu. Hiện nay, các tàu sông
thường súc rửa vệ sinh tàu và đổ thải
ngay tại chỗ đã gây ô nhiễm dầu trên một
số sông rạch khu vực hạ lưu của LVS.
Các sự cố tràn dầu đang ngày càng gia
tăng do các vụ va chạm, chìm tàu chở dầu
Đối với tỉnh ven biển như Bà Ròa - Vũng
Tàu thì số lượng sự cố tràn dầu còn lớn hơn
Tai nạn đâm va vào cầu cảng chở dầu Kasco
ngày 21/1/2005 làm tràn 300 m
3
dầu DO.
Sự va chạm giữa tàu Hồ Tây 1 và xà lan Hàm
Luông ngày 06/4/2005 làn tràn 5,40 m
3
dầu DO.
Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường
Tp. Hồ Chí Minh 2005
Hình 2.55. Lượng rác thải đô thò phát sinh
và thu gom của các tỉnh/thành phố LVHTS
Đồng Nai năm 2003
Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2004
Hình 2.56. Lượng rác thải công nghiệp nguy hại
phát sinh tại LVHTS Đồng Nai
Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2004
47
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Trên lưu vực hiện có 73 bãi rác với
các quy mô khác nhau đang hoạt động.
Trong đó, chỉ có bãi rác Gò Cát, Phước
Hiệp (Tp. Hồ Chí Minh) và khu liên
hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình
Dương (Bình Dương) về cơ bản đạt yêu
cầu bãi chôn lấp hợp vệ sinh, các bãi
rác còn lại đều là những bãi rác không
đúng quy cách.
sản xuất và sinh hoạt của nhân dân: cá nuôi,
heo, gà vòt bò chết, năng suất hoa màu giảm
sút Nước rác từ các hồ tích trữ (khoảng
200.000 m
3
với nồng độ COD trung bình từ
40.000 - 50.000 mg/l) chưa được xử lý đạt yêu
cầu và không có lối thoát, hầu như bò thấm hết
xuống các tầng nước ngầm.
Ngoài ra các sự cố vỡ bờ bao (xảy ra vào các
ngày 2/6/2000, 17/7/2000 và 23/7/2000) làm
cho một lượng lớn nước rác và rác trong bãi
rác tuôn tràn ra ngoài, gây ô nhiễm nghiêm
trọng môi trường xung quanh và làm thiệt hại
đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của nhân
dân quanh vùng.
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2004
Sông Thò Vải
Nguồn: Ảnh tư liệu
48
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Những tác động khác có liên quan
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có
lợi thế đòa hình biến đổi, độ dốc cao tạo
điều kiện cho phát triển từ rất sớm các
công trình thủy điện. Ngoài ra, việc xây
dựng các hồ chứa ở khu vực thượng
nguồn để điều tiết, phân phối lại dòng
đang bò axit hóa nặng nề, đồng thời còn cho
phép cải thiện khả năng tự làm sạch của sông.
Tuy nhiên, lượng nước đổ về hạ lưu sông Đồng
Nai khi đó sẽ giảm đi, xâm nhập mặn có thể
lấn sâu hơn và mức độ ô nhiễm sẽ tăng cao.
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2005
Bảng 2.12. Tương quan giữa lưu lượng dòng chảy, tải lượng BOD
5
và khả năng tự làm sạch
của các sông chính trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2005
Tải lượng BOD
5
(kg/ngµy)
Lưu lượng
dòng chảy
trung bình
n¨m (m
3
/s)
Tõ c¸c
khu ®« thÞ
®ỉ ra
Tõ c¸c
KCN ®ỉ
ra
Tỉng
céng
Tải lượng BOD
174.948
21,66
RÊt kÐm
S«ng Vµm Cá
169,7
17.153
280
17.443
1,19
Kh¸
S«ng §ång Nai
871,8
51.327
5.145
56.472
0,75
Tèt
49
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
2.4.3. Dự báo ô nhiễm
Dựa trên các số liệu quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của các đòa
phương, vùng kinh tế trong lưu vực,
3 kòch bản đã được xây dựng để tính
toán nguy cơ và mức độ ô nhiễm môi
trường trên lưu vực hệ thống sông
Đồng Nai: (1) Kòch bản 1: Lượng nước
thải trong lưu vực tăng theo số liệu quy
được xử lý 30% hoặc đạt tiêu chuẩn
nước thải trước khi đổ vào sông.
