LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Đình Mạnh –
TS. Giảng viên chính tổ Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
– người đã tần tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em thực hiện tốt đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường, các cô giáo của
trường Mần non Ngô Quyền – Thành phố Vĩnh Yên đã tạo điều kiện thuận
lợi, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc
chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này thực sự có
chất lượng và hữu ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2009
Sinh viên
Trần Thị Mến
1
LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Đăng Mạnh, cùng
với sự giúp đỡ của quý thầy cô và sự đóng góp ý kiến của các bạn trong khoa
Tiểu học. Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, em đã đọc những tài liệu
tham khảo có liên quan đến những vấn đề trong đề tài của mình. Em xin cam
đoan những kết quả trong khóa luận này là của riêng em. Kết quả nghiên cứu
không trùng với bất cứ một kết quả nào của những tác giả khác.
Hà Nội, tháng 04 năm 2009
Sinh viên
Trần Thị Mến
3
1.1.4. Vai trò của ngôn ngữ đối với tư duy và giao tiếp của con người14
1.2. Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của cá nhân ................................. 15
1.2.1. Ngôn ngữ nói ............................................................................ 15
1.2.2. Ngôn ngữ viết ........................................................................... 15
1.3. Trẻ mẫu giáo ...................................................................................... 15
1.3.1. Khái niệm trẻ em ...................................................................... 15
1.3.2. Sự phát triển vốn từ của trẻ ....................................................... 16
1.3.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo nhỡ ...................................... 16
1.3.4. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ ............................ 17
1.4. Trò chơi đóng vai theo chủ đề ............................................................ 18
1.4.1. Khái niệm ................................................................................. 18
1.4.2. Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề ............................. 19
1.4.3. Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề ............................... 19
1.4.4. Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với trẻ mẫu giáo . 21
1.4.5. Khả năng nghe hiểu lời nói ....................................................... 22
1.4.6. Phương pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.................. 23
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ................................................. 26
2.1. Thực trạng việc xây dựng nội dung và tổ chức trò chơi đóng vai theo
chủ đề ở các trường mầm non hiện nay ..................................................... 26
2.1.1. Thực trạng lập kế hoạch tổ chức hướng dẫn trẻ chơi trò chơi
đóng vai theo chủ đề........................................................................... 27
2.1.2. Thực trạng về tạo môi trường chơi cho trẻ ................................ 31
2.1.3. Mức độ tích lũy kinh nghiệm và làm sống lại kinh nghiệm bằng
các biện pháp khác nhau cho trẻ trong trò chơi. .................................. 31
2.1.4. Quá trình và biện pháp tổ chức hướng dẫn trẻ chơi ................... 32
2.2. Thực trạng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ .................... 34
vốn từ và các cấu trúc ngữ pháp. Điều này giúp cho trẻ phát triển các mặt trí
tuệ, tình cảm nhanh chóng và do đó nhân cách của trẻ sẽ được hình thành, có
ý nghĩa quyết định đến tương lai sau này của trẻ.
Mỗi dân tộc đều có một kho tàng phong phú trò chơi trẻ em được tích lũy
và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhà tâm lý học nổi tiếng người Pháp
là Henri – Wallon (1879 – 1962), trong khi nghiên cứu tâm lý trẻ em cũng đã
xem trò chơi của trẻ là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm, mà trò chơi
đóng vai theo chủ đề chiếm một vị trí quan trọng đối với sự phát triển ngôn
ngữ mẹ đẻ.
Các nhà tâm lý học cho rằng, hoạt động vui chơi mà nòng cốt là trò chơi
đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Độ tuổi mẫu giáo
nhỡ là chặng giữa tuổi mẫu giáo. Nó đã vượt qua thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi
ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổn định. Có thể
coi đây là một thời kỳ phát triển rực rỡ của những nét tâm lý đặc trưng cho
tuổi mẫu giáo.
Từ trước đến nay ở một số nơi, việc phát triển tiếng mẹ đẻ ở nhà trẻ và
trường Mẫu giáo chưa được quan tâm đúng mực, đặc biệt là trong trò chơi
6
đóng vai theo chủ đề. Việc phát triển tiếng mẹ đẻ chậm trễ sẽ cản trở sự hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ thơ.
Vấn đề xây dựng nội dung và tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các
trường mầm non có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu
giáo nhỡ. Trong khi đó, việc nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu
giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Việt Nam còn chưa có
công trình nghiên cứu cụ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” là
quan trọng và cần thiết.
Khái niệm trẻ em.
Khái niệm ngôn ngữ.
Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Trẻ mẫu giáo nhỡ.
