Sự phát triển quá trình ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo nhờ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề - Pdf 28

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1, Lý do chọn đề tài
1.1Về mặt lý luận
Trong tâm lý học trí nhớ đ- ợc biểu hiện là sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhân
thu đ- ợc trong hoạt động sống của mình. Trí nhớ bao gồm trong nó nhiều quá trình, thành phần:
Quá trình ghi nhớ, quá trình giữ gìn, quá tành tái hiện, quá trình quên. Quá trình ghi nhớ diễn ra đầu
tiên, và việc chủ thể có thể tái hiện lại những gì để sử dụng trong đồi sống phụ thuộc rất lớn vào
quá trình ghi nhớ. Đó là quá trình trí nhớ đ- a tài liệu nào đó vào ý thức, gắn tài liệu đó vói những
kiến thức hiện có, làm cơ sở cho quá tình giữ gìn về sau đó. Quá trình ghi nhớ rất cần thiết, rất quan
trọng để tiếp thu tri thức, tích luỹ kinh nghiệm. Sự ghi nhớ một tài liệu nào đó là kết quả của hành
động vứi tài liệu đó. Đồng thời là điều kiện, ph- ơng tiện để thực hiện những hành động tiếp theo
của hành động. Trong đó ghi nhớ có chủ định bao giờ cũng tốt hơn bởi sự ghi nhớ có chủ định cũng
diễn ra trong hành động những mục đích ghi nhớ đ- ợc cá nhân tự giác đặt ra.
Đối vứi trẻ mầm non thế giới này quả là rộng lớn, bao la và lạ lẫm. Trẻ lớn lên hàng ngày nh- là
một thực thể đang phát triển, vận động theo quy luật của bản thân nó. Sự vận động tất yếu của trẻ
em do quá trình phát triển bên trong của nó, có sự chuyển hoá mói về chất để lớn lên.
Vì thế giới quá rộng lớn, lạ lẫm nên trẻ mẫu giáo muốn tìm hiểu, khám phá mọi thứ xung
quanh. Trẻ muốn đ- ợc tự tay sờ, nắm, muốn tìm hiểu mọi noi mà trẻ có thể đến đ- ợc. Ngay từ đầu
ta thấy t- duy của trẻ là t- duy trực quan hành động, trẻ tìm hiểu thế giói xung quanh qua hoạt động
vui chơi. Vì vậy vui chơi chính là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Trẻ luôn mong muốn đ- ợc
làm việc nh- ng- ời lớn nh- ng trẻ không đ- ợc tham gia trong thế giói thực, trẻ chỉ có thể làm những
hành động của ng- oi lớn trong thế giói t- ởng t- ợng của riêng trẻ vì vậy trò chơi đóng vai theo chủ
đề xuất hiện. Tham gia trò choi đóng vai theo chủ đề trẻ mô phỏng lại những mối quan hệ của ng-
ời lớn. chính việc miêu tả lại những mối quan hệ đó tạo ra sức sống của trò chơi đóng vai theo chủ
đề. Thông qua trò choi đóng vai theo chủ đề, trí nhớ nói chung và quá trình ghi nhớ có chủ đinh nói
riêng của trẻ mẫu giáo sẽ đ- ợc hình thành và phát triển.
1.2. Về mặt thực tiễn
Ở VIỆT NAM quá trình ghi nhớ có chủ đinh của trẻ mẫu giáo còn yếu, khả năng ghi nhớ có
chủ định của trẻ còn chậm, thời gian ghi nhớ lại không lâu. Thực trạng đó là do đâu, do nguyên
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 1 Khoa giáo dục tiểu học

Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 2 Khoa giáo dục tiểu học
4. Khách thể nghiên cứu đề tài
Trẻ mẫu giáo ở lớp 4 tuổi A (số 1- ợng là 60 trẻ), 4 tuổi B (số 1- ợng là 53 trẻ) tr- ờng mầm
non Ngô Quyền- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc.
5. Đối t- ợng nghiên cứu
Quá trình ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.
6. Gỉớỉ hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài
6.1. Đối t- Ợng nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu ghi nhớ có chủ định trong trò chơi đóng vai
theo chủ đề.
