Tổ chức trò chơi trong phân môn tập đọc và kể chuyện ở lớp 3 - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

SGK

: Sách giáo khoa

SGV

: Sách giáo viên

HSTH

: Học sinh tiểu học

HTL

: Học thuộc lòng

MỤC LỤC
SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN .....................................................................
4
1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học ....................................
4
1.2 Đặc điểm môn Tiếng Việt ở Tiểu học
............................................5
1.3 Mục tiêu môn Tiếng Việt ở Tiểu học ............................................
6
1.4 Tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt............................
6
Chương 2 TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

KỂ CHUYỆN Ở LỚP 3 ..........................................................
17
2.1 Phân môn Tập đọc, Kể chuyện theo định hướng của Bộ giáo
dục.....17
2.1.1 Nội dung phân môn Tập đọc, Kể chuyện ở lớp
3.........................16

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

2


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.1.2 Mục tiêu nội dung phân môn Tập đọc, Kể chuyện ở lớp
3..........17

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa
Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong khoa Văn trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm tòi và nghiên
cứu đề tài. Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Đỗ Huy
Quang – người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình để tôi từng bước tiến
hành và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Vấn đề “Tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc, Kể chuyện ở lớp
3” là một đề tài hay và hấp dẫn. Tuy nhiên, do khả năng có hạn nên khóa luận
của tôi không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đọc.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Lý Thị Mậu

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

4


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CAM ĐOAN

nào cũng có thể biểu hiện được trí tuệ, nguyện vọng và tính chất độc đáo của
trẻ, vì “trẻ em có những cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”.
Chúng ta biết rằng nội dung phân môn Tập đọc và Kể chuyện trong môn
Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng chiếm một khối
lượng kiến thức khá lớn, trừu tượng. Nó đòi hỏi người HS phải có sự tư duy,
tưởng tượng và vốn hiểu biết khá cao. Những bài tập đọc, kể chuyện thường
diễn ra một cách khô khan. Vậy làm thế nào để các em có được những giờ
học sôi nổi mà vẫn lĩnh hội được tri thức ? Trải qua nhiều năm nghiên cứu,
các nhà giáo dục đã tìm ra một phương pháp phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ mà vẫn đảm bảo cho trẻ đáp ứng được mục tiêu môn học. Đó chính
là phương pháp trò chơi trong học tập. Thông qua trò chơi để giúp HS lĩnh
hội, khám phá tri thức, từ đó hình thành nên những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết.
Trò chơi là một hình thức học tập tích cực và sáng tạo. Qua trò chơi, các em

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

6


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

vừa có thể được vui chơi, giải trí nhưng lại lĩnh hội được kiến thức trong giờ
học. Sự đan xen giữa “chơi mà học, học mà chơi” nó giúp cho HS giảm tải đi
những giờ học tẻ nhạt, căng thẳng, mệt mỏi và từ đó hình thành nên ở HS
lòng say mê, tinh thần tự khám phá tri thức. Đây là điều cần thiết phải hình
thành ở HS trong quá trình dạy học. Đúng như nhà tâm lý học người Nga
B.C.Grê - nhi - xkai đã cho rằng: “chúng ta không những phải tạo cho trẻ thì
giờ để chơi mà phải làm cho cuộc sống của trẻ được nuôi dưỡng bằng trò

chơi và chọn một số trò chơi có thể tổ chức trong phân môn Tập đọc,
Kể chuyện.
- Đưa ra một số giáo án áp dụng trò chơi.
6 Giả thuyết khoa học
Nếu hiểu biết đầy đủ về trò chơi trong tư cách một phương pháp dạy
học và thể nghiệm có hiệu quả thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
phân môn Tập đọc, Kể chuyện ở lớp 3.
7 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận.
Phương pháp trò chuyện.
Phương pháp quan sát
...
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo nội dung chính
của khóa luận gồm:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Vấn đề tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc, Kể chuyện
ở lớp 3.
Chương 3 Giáo án thực nghiệm.

