35
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Chất thải rắn
Chất thải rắn là một trong các
nguồn gây ô nhiễm đối với chất
lượng nước mặt trong lưu vực. Cùng
với quá trình phát triển của các
ngành kinh tế, quá trình đô thò hoá
và sự gia tăng dân số, tổng lượng
chất thải rắn trong lưu vực cũng
không ngừng gia tăng (đặc biệt đối
với khu vực đô thò). Trong tổng
lượng chất thải rắn phát sinh, lượng
rác thải sinh hoạt chiếm tới 80%, phần
còn lại là từ các cơ sở sản xuất công
nghiệp.
Trong lượng chất thải rắn phát
sinh, chất thải công nghiệp và y tế
nguy hại mặc dù có khối lượng ít,
nhưng nếu như không được xử lý
theo đúng quy trình sẽ là nguy cơ gây
nguy hại cho sức khoẻ con người và
môi trường.
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn nhìn
chung đạt ở mức thấp. Ở vùng nông
thôn, tỷ lệ thu gom đạt rất thấp
(trung bình là 20%). Ở các thành phố
lớn thì tỷ lệ thu gom chất thải rắn
sinh hoạt là cao hơn. Chất thải rắn
năm 2010, lượng nước thải của Tp. Hà
Nội tăng 1,2 lần; Hà Tây tăng 1,9 lần
so với năm 2005.
Để tính toán nguy cơ và mức độ
ô nhiễm môi trường trên các lưu vực
sông, 3 kòch bản đã được lựa chọn:
(1) Kòch bản 1: Lượng nước thải trong
lưu vực tăng theo số liệu quy hoạch,
nhưng không được xử lý; (2) Kòch bản
2: Lượng nước thải trong lưu vực
tăng theo số liệu quy hoạch, nhưng
được xử lý 30%; và Kòch bản 3:
Lượng nước thải vào sông đều đã
được xử lý đạt tiêu chuẩn nước thải.
Kết quả tính toán được thể hiện
trên các hình 2.39, 2.40 và 2.41.
Trong trường hợp không có các
biện pháp hợp lý để bảo vệ môi
trường, như xử lý nước thải trước khi
đổ vào sông, thì đến năm 2010, chất
lượng nước sông Nhuệ - Đáy sẽ càng
xấu đi: nồng độ BOD tăng khoảng 1,2-
1,5 lần; tổng Ni - tơ tăng từ 1,2 - 1,85
lần; tổng Phốt - pho tăng đến hơn 2
lần; tổng Coliform tăng từ 1,3 đến
hơn 2 lần.
36
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942-1995
đối với nguồn loại A. Trong đoạn sông
này, chất rắn lơ lửng thường vượt tiêu
chuẩn từ 3 - 9 lần, giá trò COD vượt từ
1,8 - 2,8 lần, giá trò DO thấp dưới giới
hạn cho phép.
Trên đoạn sông từ khu vực trạm bơm
cấp nước Hóa An đến trạm Cát Lái,
qua đòa bàn Tp. HCM cho thấy chất
lượng nước tương đối ổn đònh từ năm
2001 đến nay; hàm lượng BOD
5
dao
động trong khoảng 2 mg/l, đạt tiêu
chuẩn chất lượng nước mặt dùng làm
nguồn cấp nước sinh hoạt. Hàm lượng
dầu dao động từ 0,025 đến 0,029 mg/l,
trong khi TCVN quy đònh không cho
phép dầu hiện diện trong nguồn nước
dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Ô
nhiễm vi sinh ở mức cao tại các khu vực
Hóa An và Cát Lái, nhưng đã có chiều
hướng giảm trong vài năm gần đây
(Hình 2.42).
Chất lượng nước sông của khu vực hạ lưu:
Giá trò DO giảm xuống rất thấp, SS vượt
từ 2- 2,5 lần TCVN 5942 - 1995 (loại B).