6.2. Khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu ở trẻ mẫu giáo nhỡ.
7. Giả thuyết nghiên cứu đề tài
Ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo nhỡ ở lớp 4 tuổi A và lớp 4 tuổi B tr- ờng mầm non Ngô
Quyền phát triển ở mức trung bình. Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh h- ởng tói
thực trạng trên trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề giữ vai trò quan trọng. Nếu đổi mới nội dung
và cải tiến ph- ơng pháp tổ chức trò choi đóng vai theo chủ đề thì có thể đẩy manh sự phát triển quá
trình ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
8.1Hệ thống hoá những vấh đề lý luận liên quan đến đề tài.
8.2. Tìm hiểu thực trạng sự phát triển quá trình ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo thông
qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
8.3. Tim hiểu nguyên nhân chủ quan và khách quan có ảnh h- ỏng đến sự phát triển quá trình
ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo (đặc biệt là vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề).
8.4. Thử nghiệm tác động vào quá tành ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo nhỡ ở lớp nghiên
cứu thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề.
9. Ph- ưng pháp nghiên cứu
9.1. Ph- ơng pháp đọc sách
Nghiên cứu một số tài liệu tham khảo giúp việc hoàn thành cơ sở lý luận của khoá luận.
9.2. Ph- ơng pháp quan sát
Theo dõi trẻ choi và ghi chép lại hàng ngày để giúp cho việc lấy kết quả ghi nhớ có chủ
định của trẻ mẫu giáo nhỡ tr- ờng mầm non Ngô Quyền- nơi thực tập đ- ợc đầy đủ, chính xác hơn.

1. Trí nhớ và quá trình ghi nhớ
1.1. Khái niệm trí nhớ? Các quá trình ghi nhớ? Vai trò của trí nhớ đối với đời
sống tâm lý của con ng ời?
Trong tâm lý học, trí nhớ đ- ợc biểu hiện là sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại những gì
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 4 Khoa giáo dục tiểu học
cá nhân thu đ- ợc trong hoạt động sống của mình. Nét đặc tr- ng nhất của trí nhớ là ghi lại chính
xác, đầy đủ với tất cả những gì cá nhân đã trải qua. Điều này làm trí nhớ khác hẳn các quá trình tâm
lý khác, đặc biệt vứi các quá trình nhận thức: biểu t- ợng của trí nhớ ít tính khái quát và trừu t- ợng
hơn biểu t- ợng của các quá trình tâm lý khác.
Quá trình trí nhớ bao gồm trong nó nhiều quá trình, thành phần: Quá trình ghi nhớ, quá trình giữ
gìn, quá trình tái hiện, quá trình quên. Mỗi quá trình riêng lẻ này có một chức năng xác định nh-ng
chúng không đối lập nhau, thâm nhập vào nhau và chuyển hoá cho nhau.
Trí nhớ là quá trình tâm lý có liên quan chặt chẽ với toàn bộ đời sống tâm lý con ng- òi. Con ng-
ời không có trí nhớ thì sẽ không có quá khứ, không có t- ơng lai, chỉ có hiện tại tức thời, một con
ng- ời nh- thế sẽ không thể tồn tại bình th- ờng đ- ợc. Không có trí nhớ sẽ không có ý thức bản ngã
và do đó không có nhân cách. Trí nhớ là điều kiện cần để con ng- ời có đời sống tâm lý bình th-
ờng, ổn đinh. Trí nhớ là điều kiện để con ng- ời tích luỹ vốn kinh nghiệm sống của mình và sử dụng
vốn kinh nghiệm đó ngày càng tốt hơn trong đòi sống và trong các hoạt động. Nhờ có trí nhớ mà
những hình ảnh tri giác, những khái niệm t- duy, những biểu t- ợng t- ởng t- ợng, những dấu vết
cảm xúc, tình cảm, các kết quả khác trong đòi sống tâm lý vẫn không bị mất đi sau khi các quá trình
đó đã kết thúc và sau này chúng sẽ đ- ợc làm xuất hiện lại mỗi khi con ng- ời cần đến. Vì vậy trí
nhớ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý con ng- òi.
1.2. Khái niệm quá trình ghi nhớ? Ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ
định? Ghi nhớ máy mốc và ghi nhớ ý nghĩa?