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

8


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

NỘI DUNG


dụng phương pháp dạy học vào trong quá trình dạy các bài tập đọc, kể chuyện
để đạt được hiệu quả cao.
1. 2 Đặc điểm môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Nội dung chương trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học được xây dựng
theo quan điểm tích hợp gồm tích hợp dọc (đồng tâm) và tích hợp ngang
(đồng quy). Theo yêu cầu tích hợp dọc, chương trình toàn cấp học được bố trí
thành hai vòng: vòng một (gồm các lớp 1, 2, 3) tập trung hình thành ở HS các
kỹ năng đọc, viết và phát triển các kỹ năng nghe, nói với những yêu cầu cơ
bản: đọc thông và hiểu đúng nội dung một văn bản ngắn, viết rõ ràng và đúng
chính tả; thông qua các bài tập thực hành bước đầu có một số kiến thức sơ
giản về từ, câu, đoạn văn và văn bản. Vòng hai (gồm các lớp 4, 5) cung cấp
cho HS một số kiến thức sơ giản về Tiếng Việt để phát triển các kỹ năng đọc,
viết, nghe, nói ở mức cao hơn với những yêu cầu cơ bản như hiểu đúng nội
dung và bước đầu biết đọc diển cảm bài văn, bài thơ ngắn; biết cách viết một
số kiểu văn bản, biết nghe – nói một số đề tài quen thuộc. Theo yêu cầu tích
hợp ngang, chương trình mỗi lớp đều thể hiện sự phối hợp giữa các mảng
kiến thức Tiếng Việt, văn học, văn hóa và đời sống; giữa kiến thức với kỹ
năng, giữa các kỹ năng đọc, nghe, nói, viết. Kiến thức, kỹ năng và thái độ
được hình thành và phát triển thông qua các bài học và liên kết với nhau theo
hướng chủ điểm học tập.
Môn Tiếng Việt hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS với
trọng tâm là các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói, trong đó tập trung nhiều hơn
vào kỹ năng đọc, viết. Bên cạnh đó, các kiến thức về ngữ âm, chữ viết, chính
tả, từ vựng, ngữ pháp, văn bản của tiếng Việt được đưa vào chương trình một
cách tinh giản nhằm tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển các kỹ năng.
Các bài học trong SGK của môn Tiếng Việt được sắp xếp theo chủ
điểm. Thông qua các chủ điểm học tập, SGK có điều kiện giúp HS mở rộng,

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

1.4 Tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt
1.4.1 Khái niệm
Trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, một nội dung nhất
định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ.
Nếu vui chơi là một thuật ngữ chỉ một dạng hoạt động giải trí tự

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

11


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nguyện của mọi người tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về thần kinh, tâm lý thì
trò chơi là sự vui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định
luật lệ mà người tham gia phải tuân theo.
Nếu vui chơi của cá nhân được tổ chức dưới dạng trò chơi thì nó sẽ
mang lại ý nghĩa giáo dục, rèn luyện đối với người chơi, đặc biệt, đối với
thiếu niên, nhi đồng và sẽ có tác dụng góp phần hình thành nên những phẩm
chất, nhân cách cho trẻ.
Tóm lại, trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước
tiên và chủ yếu là vui chơi giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng
thẳng. Qua trò chơi người chơi còn có thể được rèn luyện thể lực, rèn luyện
các giác quan tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè, với
tổ…
Trò chơi có những đặc trưng cơ bản sau:
- Trò chơi là một loại hình sống của con người cũng như hoạt động học
tập, lao động...