Vùng này cũng đã bò nhiễm mặn
nghiêm trọng, nước sông ở khu vực này
không thể sử dụng cho mục đích cấp
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Hình 2.42. Diễn biến Coliform tại Hóa An
trên sông Đồng Nai
Nguồn: Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh, 2005
Qua kết quả phân tích chất lượng nước
từ năm 2000 đến nay, tại các trạm quan
trắc Phú Cường, Bình Phước và Phú An,
sông Sài Gòn khu vực Tp. Hồ Chí Minh
cho thấy nước sông tại các khu vực này
đã bò ô nhiễm hữu cơ, đặc biệt là ô nhiễm
dầu và vi sinh. Giá trò DO dao động từ
0,7 - 2,7mg/l, không đạt tiêu chuẩn
chất lượng nước mặt dùng làm nguồn
cấp nước sinh hoạt, theo TCVN 5942-
1995 (loại A). Các giá trò BOD
5
dao
động từ 2 - 6 mg/l, cũng không đạt
tiêu chuẩn chất lượng nước mặt dùng
làm nguồn cấp nước sinh hoạt (Hình
2.43). Hàm lượng dầu đo được dao
động khoảng 0,03mg/l, trong khi tiêu
chuẩn quy đònh không cho phép dầu
hiện diện trong nguồn nước dùng làm
nguồn cấp nước sinh hoạt (Hình 2.44).
Khu vực này cũng bò ô nhiễm vi
sinh (Coliform) ở mức cao, vượt từ 3
đến 168 lần tiêu chuẩn cho phép và
có xu hướng tăng dần từ thượng
Nguồn: Sở TN&MT Tp. Hồ Chí Minh, 2006
Hình 2.45. Diễn biến Coliform tại một số trạm
trên sông Sài Gòn
Nguồn: Sở TN&MT Tp. Hồ Chí Minh, 2006
39
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Chất lượng nước của các sông khác
trong lưu vực cũng đang bò suy giảm
Chất lượng nước của một số sông nhánh
khác như sông Bé, Đa Nhim - Đa Dung phần
hạ lưu cũng đang diễn biến theo chiều hướng
xấu đi. Hàm lượng sắt trên sông Bé rất cao,
vượt TCVN 5942-1995 (loại A) từ 10 - 12,5
lần, điều này khiến cho việc sử dụng
nước sông để cấp nước sinh hoạt gặp rất
nhiều khó khăn. Ngoài ra, vào mùa mưa,
nước sông thường rất đục.
Sông Vàm Cỏ đã bò ô nhiễm hữu cơ. Giá trò
đo được của các thông số đặc trưng cho ô
nhiễm hữu cơ đều tương đối cao, vượt
TCVN 5942-1995 (loại A). Khu vực cầu
Kênh Xáng (Tây Ninh, thượng lưu sông
Vàm Cỏ Đông) là khu vực chòu ô nhiễm
nặng nhất, trong những tháng cuối năm,
giá trò DO thấp hơn TCVN nhiều lần.
Trong khi đó, N-NH
4
+
trên sông Vàm Cỏ Tây
Nguồn: Sở TN&MT Long An, 2006
Hình 2.47. Diễn biến DO dọc theo sông
Thò Vải (đợt đo giữa tháng 5/2006)
Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường, 2006
Hình 2.48. Diễn biến NH
4
+
tại sông Thò Vải
(sau cống xả nhà máy bột ngọt Vedan)
Nguồn: Sở TN&MT Bà Ròa - Vũng Tàu, 2005
40
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Hệ thống ao hồ, kênh rạch trong
khu vực đô thò trên LVHTS Đồng Nai
đã bò ô nhiễm nghiêm trọng
Ô nhiễm nước mặt tại các kênh rạch nội
thành thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang
trở thành một trong những vấn đề nổi cộm của
lưu vực sông. Khu vực nội thành của thành
phố hiện có 5 hệ thống kênh rạch tiêu
thoát nước chính. Hầu hết các kênh rạch
này đã bò ô nhiễm hữu cơ và ô nhiễm vi
sinh ở mức cao. Vào mùa khô, ô nhiễm trở
nên đặc biệt nghiêm trọng do khả năng tự
làm sạch của thủy vực kém hơn mùa mưa.
Đặc biệt, giá trò Coliform tại hầu hết các
kênh rạch đều ở mức rất cao, vượt TCVN
Khung 2.10. Tình hình ô nhiễm một số suối
tại các khu đô thò trên LVHTS Đồng Nai
Suối Săn Máu (Trung tâm Tp. Biên Hòa,
Đồng An) bò ô nhiễm do nước thải hỗn hợp
của thành phố Biên Hòa. Nước suối cũng bò ô
nhiễm hữu cơ và ô nhiễm vi sinh nghiêm trọng
(giá trò DO chỉ đạt 1,6 mg/l, Coliform vượt 240
lần TCVN 5942 - 1995 loại B.
