Đặc điểm tự nhiên
Sông Cầu là dòng lớn của hệ thống
sông Thái Bình, bắt nguồn từ vùng núi
Phieng (1527m) sườn đông nam của
dãy Pia-Bi-óc/Bắc Kạn, Cao Bằng. Dòng
chính sông Cầu, dài 288 km, chảy qua
các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc
Giang, Bắc Ninh rồi đổ vào sông Thái
Bình tại Phả Lại. Lưu vực sông Cầu bao
gồm gần như toàn bộ các tỉnh Bắc Kạn,
Thái Nguyên và một phần các tỉnh Bắc
Ninh, Bắc Giang, Vónh Phúc, 2 huyện
của Hà Nội (huyện Đông Anh, Sóc Sơn)
và tỉnh có liên quan là Hải Dương.
Nhìn chung đòa hình LVS Cầu thấp
dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và
có thể chia ra làm 3 vùng: miền núi,
trung du, đồng bằng.
Mạng lưới sông suối trong LVS Cầu
tương đối phát triển. Các nhánh sông
chính phân bố tương đối đều dọc theo
dòng chính, nhưng các sông nhánh
tương đối lớn đều nằm ở phía hữu ngạn
lưu vực, như các sông: Chợ Chu, Đu,
Công, Cà Lồ Trên toàn lưu vực có 68
sông suối có độ dài từ 10 km trở lên.
Tổng lượng nước trên LVS Cầu
khoảng 4,5 tỷ m
3
/năm, trong đó đóng
góp của sông Công, sông Cà Lồ là
về mùa khô.
Trong lưu vực có VQG Tam Đảo, khu
BTTN Kim Hỷ, và các khu văn hóa - lòch
sử môi trường với giá trò sinh thái cao. Hệ
động thực vật trong lưu vực rất phong
phú, đa dạng bao gồm nhiều loài cây gỗ
quý và các loài động vật hoang dã.
Rừng bò phá hủy nghiêm trọng cùng
những hoạt động phát triển kinh tế, xã
hội khác như công nghiệp, khai thác mỏ,
làng nghề thủ công và hoạt động nông
nghiệp gây áp lực lớn lên môi trường
trong lưu vực.
Đặc điểm kinh tế, xã hội
Lưu vực chiếm khoảng 47% diện tích
của 6 tỉnh. Tổng dân số 6 tỉnh thuộc lưu
vực năm 2005 khoảng 6,9 triệu người.
Trong đó, dân số nông thôn khoảng 5,9
triệu người; dân số thành thò khoảng 1
triệu người. Mật độ dân số trung bình
khoảng 427 người/km
2
, cao hơn gần 2
lần so với mật độ trung bình cả nước.
Vùng núi thấp và trung du là khu vực
có mật độ dân cư thấp nhất, đất đai
chiếm khoảng 63% nhưng dân số chỉ
chiếm khoảng 15% của toàn lưu vực.
Mật độ dân số tăng ở vùng trung tâm
và khu vực đồng bằng.
Đại Bái, làng luyện cán thép Đa Hội
Nước thải từ các khu công nghiệp, khu
khai thác mỏ, làng nghề và khu đô thò
phần lớn không được xử lý, xả trực tiếp
ra sông.
Hoạt động khai thác cát, sỏi dọc bờ
sông Cầu với khối lượng ngày càng
tăng, gây đục nước, làm sạt lở bờ, biến
đổi dòng chảy
Trong lónh vực nông nghiệp, hoá chất
và thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng
ngày càng nhiều, đặc biệt ở Thái
Nguyên, Bắc Ninh Hàm lượng NO
2
và
NO
3
trong đất đặc biệt cao ở vùng
chuyên canh lúa, trồng rau, hoa màu ở
Bắc Ninh, huyện Mê Linh (Vónh Phúc)
và một số vùng hạ lưu sông Cầu.
7
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
Hình 1.3. GDP một số tỉnh thuộc LVS Cầu
Nguồn: Niên giám thống kê, 2005
Sông Cầàu Nguồn: Ảnh tư liệu
1.2.2. Lưu vực sông Nhuệ - Đáy
Đặc điểm tự nhiên
(chiếm khoảng hơn 2% diện tích cả nước);
Tổng lượng nước hàng năm: khoảng 28,8 tỷ m
3
.
Các sông chính trong lưu vực: Nhuệ, Thanh
Hà, Tích, Hoàng Long, Châu Giang, Đào, Ninh
Cơ. Sông Tô Lòch là nhánh chính của sông
Nhuệ nhận nước từ sông Lừ, Kim Ngưu, Sét.
Mật độ lưới sông: biến đổi trong phạm vi 0,7
- 1,2 km/km
2
.
Các tỉnh có liên quan lưu vực sông Nhuệ -
Đáy: Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hoà Bình,
Ninh Bình, Nam Đònh.
Dân số: 10.186.000 người (năm 2005).
Mật độ dân số: 874 người/km
2
(cao hơn 3,5
lần mật độ trung bình cả nước).