Như vậy, trò chơi học tập ngoài mục đích giải trí còn nhằm mục đích
góp phần củng cố tri thức, kỹ năng học tập cho HS.
1.4.2.3 Trò chơi theo chủ đề
Trò chơi theo chủ đề bao gồm trò chơi sắm vai, đóng kịch…
1.4.2.4 Trò chơi vận động (trò chơi linh hoạt)
Đây là loại trò chơi trong đó luôn có sự vận động cơ bắp. Do gắn với
nhiều thao tác khác nhau dưới hình thức tự nhiên. Trò chơi vận động có ảnh
hưởng tốt với sự phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ.
1.4.2.5 Trò chơi trí tuệ
Nội dung của trò chơi trí tuệ là sự thi đấu về một hoạt động trí tuệ nào
đó: chú ý, sự nhanh trí nhớ, sức tưởng tượng sáng tạo, các hoạt động phát
minh.
Trên đây là 5 loại trò chơi cơ bản. Tuy nhiên sự phân loại này chỉ có
tính chất tương đối. Trên thực tế có các loại trò chơi hỗn hợp, tổng hợp cả hai
hoặc nhiều loại trò chơi nói trên…
1.4.3 Vai trò của trò chơi trong dạy học Tập đọc, Kể chuyện
+ Trò chơi giúp cho trẻ thu lượm được những hiểu biết về thế giới xung
quanh nói chung, về các hoạt động của người lớn nói riêng. Dần dần ở các em
hình thành nên nhu cầu muốn tác động đến thế giới đó như người lớn.

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

13


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

+ Trò chơi giúp trẻ em hình thành ý chí và tính cách; bồi dưỡng cho trẻ



Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nắm bắt được suy nghĩ của HS, hạn chế năng lực diễn đạt bằng lời, viết bằng
lập luận, tư duy sáng tạo của HS… Do đó, ít góp phần phát triển ngôn ngữ nói
và viết. Có 4 loại trắc nghiệm khách quan là: trắc nghiệm đúng - sai; trắc
nghiệm điền khuyết; trắc nghiệm ghép đôi; trắc nghiệm nhiều lựa chọn.
1.4.4 Yêu cầu chung khi tổ chức trò chơi
1.4.4.1 Đối với giáo viên
- GV là người chỉ đạo, tổ chức trò chơi, người GV phải tìm hiểu và chắt
lọc trò chơi nào cho phù hợp với môn học, tiết học.
- Về thời gian: đây không phải là phương pháp chủ đạo của tiết học nên
trò chơi chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian nhỏ (từ 5 đến 10 phút). Nhưng
nếu là tiết ôn tập thì thời gian có thể dài hơn nhưng không nên quá lạm dụng
trò chơi.
- Về nội dung: Trò chơi phải cô đọng để đi đến kiến thức trọng tâm,
tránh những thao tác thừa, nội dung luộm thuộm để làm phân tán yêu cầu,
mục đích của trò chơi.
- Về hình thức tổ chức: Nếu là trò chơi mang tính tập thể thì cần tổ
chức cụ thể (nhóm trưởng- chỉ đạo viên). Trò chơi phải có luật chơi, trật tự
và có tổ chức. Khi kết thúc phải có nhận xét, đánh giá và thưởng phạt
người chơi. Nếu cần chuẩn bị GV phải nhắc nhở HS trong tiết học trước để
tránh bị động khi chơi.
1.4.4.1 Đối với học sinh
- Chính bản thân các em là người tham gia trực tiếp vào cuộc chơi, do đó
bản thân các em phải là người tích cực nhất, đồng thời là những cổ động viên
cho bạn mình chơi.

- Nguyên tắc 2: Đảm bảo phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo
của HS trong quá trình tổ chức trò chơi
- Nguyên tắc 3: Đảm bảo tổ chức trò chơi diễn ra một cách tự nhiên,
không gò ép
- Nguyên tắc 4: Đảm bảo luân phiên các trò chơi một cách hợp lý
- Nguyên tắc 5: Đảm bảo trò chơi với tinh thần “thi đua” đồng đội
1.4.6 Những tiền đề quan trọng để thực hiện tốt hoạt động vui chơi nói
chung và hoạt động trò chơi ở tiểu học nói riêng
1.4.6.1 Nắm vững mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu dạy học nói riêng
Mục tiêu giáo dục Tiểu học được đề ra trong luật giáo dục (1998) có