* Nghiên cứu thực trạng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
* Tìm hiểu nguyên nhân chủ quan và khách quan có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ (đặc biệt là trò chơi đóng vai
theo chủ đề).
* Thực nghiệm tác động vào qua trình phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu
giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo nhỡ trường Mầm non Ngô Quyền – Thành phố Vĩnh Yên.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai
theo chủ đề.
8
5. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
5.1. Khách thể nghiên cứu
* 109 trẻ, lớp 4 tuổi A và 4 tuổi B trường Mầm non Ngô Quyền – Thành
phố Vĩnh Yên.
5.2. Đối tượng
Chỉ nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua
trò chơi đóng vai theo chủ đề.
6. Giả thiết nghiên cứu của đề tài
Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ ở lớp 4 tuổi A, 4 tuổi B trường Mầm non
Sau một thời gian thực nghiệm tác động xem sự phát triển ngôn ngữ ở
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng có sự khác nhau không?
7.4. Phương pháp trắc nghiệm
Khóa luận sử dụng phương pháp trắc nghiệm để đo vốn từ và khả năng
sử dụng cấu trúc ngữ pháp của trẻ (xin xem cụ thể ở phần nội dung khóa
luận).
7.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Người nghiên cứu ghi lại, hệ thống lại những từ ngữ, những kết cấu ngữ
pháp mà trẻ nói ra trong quá trình tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Trên cơ sở đó đưa ra nhận xét về sự phát triển vốn từ cũng như cách phát âm,
hay khả năng sử dụng cấu trúc ngữ pháp của trẻ.
1.8. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Khảo sát thực trạng
Chương 3: Thực nghiệm tác động
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
10
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Ngôn ngữ và sự hình thành phát triển ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ
“bào” có nghĩa là một dụng cụ của thợ mộc để làm mòn, nhẵn gỗ, còn “vào”
có nghĩa là “một hành động đi từ ngoài tới trong”. Cái làm ta phân biệt được
hai nghĩa đó không phải do bộ phận ngữ âm trùng nhau giữa hai từ là [-ào] mà
do sự đối lập giữa âm [b] và âm [v] tạo nên.
* Hình vị là một hoặc chuỗi kết hợp một vài âm vị, biểu thị một khái
niệm. Nó là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa. Chức năng của hình vị là chức năng
ngữ nghĩa. Ví dụ kết hợp “quốc gia” trong tiếng Việt gồm hai hình vị: “quốc”
là “nước” và “gia” là “nhà”.
* Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi
tên và chức năng ngữ nghĩa. Ví dụ các từ: Tủ, ghế, đi, cười.v.v..
* Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là chức
năng thông báo.
Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn
bản.v.v.. bất cứ thứ tiếng (ngôn ngữ) nào, cũng chứa đựng hai phạm trù:
Phạm trù ngữ pháp và phạm trù logic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các
quy định việc thành tập từ và câu cũng như quy định sự phát âm, phạm trù
này ở các thứ tiếng khác nhau là khác nhau. Phạm trù logic là quy luật, vì vậy
tuy dùng các thứ tiếng khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được
nhau.
12
Tóm lại, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, dùng làm phương
tiện giao tiếp và là công cụ tư duy.
1.1.3. Chức năng của ngôn ngữ
a. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người
Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con
người. Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra cũng
dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Ngoài ngôn ngữ, con người còn có
Quá trình hình thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để phát
triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự hiện
hữu) của tư duy.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: Đây là những hoạt động
chủ yếu của trường mầm non. Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp
học khác, phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu
“kép”. Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó như một công
cụ để vui chơi, học tập. Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và
ngược lại, mọi hoạt động tạo cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
b. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
“Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một
đặc trưng quan trọng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất” (Lênin). Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau,
cùng nhau hành động vì những mục đích chung. Không có ngôn ngữ, không
thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em, một sinh
thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn.
Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện
vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển.
Giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và
trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
14
1.2. Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của cá nhân
1.2.1. Ngôn ngữ nói
Bắt đầu từ 12 tháng trở đi, ở trẻ sẽ xuất hiện những âm bập bẹ có ý nghĩa
đầu tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếp với người lớn. Các
âm bập bẹ nhanh chóng mất đi nhường chỗ cho các từ tham gia vào cấu tạo
câu sử dụng trong giao tiếp. Những từ đầu tiên xuất hiện, các kiểu câu đơn
Năng lực tư duy trừu tượng gắn liền với sự phát triển vốn từ. Được biết
rằng từ 5 đến 9 tuổi vùng trán trên vỏ đại não đã tham gia tích cực vào sự phát
triển lời nói, chữ viết. Vốn từ của trẻ được phát triển thuận lợi. Từ 1,5 tuổi trở
đi trẻ đã biết mở rộng phạm vi áp dụng vốn từ của mình vào những đối tượng
khác.