Hình 2.57 Nồng độ BOD
5
năm 2005 và dự báo cho
năm 2010 với các kòch bản khác nhau
Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn
và Môi trường, 2006
Hình 2.58. Tổng Ni-tơ năm 2005 và dự báo cho
năm 2010 với các kòch bản khác nhau
Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn
và Môi trường, 2006
Hình 2.59. Tổng Phốt-pho năm 2005 và dự báo
cho năm 2010 với các kòch bản khác nhau
Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn
và Môi trường, 2006
50
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
3.1. ẢNH HƯỞNG TỚI SỨC KHOẺ
CON NGƯỜI
Các con sông là nguồn cung cấp nước
sinh hoạt chính cho đô thò và nông thôn.
Đặc biệt người dân ở vùng nông thôn và
những người có thu nhập thấp thường
sử dụng trực tiếp nước sông bò các chất
gây ô nhiễm nước có nguồn gốc trong tự
nhiên (một số vi sinh vật, kim loại
nặng ) hoặc từ quá trình sản xuất và
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 3: CÁC THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM NƯỚC TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG
Chương III.
CÁC THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM NƯỚC
TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG
Khung 3.1. Tác động tích luỹ của kim loại
nặng và hoá chất bảo vệ thực vật
Khi môi trường nước có hàm lượng kim loại
nặng cũng như các hoá chất bảo vệ thực vật
vượt mức quy đònh, những chất này sẽ được
tích lũy trong các loài động thực vật thuỷ sinh
và cây trồng. Thực phẩm này khi chuyển hoá
trong cơ thể con người, các chất nguy hại sẽ
được tích tụ, đến khi vượt ngưỡng cho phép
sẽ làm rối loạn chức năng nhiều cơ quan
trong cơ thể, có thể dẫn một số bệnh nguy
hiểm như gây đột biến gen, ung thư, thiếu
máu, các bệnh tim mạch (cao huyết áp, rối
loạn tuần hoàn máu, viêm tắc mạch ngoại vi,
bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim và
não), các loại bệnh ngoài da (biến đổi sắc tố,
sạm da, sừng hoá, ung thư da ), tiểu đường,
bệnh gan và các vấn đề liên quan tới hệ tiêu
hoá, các rối loạn ở hệ thần kinh hoặc dẫn
đến tử vong.
Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2005
Hình 3.1. Tỷ lệ người dân mắc bệnh tiêu chảy
tại các tỉnh thuộc LVS Cầu
(% mắc bệnh trên tổng dân số)
Nguồn: Bộ Y tế, 2005
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 3: CÁC THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM NƯỚC TẠI 3 LƯU VỰC SÔNG
Hình 3.2. Tỷ lệ người dân mắc bệnh tiêu hóa
tại một số tỉnh trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy,
các năm 2001 - 2005
(% mắc bệnh trên tổng dân số)
Nguồn: Bộ Y tế, 2005
Hình 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh lỵ và bệnh tiêu chảy
của một số huyện/thò trong tỉnh Hà Tây năm 2005
(% mắc bệnh trên tổng dân số)
Nguồn: Bộ Y tế, 2005
Hình 3.5. Tỷ lệ mắc bệnh lỵ và bệnh tiêu chảy
của một số huyện/thò tỉnh Bình Dương năm 2005
(% mắc bệnh trên tổng số dân của huyện/thò)
Nguồn: Bộ Y tế, 2005
Hình 3.3. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy tại một số tỉnh
trong LVHTS Đồng Nai
(% mắc bệnh trên tổng dân số)
Nguồn: Bộ Y tế, 2005
Trong số những người mắc bệnh liên
quan đến nguồn nước thì trẻ em chiếm tỷ
lệ khá cao. Đây là đối tượng nhạy cảm,
sức khoẻ dễ bò ảnh hưởng bởi các điều
kiện môi trường (Khung 3.2 và Hình 3.6).