Sự ghi nhớ là một quá trình trí nhớ đ- a tài liệu vào ý thức, gắn tài liệu đó vói những kiến thức
hiện có, làm cơ sở cho quá trình giữ gìn. Quá trình ghi nhớ là rất cần thiết để tiếp thu tri thức, tích
luỹ kinh nghiệm. Sự ghi nhớ tài liệu là kết quả của hành động với tài liệu, là điều kiện thực hiện
những hành động tiếp theo.
Sự ghi nhớ diễn ra theo hai h- ớng: Ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định. Ghi nhớ

và giống nhau về chất. Đây là một quan điểm sai lầm, nói một cách chính xác thì trẻ em là trẻ em,
trẻ em không phải là ng- ời lớn thu nhỏ lại. Trẻ em là một thực thể đang phát triển, là một thực thể
tự vận động theo quy luật của bản thân nó. Ng- ời lớn là giai đoạn sau của trẻ em, sự lớn lên của trẻ
do quá trình phát triển bên trong của nó để chuyển hoá sang một trình độ mứi khác về chất để trở
thành ng- ời lớn. Theo Hồ Ngọc Đại: “Trẻ em là một thực thể đang sinh thành và tồn tại trong sự
sinh thành ấy. Chính sự tồn tại trong sự sinh thành ấy tạo ra sự phát triển của chính nó”.
Trẻ mẫu giáo là trẻ đ- ợc tính từ 3- 6 tuổi, trẻ mẫu giáo có thể nói là giai đoạn đầu tiên của
trẻ em. Ngay từ khi sinh ra đứa trẻ đã đ- ợc tiếp xúc với nền văn hoá, đó là văn hoá vật thể (vật
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 6 Khoa giáo dục tiểu học
dụng sinh hoạt, công cụ lao động mô phỏng )và văn hoá phi vật thể( ca dao, lời hát, dân ca). Trong
khi tiếp xúc vói thế giói xung quanh, với nền văn hoá nhân loại, đứa trẻ dần lĩnh hội các kinh
nghiệm xã hội, lứa tuổi mầm non là lứa tuổi đầu tiên lĩnh hội và tiếp thu những kinh nghiệm đó. Trẻ
mẫu giáo khác các lứa tuổi khác ở chỗ hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo không phải hoạt động
học mà là hoạt động vui chơi. Vậy nên trẻ mẫu giáo tiếp thu văn hoá và những kinh nghiệm xã hội
qua hoạt động choi, trẻ mẫu giáo không phải choi cho vui thôi mà trẻ choi còn để thoả mãn nhu cầu
đ- ợc hoạt động giống ng- oi lớn và để học hỏi những điều ngoài cuộc sống mứi lạ đối với trẻ.
2.2. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo B- ớc sang tuổi mẫu giáo đặc điểm tâm sinh lý
của trẻ thay đổi một cách rõ rệt, một b- ớc ngoặt mới. Ở trẻ xuất hiện tính độc lập, muốn tự mình
làm tất cả mọi việc nh- của ng- ời lớn nh- ng trẻ không làm đ- ợc và cũng không đ- ợc làm những
công việc đó. Điều này đã dẫn đến tình trạng khủng khoảng tuổi lên 3. Trẻ không đ- ợc làm thật thì
trẻ sẽ tìm mọi cách để làm giả vờ. Trò choi đóng vai theo chủ đề xuất hiện, trẻ có thể sắm bất kỳ vai
nào mà mình thích, trong trò chơi trẻ có thể là một cô giáo, một bác sỹ, Trẻ đ- ợc thoả mãn nhu
cầu muốn đ- ợc sống và làm việc nh- ng- ời lớn khi tham gia trò choi đóng vai theo chủ đề. Hoạt
động vui choi này xuất hiện kéo theo sự phát triển mới về chất trong tâm lý trẻ mẫu giáo. Nếu ở
tuổi nhà trẻ hoạt động vói đồ vật là hoạt động chủ đạo thì đến tuổi mẫu giáo hoạt động vui choi giữ
vai trò chủ đạo để tạo ra một chuyển biến cơ bản trong tâm lý trẻ, tức là bắt đầu hình thành một
nhân cách con ng- ời.
2.2.1. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo bé Trẻ mẫu giáo bé là b- ớc
ngoặt lớn về ý thức, tâm lý, t- duy, ý thức về bản thân, cái “tôi” đã nảy sinh trong trẻ, biết tách mình

bé ch- a hình thành đ- ợc d- luận chung, ý kiến của đứa trẻ này không ảnh h- ởng đến đứa trẻ khác.