Theo một nghiên cứu của Lưu Thị Lan (1994) sự phát triển vốn từ của
trẻ mẫu giáo ở nước ta như sau:
Số tháng tuổi
39
48
60
72
Số từ trung bình
515
724
890
1023
Theo nghiên cứu của Casouy (1977), Dollaghan (1985) trẻ 18 tháng mới
biết được khoảng 50 từ nhưng đến khi từ 3 – 6 tuổi đã có thể tích lũy được
với lứa tuổi trước đó.
Ở lứa tuổi mẫu giáo, nhất là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ phát triển
mãnh liệt, đặc biệt là tính đồng cảm và tính dễ xúc cảm đối với con người và
cảnh vật xung quanh. Đây là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòng nhân ái
cho trẻ.
1.3.4. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
Từ 4 – 5 tuổi là thời điểm quan trọng để dạy trẻ nói, cho nên ở trường
mầm non, các cô nuôi dạy trẻ cần tranh thủ lúc này để dạy trẻ nói. Không chỉ
17
dạy trẻ nói rõ ràng, nói đúng câu mà phải dạy cho trẻ cả những lời nói đẹp,
những cách ứng xử đẹp với mọi người xung quanh.
Trong giao tiếp hàng ngày cô nên thường xuyên nói chuyện với trẻ, đặt
câu hỏi để gợi ý trẻ kể về các sự kiện diễn ra trong ngày, hay tổ chức các trò
chơi đóng vai theo chủ đề mà trẻ đang được học.
Ví dụ: Trò chơi “Lớp mẫu giáo của bé” trong chủ đề “Trường Mầm non
của bé”. Trò chơi “Bác sĩ” trong chủ đề “Nghề nghiệp”.
Vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ tăng nhanh, trẻ hiểu được nghĩa và dùng từ
đã chính xác hơn trẻ ở độ tuổi mẫu giáo bé; đã sử dụng được nhiều mẫu câu
đơn giản, đúng ngữ pháp; có thể kể một số truyện ngắn một cách tuần tự; có
thể kể chuyện theo tranh; đóng vai mô phỏng công việc của người lớn.v.v..
Mặt âm thanh của lời nói cũng nhanh chóng phát triển. Trẻ lĩnh hội được
và phát âm đúng nhiều âm vị; phát âm từ, câu rõ nét hơn,trẻ bắt đầu biết điều
chỉnh tốc độ, cường độ giọng nói.
Ở giai đoạn trước, sử dụng rộng rãi biện pháp bắt chước thì ở giai đoạn
này giáo viên sử dụng các biện pháp để cho trẻ tập phát âm (sử dụng các bài
tập – trò chơi). Tuần tự cho trẻ phát âm tất cả các âm vị trong tiếng Việt. Các
âm vị khó nên được chú ý hơn như: S, tr, r, x, ch, l.v.v..
a. Chủ đề và nội dung chơi
Chủ đề của trò chơi là mảng hiện thực được trẻ phản ánh vào trong trò
chơi (chủ đề dạy học, chủ đề gia đình.v.v..).
Nội dung là hoạt động của người lớn được trẻ em nhận thức và được tái
tạo lại trong trò chơi.
Nội dung trò chơi được phức tạp dần theo trình độ phát triển của trẻ.
+ Ở trẻ mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi): Trẻ tái tạo những hành động của người
lớn.
+ Ở trẻ mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi): Có thêm nội dung mới đó là mối quan
hệ giữa người với người trong quá trình hoạt động chung.
19
+ Ở trẻ mẫu giáo lớn: Ngoài hai nội dung trên trẻ tái tạo mối quan hệ bên
trong cả về tình cảm, đạo đức.v.v..
b. Vai chơi và hành động chơi
Vai chơi là một yếu tố quan trọng tạo nên trò chơi.
Hành động chơi đó là những hành động mà trẻ em nhận thức được những
hành động của người lớn.
c. Các quan hệ của trẻ trong trò chơi
Trong trò chơi có hai mối quan hệ:
Quan hệ thực: Quan hệ giữa trẻ em và người khác trong quan hệ chơi.
Quan hệ chơi: Đó là mối quan hệ giữa các vai chơi, sức sống của trò
chơi phụ thuộc vào sự thiết lập và vận hành mối quan hệ giữa các vai chơi.
d. Đồ chơi và hoàn cảnh chơi
Đồ chơi là vật thay thế cho vật thật. Có hai loại đồ chơi đó là:
Đồ chơi người lớn làm cho trẻ.