Ngoài ra, trong 3 lưu vực sông hiện
đang tiềm ẩn nguy cơ nhiễm bệnh cho
cộng đồng do ảnh hưởng ô nhiễm nước.
Theo chuỗi thức ăn, các chất độc hại sẽ
tích luỹ trong thực phẩm (rau, cá ) rồi
chuyển hoá và tích tụ lâu dài trong cơ
Nguồn: Viện Đòa lý, 2005
3.2. ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN NƯỚC CẤP
Mặc dù trong những thập niên gần
đây chính phủ đã có chính sách đầu tư
cung cấp nước sạch nhưng vẫn chưa đáp
ứng được đầy đủ nhu cầu của người dân
nghèo. Người dân sinh sống trong khu
vực nông thôn và vùng núi cao không
được tiếp cận với hệ thống nước sạch
hoặc thiếu nước cho sinh hoạt. Giữa các
nhóm có thu nhập khác nhau, mức độ
được tiếp cận với nước sạch cũng khác
nhau. Ví dụ, tại đồng bằng sông Hồng,
chỉ có hơn 50% số dân nghèo được tiếp
cận với nguồn nước sạch, trong khi đó
tỷ lệ này là hơn 90% ở nhóm người dân
có thu nhập cao. Tỷ lệ này ở các vùng
khác còn thấp hơn nhiều. (Hiện trạng
cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường
và sức khỏe người dân ở nông thôn Việt
Nam - Báo cáo đánh giá của Chính phủ
và các nhà tài trợ, 2005).
Tại khu vực đô thò, mặc dù tỷ lệ
người dân được sử dụng nước sạch là
cao hơn nhưng với những người dân
nghèo, khả năng tiếp cận với nước sạch
vẫn rất hạn chế.
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ người
dân được sử dụng nước sạch trung bình
toàn quốc năm 2005 là 66%, trong khi đó
nguồn nước duy nhất từ 2 nhà máy số 1 và 2,
khai thác nước từ sông Nhuệ và Đáy. Tuy
nhiên, vào mùa cạn, hai sông này bò ô nhiễm
nghiêm trọng, các nhà máy đã phải ngưng
hoạt động.
Theo Công ty Cấp nước Hà Nam, do nước
sông Đáy bò ô nhiễm, thò xã Phủ Lý thiếu nước
sinh hoạt bắt đầu từ năm 2001 và tình trạng
này ngày càng trầm trọng. Gần đây nhất là
cuối tháng 10/2005 và từ 9/11 đến
14/12/2005, nước sông Nhuệ, Đáy đen kòt,
bốc mùi hôi thối. Nhà máy nước số 1 nằm tại
xã Phù Vân (cách ngã ba sông Nhuệ - Đáy
khoảng 400 m về phía thượng lưu) với công
suất 10.000 m
3
một ngày đêm đã phải đóng
cửa. Nhà máy nước số 2 nằm tại xã Thanh
Sơn (cách nhà máy số 1 khoảng 4 km) với
công suất 15.000 m
3
/ngày đêm cũng phải
ngừng hoạt động.
Nguồn: Vnexpress, ngày 23/3/2006
Hình 3.9. Tình hình cấp nước ở nông thôn
tại các tỉnh lưu vực sông Nhuệ - Đáy
Nguồn: Văn phòng Chương trình mục tiêu Quốc gia
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, 2004