Suối Ba Bò (Thủ Đức, Tp. HCM): bò ô nhiễm
hữu cơ do tiếp nhận nước thải từ KCN Đồng
Nai, Sóng Thần (Bình Dương) và từ khu dân
cư dọc 2 bên suối. Giá trò BOD
5
vượt 3,5 lần,
DO thấp dưới tiêu chuẩn 5 lần TCVN 5945-
1995 (loại B).
Nguồn: Báo cáo Tổng quan và đánh giá nhận xét
về tình hình môi trường và thực trạng quản lý,
bảo vệ nguồn nước ở LVHTS Đồng Nai, 2004
2.4.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm
Trên lưu vực hệ thống sông Đồng
Nai có nhiều nguồn nước thải gây ô
nhiễm nước sông. Phần này trình bày
theo thứ tự từ các nguồn nước thải gây
ô nhiễm nhiều nhất cho đến các nguồn
gây ảnh hưởng ít hơn, theo thứ tự:
nước thải công nghiệp, khai thác
khoáng sản, làng nghề, sinh hoạt, y tế,
nông nghiệp,
Hiện nay, LVHTS Đồng Nai đang chòu
nghiệp phân tán trên lưu vực.
Hoạt động của các KCN và KCX
Tính đến giữa năm 2006, trên lưu vực
có 56 KCN và KCX đang hoạt động (chủ
yếu tập trung ở các tỉnh thuộc vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam), trong số đó chỉ
có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải
tập trung, còn lại đều xả trực tiếp vào
nguồn nước, gây tác động lớn đến chất
lượng nước của các nguồn tiếp nhận.
41
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Khung 2.11. Xử lý nước thải của các KCN
và KCX tại Tp. Hồ Chí Minh
Theo thống kê, các KCN, KCX của thành phố
Hồ Chí Minh có tổng lượng nước thải khoảng
30.000 m
3
/ngày. Trong đó chỉ khoảng gần 6.000
m
3
/ngày được xử lý (chiếm gần 20% tổng lượng
nước thải). Tuy nhiên, tỷ lệ nước thải được xử lý
đạt tiêu chuẩn TCVN còn ít hơn nhiều.
Nguồn: Sở TN&MT Tp. Hồ Chí Minh, 2006
Hình 2.51. Số doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp tại các tỉnh/thành phố
thuộc LVHTS Đồng Nai
sản phát triển tương đối mạnh trong lưu
vực. Nhóm khoáng sản kim loại tập
trung chủ yếu ở khu vực thượng lưu
(Lâm Đồng, Đồng Nai), nhóm khoáng
sản phi kim (cát, đá, đất sét ) tập trung
ở vùng hạ lưu (Bình Dương, Tp. Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Long An). Các hoạt
động khai thác đang là một nguyên
nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng
nước mặt (kể cả ô nhiễm kim loại nặng).
Khai thác quặng Bôxit (Lâm Đồng -
thượng nguồn sông Đồng Nai) và khai
thác vàng (khoảng 50 điểm quặng và mỏ
vàng tập trung ở phía bắc tỉnh Đồng
Nai, Lâm Đồng và một phần phía nam
tỉnh Đắk Nông): chủ yếu là hoạt động
khai thác lộ thiên, phương tiện khai thác
rất thủ công. Hoạt động khai thác sử
dụng đến hàng trăm nghìn m
3
nước; việc
đào bới, rửa xói từ hàng chục đến trăm
nghìn tấn đất, thải ra suối đã làm ô
nhiễm nguồn nước sông Đồng Nai.