Nh- ng trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu lắng nghe ý kiến của bạn cùng tuổi và phục tùng ý kiến của đại
đa số. Tính thích nghi ở mẫu giáo nhỡ là một hiện t- ợng quá độ trong việc nắm vững kỹ năng phối
hợp ý kiến trong nhóm bạn. Do tính thích nghi nên trẻ trong các nhóm hay a dua nhau.
Giai đoạn mẫu giáo nhỡ là giai đoạn phát triển manh t- duy trực quan hình t- ợng. Vốn biểu
t- ợng của trẻ mẫu giáo nhỡ đ- ợc giàu lên thêm nhiều, chức năng ký hiệu phát triển manh, lòng
ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt. Đó là điều kiện thuận lọi do sự phát triển t- duy
này phát triển t- trực quan - hình t- ợng đây cũng là thời điểm kiểu t- duy này phát triển manh nhất.
Phần lớn ở trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận, nh-ng những suy luận đó còn ngây ngô, ngộ
nghĩnh về mặt khoa học. Với trẻ mẫu giáo nhỡ, con vịt, con ngan boi đ- ợc thì con gà cũng sẽ bơi đ-
ợc, chúng sẽ thích thú đ- ợc thả con gà xuống n- ớc để xem nó bơi. Tuy đây là giai đoạn phát triển
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 8 Khoa giáo dục tiểu học
manh t- duy trực quan - hình t- ợng, nh- ng ch- a có khả năng t- duy trừu t- ợng nên trẻ chỉ suy luận
những vấh đề mứi dựa trên những biểu t- ợng đã có, trên những kinh nghiệm mà trẻ đã trải qua. Vì
vậy những lý luận đôi khi chỉ dừng ở hiện t- ợng bên ngoài mà ch- a đi sâu đ- ợc vào bản chất bên
trong: trẻ vào bệnh viện thấy ai mặc áo trắng điều gọi là bác sĩ, hay thấy n- ớc biển mặn trẻ thắc
mắc là “ ai cho muối vào nước biển”. Bỏi dưứi con mắt ngây thơ của trẻ sự vật bên ngoài bao giờ
cũng hiện lên một cách ngộ nghĩnh, mang dáng vẻ độc đáo.
Trong hoạt động tâm lý của trẻ mẫu giáo thì tình cảm luôn có vai trò quan trọng, nh- ng
đặc biệt vói tuổi mẫu giáo nhỡ thì tình cảm biến đổi manh mẽ, phong phú và sâu sắc hơn so với lứa
tuổi tr- ớc đó. Đồng thòi vứi đồi sống tình cảm phát triển thì nhu cầu đ- ợc yêu th- ơng của trẻ mẫu
giáo nhỡ rất lớn, trẻ thích đ- ợc khen, đ- ợc yêu mến, sợ bị thờ ơ. Một em bé có thể bật khóc khi
nghe cô giáo đuổi khỏi lớp do phạm lỗi, mặc dù lời đuổi của cô giáo có ngữ điệu nhẹ. Trẻ mẫu giáo
nhỡ không chỉ mong muốn đ- ợc yêu th- ơng, không chỉ nhận mà trẻ còn biết bộc lộ tình cảm vói
ng- ời xung quanh, cho dù mới dừng lại ở mức những lòi nói ngây thơ, những cử chỉ nhẹ nhàng.
Một cháu bé sẽ nói với các bạn khác khi các bạn nói chuyện trong giờ học không nghe lòi cô giáo
là: “ Các bạn đừng làm ồn nữa, cô giáo đang bị ốm đấy”, cháu bé đó đã biết thể hiện sự quan tâm
đến cô giáo. Từ việc thể hiện tình cảm vói ng- òi xung quanh, trẻ dễ dàng bộc lộ tình cảm với nhân
vật trong truyện cổ tích, trẻ có thể nghe đi nghe lại một truyện nh- ng tình cảm dành cho câu

những cấu tạo tâm lý đặc trưng được hình thành trước đó tiếp tục phát triển manh, những chức năng
tâm lý đó sẽ đ- ợc hoàn thiện để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của
con ng- ời.