Số cơ sở sản xuất công nghiệp: trên 4.000
cơ sở.
Số làng nghề: 458 làng nghề.
Số cơ sở khám chữa bệnh: 1.400 cơ sở y tế;
khoảng 26.300 giường bệnh.
Sông Đáy dài 237 km, chảy qua Hà
Tây, Hà Nam, Nam Đònh, Ninh Bình và
đổ ra biển qua cửa Đáy. Sông Đáy
nguyên là một phân lưu tự nhiên của
sông Hồng. Từ năm 1937, sau khi xây
tỷ m
3
(chiếm 89,5%); sông Tích và sông
Đáy ở Ba Thá đóng góp khoảng 1,35 tỷ
m
3
(chiếm 4,7%)…
Trên lưu vực, mùa lũ từ tháng 6 đến
tháng 10 hàng năm đóng góp từ 70 đến
80% lượng dòng chảy cả năm. Vào mùa
kiệt, từ tháng 11 tới tháng 5, nước của 2
dòng chính trong lưu vực được cung cấp
chủ yếu từ sông Hồng: sông Nhuệ lấy
nước sông Hồng qua cống Liên Mạc;
sông Đào lấy nước từ sông Hồng và đổ
vào sông Đáy.
Chế độ dòng chảy của sông Đáy
không những chòu ảnh hưởng của các
yếu tố khí hậu (trước hết là mưa) mà
còn phụ thuộc vào chế độ nước sông
Hồng và chế độ triều vònh Bắc Bộ. Dòng
chảy của sông Nhuệ phụ thuộc hoàn
toàn vào chế độ đóng mở của các cống
điều tiết: cống Liên Mạc (lấy nước từ
sông Hồng), cống Thanh Liệt (lấy nước
sông Tô Lòch) và các cống trên trục
chính như: Hà Đông, Đồng Quan, Nhật
Tựu, Lương Cổ - Điệp Sơn.
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy chòu ảnh
hưởng của chế độ nhật triều đều vònh
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
nhiều đoạn đê còn thấp so với cao trình
thiết kế từ 0,2 - 1,2m nên hàng năm
thường xuyên bò lũ lụt đe dọa. Khu vực
ô trũng, đầm lầy về mùa mưa thường
xuyên bò úng ngập, đặc biệt những khu
vực nằm trong vùng phân lũ của sông
Đáy, mỗi khi có lũ cao trên báo động III
hoặc phân lũ thì bò ngập nước ở độ sâu
từ 1 - 4 m. Bởi vậy đời sống và sản xuất
của nhân dân nhiều vùng về mùa mưa
gặp rất nhiều khó khăn, một số cơ sở hạ
tầng bò phá hoại, đặc biệt môi trường
nói chung và môi trường nước nói riêng
bò ô nhiễm.
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy có nhiều
phụ lưu lớn chảy qua thành phố, thò xã,
thò trấn, thò tứ, tụ điểm dân cư, khu công
nghiệp, khu chế xuất, dòch vụ, làng
nghề Đây là nguồn cung cấp nước
nước ngọt quan trọng cho sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp và dân sinh.
Đặc điểm kinh tế, xã hội
Tổng dân số của 6 tỉnh thuộc LVS
Nhuệ-Đáy là 10,2 triệu người (ước tính
năm 2005), mật độ trung bình đạt trên
874 người/km
2
tiểu thủ công nghiệp trong các làng
nghề, các xí nghiệp kinh tế quốc phòng
cùng với các hoạt động khai thác, chế
biến khoáng sản, canh tác trên hành lang
thoát lũ đã làm cho môi trường nói
chung và môi trường nước nói riêng của
lưu vực sông Nhuệ - Đáy biến đổi nhiều.
Cơ cấu kinh tế của các đòa phương
trên lưu vực dựa trên công nghiệp, nông
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Trong
đó, nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp đóng góp một tỉ trọng đáng kể
(đóng góp đến 21% của tổng GDP trong
lưu vực), nhưng có đến 60 - 70% lực
lượng dân cư làm việc trong lónh vực
nông nghiệp. Trong vài năm trở lại đây
kinh tế của các tỉnh trong lưu vực tăng
trưởng hết sức mạnh mẽ.
Toàn lưu vực có 458 làng nghề với các
lónh vực dệt lụa, nhuộm, chế biến thực
phẩm, sắt thép, thủ công mỹ nghệ, chế biến
gỗ, Trong đó, Hà Tây có 219 làng nghề.
10
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
Hình 1.5. Mật độ và tỷ lệ dân số các tỉnh thuộc
LVS Nhuệ - Đáy
Nguồn: Niên giám thống kê, 2005
1.2.3. Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai Đặc điểm tự nhiên
Bé, Sài Gòn, Vàm Cỏ, Thò Vải.
Mật độ lưới sông: biến đổi trong phạm vi 0,3
- 0,8 km/km
2
.