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

16


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nhiệm vụ: “giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng
đắn và lâu dài về đạo đức, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để HS tiếp
tục học Trung học cơ sở”.
Trên cơ sở nắm vững mục tiêu giáo dục Tiểu học người GV sẽ lựa
chọn, sử dụng những trò chơi thích hợp trong từng hoạt động để thực hiện tốt
những mục tiêu giáo dục đề ra nhằm phát triển được toàn diện nhân cách, đạo
đức, trí tuệ cho HS.
Ngoài ra, trò chơi còn có ý nghĩa phát triển kỹ năng ban đầu. Đó là
những kỹ năng như:
- Những kỹ năng thuộc hành vi giao tiếp đối với mọi người xung

đặc điểm cần lưu ý khi tiến hành các hoạt động vui chơi cho trẻ.
- Trẻ giàu cảm xúc, cả tin, dễ chia sẻ với bạn bè và người mình tin yêu. Vì
dễ có cảm xúc lại thiếu kinh nghiệm sống nên các em hay tin người, tin vào
những điều tốt đẹp và luôn mong muốn chia sẻ, giúp đỡ người khác và cũng
mong muốn an ủi, động viên từ người khác.
- Đặc điểm về năng lực hoạt động trí tuệ: trẻ em thường hiếu động, thích
các loại hình hoạt động mang tính chất vui chơi, giải trí. Tuy nhiên, khả năng
kiềm chế và thao tác chân tay của các em còn vụng về, chưa linh hoạt.
- Đặc điểm nhận thức, tư duy của trẻ em: ở trẻ em, nhận thức cảm tính là
chủ yếu, nhận thức lý tính chưa phát triển. Tư duy trực quan chiếm ưu thế, tư
duy trừu tượng còn hạn chế. Trẻ chưa có khả năng chú ý lâu dài, có trí nhớ tốt
nhưng gắn với ghi nhớ máy móc, ghi nhớ cụ thể.
1.4.7 Quy trình lựa chọn và tổ chức trò chơi cho học sinh tiểu học
Trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học” tác giả Hà Nhật
Thăng đã đưa ra quy trình tổ chức trò chơi gồm bốn giai đoạn và được chia
làm nhiều bước, cụ thể:
* Giai đoạn thứ nhất: Lựa chọn trò chơi
- bước 1: Đưa ra mục tiêu của bài học, phần học, phân tích xem cần
phải rèn luyện kỹ năng nào.
- Bước 2: Lựa chọn trò chơi, phân tích xem trò chơi đó sẽ rèn luyện
được những kỹ năng gì.
- Bước 3: Đối chiếu trò chơi lựa chọn với mục tiêu cần đạt tới xem có
phù hợp không, có đem lại hiệu quả cao không.
Nếu không phù hợp thì quay lại bước 2, chọn thử trò chơi khác và tiến

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

18



Trên đây là quy trình lựa chọn và tổ chức trò chơi cho HSTH gồm bốn

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

19


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

giai đoạn và 10 bước cụ thể.Tuy nhiên, đây là một quy trình mềm dẻo, linh
hoạt, sự phân chia các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối. Trong thưc tế, các
giai đoạn này có thể đan xen, hoà nhập với nhau trong một số trường hợp, tùy
theo mục đích, nội dung bài học có thể tiến hành bỏ qua một hoặc một vài
bước cụ thể.
Đây là qui trình dạy học một tiết trò chơi (có thể nội khoá, ngoại khoá).
Trong thực tế dạy học, ngoài tiết trò chơi tổ chức cả tiết học, ta còn sử dụng
trò chơi trong từng phần của tiến trình dạy học. Ta có thể tổ chức xen kẽ trò
chơi với các hình thức tổ chức dạy học khác trong quá trình dạy học một tiết
học trên lớp. Dạy học phải phối hợp nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ
chức dạy học.