Sự xác đinh ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý. Trẻ mẫu giáo lớn
hiểu đ- ợc mình là ai, là ng- ời nh- thế nào, có phẩm chất ý thức bản ngã hay sự tự ý thức đ- ợc
thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về bản thân. Tr- ớc khi đánh giá bản thân trẻ đã học cách đánh
giá ng- ời khác và nghe ng- ời khác nói gì về mình. Nh- ng sự đánh giá đó còn phụ thuộc nhiều vào
tình cảm song trẻ mẫu giáo lớn đã có kỹ năng so sánh mình vói ng-ồi khác, điều này giúp trẻ đánh
giá tốt hơn.
Trẻ mẫu giáo lớn còn phân biệt đ-ợc giới tính của mình và của ng- òi khác. Không chỉ
phân biệt đ- ợc mà trẻ còn biết thể hiện thế nào cho phù hợp với giói tính. Đây là một b- ớc tiến mới
ở tuổi mẫu giáo lớn. Ý thức bản ngã đ- ợc xác định rõ giúp trẻ điều khiển hành vi của mình thật phù
hợp vói chuẩn mực. Ý thức bản ngã đ- ợc xác đinh rõ còn giúp trẻ thực hiện hành động một cách
chủ động, chú tâm hơn. Tuy vậy, ở tuổi mẫu giáo lớn các quá trình tâm lý không chủ định vẫn
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 10 Khoa giáo dục tiểu học
chiếm - u thế trong hoạt động tâm lý của trẻ: trẻ xếp tranh những con vật ữong V- ờn tr- ờng
trong giờ choi vô tình sẽ nhớ
hơn nếu có yêu cầu trẻ nhìn và ghi nhớ. Ở tuổi mẫu giáo lớn, trò choi đóng vai chủ thể và một số
trò choi có luật, có mục đích đạt đến đỉnh cao. Nhờ đó mà các hoạt động tâm lý bên trong đ- ợc
biến đổi một cách rõ rệt, từ những quá trình tâm lý có chủ định. Nhờ đó làm cho các hành động ý
chí của trẻ ngày càng đ- ợc bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui choi và trong cuộc sống. Có thể coi sự
phát triển mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức, giúp nhân cách của trẻ đ- ợc
khẳng định.
Tuổi mẫu giáo lớn là thòi kỳ trẻ đang phát tiến vào b- ớc ngoặt 6 tuổi vói sự biến đổi
của hoạt động chủ đạo. Thay thế cho hoạt động vui chơi vốn là hoạt động chủ đạo của trẻ là những
yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh. Trẻ mẫu giáo lớn thấy mình đã lớn, trẻ cảm thấy
mình đã trở thành “đàn anh” trong tr- ờng mẫu giáo. Điều này làm cho trẻ thể hiện thái độ bao dung
hơn vói trẻ bé hơn. Một em bé mẫu giáo lớn sẵn sàng bỏ cuộc choi để sửa đồ chơi cho các em bé
hơn khi nghe cô giáo hỏi: “anh, chị nào có thể giúp em bé sửa đồ choi? Do tư tưởng mình đã lớn

ng mới là ở mức đầu đối vói trẻ mẫu giáo bé, các hình t- ợng và biểu t- ợng trong đầu trẻ vẫn gắn
liền vói hoạt động vật chất bên ngoài. Kiểu t- duy trực quan hình t- ợng diễn ra rõ nét nhất ở độ tuổi
trẻ mẫu giáo lớn. Bỏi lúc đó trẻ đã biết nhớ lại những biểu t- ợng cũ mà trẻ đã đ- ợc trải nghiệm, đ-
ợc nhìn thấy để suy luận ra những biểu t- ợng mói mà không cần thử nghiệm tr- ớc. Đó đ- ợc gọi là
cách suy nghĩ thầm. Chẳng hạn khi hỏi một em bé: Cái th- ớc ném xuống n- ớc nổi hay chìm? Bé
trả lời được ngay là nổi. Vì sao? Bé trả lời “vì cháu thấy que củi thả xuống nước cũng nổi”. Nh-
chúng ta đã biết trí nhớ gồm các quá trình: quá trình ghi nhớ (tạo vết), quá tình giữ gìn (củng cố),
quá trình tái hiện( từ những dấu vết làm sống lại những hình ảnh) và quá tình quên (không tái hiện
đ- ợc). Ở trẻ mẫu giáo bé và đặc biệt là trẻ mẫu giáo nhỡ quá trình ghi nhớ diễn ra rất nhanh, quá
tình tái hiện diễn ra mờ nhạt tuy đã khá hơn ở tuổi mẫu giáo nhỡ. Mà trẻ mẫu giáo nhỡ muốn tái
hiện đ- ợc th- ờng phải thông qua hành động kiểm tra, khá hơn ở trẻ mẫu giáo bé vì trẻ mẫu giáo
nhỡ đã biết lục tìm trong trí nhớ khi muốn tái hiện điều gì đó tuy vẫn còn gặp nhiều khổ khăn. Trẻ
mẫu giáo lớn thì khác, các quá trình diễn ra đầy đủ theo tình tự của nó và lâu hơn. Đặc biệt là quá
trình tái hiện nổi bật lên nét phát triển hơn so vói trẻ mẫu giáo bé và trẻ mẫu giáo nhỡ, một hình ảnh
trẻ đã gặp sẽ đ- ợc tái hiện lại ngay khi có một hình ảnh khác diễn ra t- ơng ứng.