Các tỉnh có liên quan lưu vực hệ thống
sông Đồng Nai: Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình
Phước, Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận,
Tây Ninh, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh, Bà
Ròa - Vũng Tàu, Long An.
Dân số: 16.431.000 người (năm 2005).
Mật độ dân số: 269 người/km
2
(đạt 2.811
người/km
2
tại Tp. Hồ Chí Minh; cao hơn 11 lần
mật độ trung bình cả nước).
Số cơ sở sản xuất công nghiệp: Hơn 9.000
cơ sở.
Số làng nghề: 491 làng nghề.
Số cơ sở khám chữa bệnh: 1.633 cơ sở y tế;
khoảng 35.100 giường bệnh.
11
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
Hình 1.6. Bản đồ các tỉnh có liên quan LVHTS Đồng Nai
Nguồn: Cục Bảo vệ môi trường
Sông Đồng Nai có dòng chính dài 470
3
phát sinh
trong lãnh thổ (chiếm 89 % tổng lïng
nước trong lưu vực); lượng dòng chảy
năm của sông Bé khoảng 8 tỷ m
3
, sông
Sài Gòn khoảng 3 tỷ m
3
, sông Vàm Cỏ và
sông La Ngà, mỗi sông khoảng 5 tỷ m
3
.
Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có
khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân hóa
theo 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa
khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến
tháng 10 chiếm khoảng 85% tổng lượng
mưa cả năm.
Lưu vực có rất nhiều đập và công
trình điều tiết với 2 hồ chứa lớn là hồ
Trò An (phát điện); hồ Dầu Tiếng (hồ
thủy lợi). Các công trình thủy điện khác
là Đơn Dương, Đại Ninh trên sông Đồng
Nai; Thác Mơ, Srok Fuming, Cần Đơn
trên sông Bé; Hàm Thuận và Đa Mi trên
sông La Ngà.
Sau khi có công trình Trò An, Dầu
Tiếng, lưu lượng trung bình tháng trong
mùa kiệt (các tháng 2, 3, 4) tăng lên 4 tới
ít, làm giảm khả năng điều hoà nguồn
nước trong mùa khô cho sông Đồng Nai.
Trong lưu vực hiện có nhiều khu bảo
tồn thiên nhiên có giá trò sinh thái và
kinh tế cao, lớn nhất là khu bảo tồn sinh
quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, diện
tích 73.360 ha (đây là khu bảo tồn sinh
quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam
được UNESCO công nhận), khu bảo tồn
sinh quyển - Vườn Quốc gia Cát Tiên
diện tích 73.878 ha. Ngoài ra còn rất
nhiều khu rừng đầu nguồn không
những có giá trò về mặt cảnh quan, sinh
12
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
thái mà còn có vai trò rất quan trọng
trong việc điều tiết, bảo vệ nguồn nước
ở lưu vực.
Vùng châu thổ cửa hệ thống sông
Đồng Nai được biết đến là nơi sinh sản
của các loài thủy sản, trong đó sản
phẩm từ thủy sản đóng góp một phần
đáng kể vào kinh tế đòa phương. Ô
nhiễm nước vùng cửa sông sẽ đe dọa
nghiêm trọng tới cuộc sống ngư dân
vùng biển.
Đặc điểm kinh tế, xã hội
Tổng dân số của 11 tỉnh thuộc lưu
triển kinh tế của cả nước với nhiều
ngành nghề đa dạng và phong phú, bao
gồm hầu hết các lónh vực sản xuất hiện
nay. Các tỉnh Tây Ninh, Long An, Bình
Dương, Đồng Nai, Bà Ròa - Vũng Tàu,
Tp. Hồ Chí Minh còn nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, đóng góp
đến 40% mức thu cho ngân sách nhà
nước. Đây là một trong những vùng
kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền
vững, là vùng động lực tăng trưởng kinh
tế của cả nước.
13
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
Hình 1.7. Dân số các tỉnh thuộc LVHTS Đồng Nai
Nguồn: Niên giám thống kê, 2005
Kênh An Hạ, Thầy Cai, Tp. Hồ Chí Minh
Nguồn: Ảnh tư liệu
Hiện nay trong lưu vực có gần 60 khu
công nghiệp và khu chế xuất đang hoạt
động, tập trung chủ yếu ở 6 tỉnh, thành
phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam và nằm ở phía hạ lưu của lưu vực.
Các đòa phương khác đã hình thành một
số khu công nghiệp nhưng tỷ lệ lấp đầy
diện tích còn rất thấp. Tỷ trọng ngành
công nghiệp trên lưu vực chiếm khoảng
58% GDP ngành công nghiệp của cả nước.
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM
Hình 1.8. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp các tỉnh thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
Nguồn: Niên giám thống kê, 2005
Sông Sài Gòn Nguồn: Ảnh tư liệu
15
BÁO CÁO MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA 2006
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 3 LƯU VỰC SÔNG: CẦU, NHUỆ - ĐÁY, HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI
Chương 1: LƯU VỰC SÔNG Ở VIỆT NAM