Đồ chơi do trẻ tự làm ra: Trẻ lấy vật này để thay thế cho vật khác (lá –
tiền).
c. Sự phát triển tưởng tượng
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức, xây dựng hình ảnh mới dựa vào
những hình ảnh đã biết.
Trong quá trình chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ phải thực hiện các
hành động của vai chơi với vật thay thế. Thao tác không trùng với hành động
của vai chơi mà phụ thuộc vào vật thay thế. Từ đó trẻ buộc phải tưởng tượng
ra hành động chơi. Như vậy hoạt động vui chơi quyết định sự hình thành và
phát triển tưởng tượng ở lứa tuổi này.
d. Sự phát triển ngôn ngữ
Tình huống chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một
trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nếu trẻ không diễn đạt được
21
mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi, nếu không hiểu
được những lời chỉ dẫn hay bàn bạc của các bạn cùng chơi thì nó không thể
nào tham gia trò chơi được. Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng
chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng mạch lạc.
e. Sự phát triển tình cảm
Tình cảm được này sinh từ mối quan hệ giữa người với người, trong trò
chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào hai mỗi quan hệ: quan hệ
thực và quan hệ chơi. Trẻ nhập vai vào các mối quan hệ đó, từ đó tình cảm
được nảy sinh hình thành và phát triển.
f. Sự phát triển ý chí
Tính mục đích, tính tự chủ, tính kiên trì đây là các phẩm chất của ý chí
được hình thành và phát triển mạnh trong khi chơi.
Vậy đây là hoạt động chủ đạo quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu
giáo.
1.4.5. Khả năng nghe hiểu lời nói
đang làm gì. Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề thì đóng vai là khâu then
chốt của trò chơi, do đó trong việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho
trẻ, giáo viên cần nói cho trẻ biết mình đóng là ai và đang làm gì bằng những
câu hỏi như: Bác sĩ thường làm gì? Bác đang tiêm cho ai?.v.v.. Qua đó trẻ tiếp
thu được cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống.
b. Cần hướng hành động của trẻ theo một chủ đề chơi nhất định
Trẻ bắt chước hành động của người lớn, nhưng những hành động đó còn
ngây ngô, rời rạc. Có cháu đang ru “em bé” ngủ bằng gối thì liền ngay sau đó
lại chơi phi ngựa bằng chiếc gối đó. Điều đó chứng tỏ trẻ chưa biết hướng
hành động của mình vào một chủ đề chơi nhất định.Như vậy trò chơi sẽ khó
duy trì.
23
Bởi vậy, giáo viên cần khéo léo dẫn dắt cho trẻ, cho trẻ biết thêm những
công việc mà người lớn thường làm để trẻ có thể chơi có định hướng mà
không bị lạc đề. Ví dụ: Đối với chủ đề “Bệnh viện”, người lớn cần nói cho trẻ
biết ở bệnh viện có những ai (bác sĩ, cô y tá, người bệnh.v.v..) và công việc
của từng người (bác sĩ khám bệnh, tiêm thuốc, dặn dò bệnh nhân những điều
cần thiết với thái độ ân cần.v.v..) chơi như vậy hành động của trẻ sẽ được xác
định rõ ràng hơn. Đây là bước tiến đáng kể trong sự phát triển đời sống tâm lý
trẻ, cần cho hoạt động học tập và lao động sau này.
c. Biết phối hợp hành động với bạn chơi trong khi chơi
Trẻ chơi tự do sẽ dẫn đến không có những hành động liên kết trong khi
chơi. Trẻ chưa biết hợp tác với nhau hay nói đúng hơn là chưa biết chơi với
nhau. Việc thiết lập mối quan hệ với nhau bằng những hành động chơi để mô
phỏng lại những quan hệ xã hội của người lớn, mà đây lại là vấn đề quan
trọng nhất của trò chơi với trẻ, giúp trẻ có những tình huống có thể giao lưu
với nhau, phối hợp với nhau để trò chơi thêm hấp dẫn.
Lan vì bị ốm nên không đi học.
Đầu tiên trẻ trả lời vế phụ chỉ nguyên nhân (vì Lan ốm). Sau đó bắt trẻ
nhắc lại câu hoàn chỉnh gồm vế chính và vế phụ. Giáo viên chú ý giúp trẻ đặt
nhiều kiểu câu bằng cách thay đổi vị trí các vế của câu ghép. Cô luôn luôn
chú ý đến lời nói của trẻ, uốn nắn lỗi ngữ pháp cho trẻ, đưa vào lời nói của trẻ
những cấu trúc ngữ pháp phù hợp với tình huống nói năng.
25