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

20


Khoá luận tốt nghiệp đại học


21


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.1.2 Mục tiêu nội dung phân môn Tập đọc, Kể chuyện lớp 3
2.1.2.1 Mục tiêu nội dung phân môn Tập đọc
a. Phát triển các kỹ năng đọc và nghe cho HS:
+ Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng, nghỉ ngơi hợp lý.
- Cường độ đọc vừa phải (không đọc quá to hay lí nhí).
- Tốc độ đọc vừa phải ( không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng), đạt
yêu cầu tối thiểu 70 tiếng/ phút.
+ Đọc thầm và hiểu nội dung:
- Biết đọc thầm, không mấp máy môi.
- Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm
được nội dung các câu, đoạn và ý nghĩa của bài.
- Có khả năng trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến nội dung
từng đoạn hay toàn bài đọc, biết phát biểu ý kiến của bản thân về
một nhân vật hoặc một vấn đề trong bài đọc.
+ Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài.
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô.
- Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn.
b. Trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự
hiểu biết của HS về cuộc sống, cụ thể là:
- Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, phát triển khả năng diễn đạt.
- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống,

lệ với 32 %...
+ Rèn kỹ năng đối thoại
Kỹ năng đối thoại được rèn thông qua hình thức hợp tác dựng lại câu
chuyện đã học theo cách phân vai. Tuy nhiên, số lượng bài tập này ở lớp 3
giảm nhiều so với lớp 2 vì chúng đã được chuyển thành một kỉểu bài tập có
yêu cầu cao hơn là kể lại chuyện theo lời nhân vật.
b. Củng cố, mở rộng và tích cực hóa vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình
tượng và tư duy lôgic cho HS, nâng cao sự hiểu biết của các em về đời sống.
c. Tiếp tục bồi dưỡng cho HS những tình cảm tốt đẹp, trau dồi cho các
em hứng thú đọc và kể chuyện.

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

23


Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.1.3 Vấn đề tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc, Kể chuyện
ở lớp 3
SGK Tiếng Việt 3 được biên soạn theo 3 quan điểm: quan điểm giao
tiếp, quan điểm tích hợp và quan điểm tích cực hoá hoạt động của HS.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK
lần này là đổi mới phương pháp dạy và học. SGK có nhiệm vụ thể hiện và tạo
điều kiện để thầy, cô và HS thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động
của HS, trong đó, thầy cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của HS;
mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đều được bộc lộ mình, được phát triển.
Trong SGK Tiếng Việt 3 và Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 3 của

- Khi tiến hành tổ chức trò chơi, GV có nhiều cách khác nhau như: chọn
đại diện cá nhân, nhóm, tổ chơi; chia lớp thành nhiều nhóm chơi ; cho cả lớp
cùng chơi… GV vận dụng tất cả các cách trên để tổ chức cho HS chơi vì việc
chọn cách tiến hành phụ thuộc vào từng bài học, từng loại trò chơi.
- Kết thúc mỗi trò chơi, GV cho trẻ cùng nhận xét, đánh giá, công bố kết
quả cùng với cô.
Bên cạnh những ưu điểm ấy vẫn còn một số hạn chế trong khâu tổ chức
trò chơi
- Ngôn ngữ GV sử dụng khi phổ biến luật chơi còn chưa khoa học, chưa
ngắn gọn, rõ ràng và chưa nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm, then chốt của
trò chơi.
- Hơn nữa, nhiều GV chủ quan khi cho rằng trẻ đã nắm được luật chơi mà
không tiến hành cho trẻ chơi thử trước khi chơi thật.
- Một số GV không sử dụng hoặc ngại sử dụng trò chơi ở một số tiết học là
do họ ngại tốn thời gian, ảnh hưởng đến tiến trình dạy. Mặt khác,tổ chức trò
chơi đòi hỏi phải có sự chuẩn bị đồ dùng dạy học.
2.3 Đề xuất
Từ định hướng của Bộ và thực tiễn nói trên, chúng tôi xin chọn ra một số
trò chơi góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung
và phân môn Tập đọc, Kể chuyện nói riêng.
2.3.1 Tổ chức trò chơi trong giờ lên lớp
2.3.1.1 Tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc
 Thi đọc theo nhóm
* Mục đích

SV: Lý Thị Mậu- K32B - GDTH

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status