2.4. Sự phát triển quá trình ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo Sự ghi nhớ có chủ định
diễn ra trong hành động nh- ng mục đích ghi nhớ đ- ợc cá nhân đặt ra cùng những biện pháp tốt
nhất để giúp cho quá trình ghi nhớ. Kết quả của sự ghi nhớ này phần lớn phụ thuộc vào động cơ,
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 12 Khoa giáo dục tiểu học
mục đích của sự ghi nhớ. Trẻ mẫu giáo bé ch- a xác định đ- ợc động cơ, mục đích rõ ràng mà chỉ là
do nhìn thấy nhiều lần thành nhớ, khác vói trẻ mẫu giáo nhỡ và trẻ mẫu giáo lớn. Ví dụ một em bé
3 tuổi cũng biết là đèn xanh đi tiếp, đèn đỏ dừng lại, em biết đ- ợc điều đó là do nhiều lần đi đ- ờng
cùng bố mẹ nhìn thấy thành nhớ. Nh- ng trẻ mẫu giáo nhỡ còn hiểu thêm đ- ợc rằng nh- thế là tham
gia đúng luật giao thông nếu vi phạm sẽ bị công an bắt. Thêm nữa sự ghi nhớ có chủ đinh đ- ợc bộc
lộ nhiều trong trò choi đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề và ng- ợc lại trò chơi đóng vai theo
chủ đề góp phần lớn vào quá trình ghi nhớ của trẻ mẫu giáo. Trò chơi đóng vai theo chủ đề là trò
choi mô phỏng lại đồi sống của xã hội ng- oi lớn nên buộc trẻ muốn tham gia trò chơi thì phải quan
sát cuộc sống xung quanh diễn ra nh- thế nào thì choi mới vui, mói tốt. Trẻ mẫu giáo 3 tuổi phản
ánh cuộc sống xung quanh và những mối quan hệ trong cuộc sống ấy ở mức bên ngoài, còn ở trẻ

cuộc sống xã hội xung quanh và qua đó trẻ học làm ng- ời.
3.1.2. Đặc điểm của trò choi đóng vai trò theo chủ đề Trò chơi đóng vai trò theo chủ
đề là loại trò choi đặc tr- ng nhất của trẻ mẫu giáo. Trò choi đóng vai trò theo chủ đề có những đặc
điểm sau:
Hành động chơi của ng- òi tham gia chơi luôn xoay quanh một chủ đề nhất định, đó là một
mảng cuộc sống phản ánh vào trò choi dựa trên ý nghĩ sinh động. Lúc đầu chủ đề choi của trẻ còn ở
mức độ gần gũi: gia đình, nhà tr-ờng , phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì
chủ đề chơi càng phong phú và rộng hơn.