Hình 2.52. Tỷ lệ lưu lượng nước thải từ
các khu công nghiệp tập trung của một số
tỉnh/thành phố trong LVHTS Đồng Nai
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2005
T¶i lưỵng c¸c chÊt « nhiƠm (kg/ngµy)
§Þa phương
608
6
67.680
8316,9
6264,1
46828,0
920,0
261,4
Bình Dương
12
613
7
10.620
409,7
223,7
651,2
132,3
16,5
BR-VT
06
89
1
6.100
298,2
366,4
1056,8
42,4
8,2
Long An
05
Bảng 2.8. Tổng hợp nguồn thải từ các khu công nghiệp tại một số tỉnh/thành phố thuộc
lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2005
(
*
)
số liệu ước tính
43
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Khai thác cát: cát được khai thác là
cát bồi tích trên các sông vùng hạ lưu
của lưu vực (chủ yếu là sông Đồng Nai,
Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Nhà Bè và Soài
Rạp). Các hoạt động khai thác ở khu vực
hạ lưu đã có những ảnh hưởng tới môi
trường nước, đặc biệt việc khai thác cát
trên sông Đồng Nai đã dẫn đến hậu quả
làm rạn nứt, sụt lở đất hai bên bờ sông.
Nước thải làng nghề
Theo số liệu năm 2002, khu vực phía
Nam Trung Bộ và Nam Bộ có tổng số
491 làng nghề với 291 xí nghiệp, hợp tác
xã sản xuất. Các dạng làng nghề bao
gồm: chế biến thực phẩm, chiếu cói, sơn
mài, mây tre, gốm sứ, thêu, dệt, chế biến
gỗ, chế biến kim loại và một số loại hình
làng nghề khác. Trong đó, làng nghề chủ
vi sinh vật.
T¶i lưỵng c¸c chÊt « nhiƠm (kg/ngµy)
Lµng nghỊ
BOD
5
COD
SS
N tỉng
P tỉng
CN
NH
4
+
Lµng nghỊ chÕ biÕn tinh bét s¾n
Trµ Cỉ
217,7
544,4
281,9
42,7
7,2
1,0
-
Lµng nghỊ t¬ t»m B¶o Léc
144,6
379,2
310,2
984,0
132,0
-
Lµng nghỊ s¬n mµi, thđ c«ng
mü nghƯ Tư¬ng B×nh HiƯp
X· Tư¬ng B×nh HiƯp, thÞ x· Thđ
DÇu Mét, tØnh B×nh D ư¬ng
200
-
406.698
Lµng nghỊ t¬ t»m B¶o Léc
TX B¶o Léc, tØnh L©m §ång
5.000
180.000
4.701.200
Bảng 2.9. Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải tại một số làng nghề trong lưu vực
Nguồn: Báo cáo của Trung tâm Công nghệ Môi trường ENTEC, 2002
Bảng 2.10. Một số làng nghề điển hình trên lưu vực
Nguồn: Báo cáo của Trung tâm Công nghệ Môi trường ENTEC, 2002
44
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 2: BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG
Trong LVS, thành phố Hồ Chí Minh
đóng góp lượng nước thải sinh hoạt lớn
nhất (77,5%). Hạ lưu sông Sài Gòn,
đoạn chảy qua trung tâm thành phố Hồ
Chí Minh, nước sông đã bò ô nhiễm
nghiêm trọng do đây là khu vực tiếp
nhận lượng nước thải sinh hoạt lớn nhất
của thành phố.
Đồng Nai là đòa phương đóng góp
tỉng
DÇu mì
L©m §ång
22.824
14.658
27.138
951
517
2.603
B×nh Thn
1.000
594
1.074
43
24
90
§¾k N«ng
2.972
1.765
3.193
128
72
269
B×nh Phưíc
7.448
4.494
8.170
317
177
255.787
175.126
329.857
10.380
5.467
34.461
Toµn lưu vùc
375.220
249.574
466.517
15.417
8.238
46.972
Bảng 2.11. Tải lượng các chất ô nhiễm do nước thải đô thò của một số tỉnh/thành phố
trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai năm 2004
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2005
Khung 2.12. Nước thải y tế tại Tp. Hồ Chí Minh
Theo thống kê, toàn thành phố có 109 bệnh
viện và trung tâm y tế với tổng lượng nước thải
khoảng 17.000 m
3
/ngày. Trong đó có khoảng
13.000 m
3
/ngày đã được xử lý (chiếm 78%
tổng lượng nước thải). Tuy nhiên, tỷ lệ nước
thải bệnh viện được xử lý đạt tiêu chuẩn
TCVN 6772 - 2000 mới chỉ chiếm 26% so với
tổng lượng thải.