Trò choi đóng vai trò theo chủ đề bao giờ cũng có vai choi và hành động choi, qua đó trẻ -
ớm mình vào vị trí của một ng- ời lớn nào đó rồi bắt ch- ớc hành động của họ để thể hiện chức năng
xã hội. Vai choi là yếu tố chủ yếu tạo nên trò choi và đóng vai là con đ- ờng dễ nhất giúp trẻ thâm
nhập vào cuộc sống của ng- ời lớn. Độ thành công của trò chơi phụ thuộc vào việc trẻ nhập vai đến
đâu.Bởi vai choi là linh hồn của trò choi đóng vai theo chủ đề, khi nhập vai trẻ đ- ợc trải nghiệm
những cảm xúc khác nhau: vui, buồn, lo sợ, đau khổ Những cảm xúc đó lại đ-ợc nhìn nhận d-ói
con mắt và tâm hồn của trẻ thơ, đó lại là điều cần thiết để qua đó trẻ học làm ng- oi.
Trò choi đóng vai trò theo chủ đề không phải là trò choi đơn lẻ, hoạt động này đòi hỏi phải
có sự phối hợp giữa các thành viên trong khi choi với nhau. Bỏi trò choi này mô phỏng lại cuộc
sống của ng- ời lớn mà cuộc sống đó có rất nhiều mối quan hệ. Hoạt động của con ng- ời bao giờ
cũng có sự liên quan và mang tính hợp tác. Trẻ đã thể hiện đ- ợc sự hợp tác đó qua việc phân vai và
thể hiện vai choi cùng những mối quan hệ của các vai choi đó vói nhau. Từ đó một “ xã hội trẻ em”
được hình thành.
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 14 Khoa giáo dục tiểu học
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là noi trẻ có thể nhập vào các mối quan hệ xã hội. Những
hành động trẻ thể hiện trong trò chơi là những hành động của ng- ời lớn mà trẻ quan tâm. Trong trò
chơi đóng vai theo chủ đề các mối quan hệ xã hội đ- ợc bộc lộ rất rõ rệt và sức sống của trò chơi
này là tạo ra mối quan hệ giữa các vai chơi, thể hiện ở thái độ tình cảm giữa các vai vói nhau. Lúc
trẻ nhập vai thì trẻ không còn là trẻ nữa mà là một nhân vật trong xã hội. Trò choi đóng vai theo chủ
đề còn giúp trẻ hiểu và thực hiện các chuẩn mực của đời sống, trẻ chuyển dần những chuẩn mực đó
vào đời sống tâm lý của mình thì sẽ dần tạo ra một nhân cách của xã hội có phẩm chất nhất định.

ng- oi lớn và bắt ch- ớc hành động của ng- ời lớn với các đồ vật trong những mối quan hệ nhất định
vói những ng- òi xung quanh. Nh- đã biết trò chơi đóng vai theo chủ điểm có thành công hay không
là phụ thuộc vào việc thể hiện vai chơi nh- thế nào. Muốn trở thành một vai nào đó trong trò choi,
điều quan trọng nhất là phải biết thực hiện hành động của vai đó. Hành động chơi của tó mang đậm
tính ký hiệu -t- ợng tì ng bởi đồ choi của tó mang tính mô phỏng vật thật nên trẻ phải t- ởng t- ợng
ra hoàn cảnh choi sao cho với đồ choi nh- thế nh- ng trẻ choi vẫn vui.
Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi. Khi trẻ tham gia trò chơi, trẻ nhập vai vào
những nhân vật mà trẻ thích, các nhân vật có mối quan hệ qua lại vói nhau đó là những quan hệ
choi và những quan hệ thật. Những quan hệ chơi là những quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi
theo một chủ đề nhất định, mô phỏng mối quan hệ của ng- ời lớn trong xã hội. Những quan hệ thực
là những quan hệ qua lại giữa những trẻ và những ng- òi cùng tham gia trò chơi. Trẻ bàn bạc, phân
nhóm choi, thoả thuận vai chơi Trò chơi đóng vai theo chủ đề là mô hình của những quan hệ xã
hội của ng-ời lớn và là ph- ơng tiện đinh h- ớng cho trẻ vào những mối quan hệ ấy. Điều quan trọng
nhất trong trò chơi đóng vai theo chủ đề là việc tạo ra đ- ợc những mối quan hệ giữa các vai, điều
đó tạo nên sức sống của trò chơi, đó chính là nét bản chất xã hội của trò choi đóng vai theo chủ đề.
Trong trò choi đóng vai theo chủ đề, nghĩa đ- ợc biểu hiện ở các đồ vật, mỗi đồ vật có một nghĩa,
nh- ng lại có rất nhiều ý khác nhau: trong trò chơi bán hàng, trẻ có thể quy định đâu là đồ choi, đâu
là quần áo, đâu là bàn ghế , ý nghĩa thực của nó không phải vậy nh- ng trẻ tự quy định để choi. Trò
chơi của trẻ là cái xã hội ng- oi lớn thu nhỏ lại, nó chứa đựng những mối quan hệ phức tạp, khi trẻ
tham gia vào trò chơi, buộc trẻ phải tuân theo những luật lệ hành động của các vai, những quy tắc
xã hội. Những trò choi theo nhóm làm bộc lộ những mối quan hệ xã hội rõ ràng và hành vi của trẻ
phải phục tùng chuẩn mực do các mối quan hệ đó quy định. Đây là điều kiện giúp trẻ hình thành
nhân cách đầu tiên.
Đồ chơi và hoàn cảnh chơi:
Muốn choi đ- ợc thì phải có đồ chơi. Có 2 loại đồ choi là đồi chơi mô phỏng và vật thay thế cho đồ
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 16 Khoa giáo dục tiểu học
choi thực. Trong khi thực hiện hành động của vai choi trẻ không có đồ vật thật nên trẻ phải thay thể
bằng những đồ chơi khác để trò chơi vân đ- ợc tiến hành bình th- ờng. Do đồ chơi không t- ơng ứng
nên trẻ phải t- ỏng t- ợng ra hoàn cảnh chơi. Vói trẻ tuy đồ choi giả, hoàn cảnh choi giả nh- ng trẻ

là tính hình t- ợng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ có tính độc đáo đặc tr- ng.
Tình huống trò chơi và những hành động của vai chơi ảnh h- ởng th- ờng xuyên tới sự phát
triển trí tuệ của trẻ. Muốn tham gia trò chơi đứa trẻ phải học cách hành động vói vật thay thế mang
tính t- ợng tr- ng. Trong khi hành động vói vật thay thế, trẻ em phải suy nghĩ về đối t- ợng thực. Trò
choi đóng vai theo chủ đề giúp chuyển từ t- duy trực quan- hành động đến t- duy trực quan- hình t-
ợng. Đồng thời qua các mối quan hệ chơi giúp trẻ có thể phán xét hành động của ng- ời khác và đ- a
ra kế hoạch cho hành động của mình.
Trò choi đóng vai theo chủ đề còn góp phần không nhỏ vào việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ,
nâng cao vốn ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Để có thể tham gia vào trò chơi bắt buộc trẻ phải nói đ-
ợc ý muốn của mình khi tham gia chơi, trẻ phải hiểu đ- ợc những lồi chỉ dẫn hay để bàn bạc vứi
nhau để cùng thống nhất choi. Điều này sẽ giúp vốn ngôn ngữ của trẻ nạp thêm nhiều từ mới và
cách diễn đạt câu của trẻ ngày càng rõ ràng, mạch lạc. Chơi đóng vai theo chủ đề là điều kiện giúp
trẻ phát triển vốn ngôn ngữ một cách nhanh chóng.
Trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa quyết định đối vói sự phát triển trí t- ởng t- ợng của
trẻ mẫu giáo. Trong trò chơi trẻ đã học đ- ợc cách thay thế đồ vật này vói đồ vật khác, chọn đóng
vai khác nhau .đây là điều kiện để trí t- ởng t- ợng của trẻ phát triển. Khi tham gia chơi trẻ không
cần nghĩ đến mình là ai mà khi đó trẻ thoả sức t- ởng t- ợng mình đang là những nhân vật mà mình
yêu thích: cô giáo, bác sĩ Không những thế trẻ có thể có bất cứ thứ gì mình muốn, muốn có một
chiếc ô tô bằng ghế, một chiếc thuyền bằng mo cau, muốn có vòng tay, vòng cổ thì tết hoa vào là đ-
ợc Trẻ thấy hạnh phúc vui s- ớng trong khi đ- ợc t- ởng t- ợng những điều vừa gây hứng thú vừa
phi lý, sau này khi lớn lên dù làm ở lĩnh vực nào thì trí t- ỏng t- ợng cũng rất cần.
Ở trẻ mẫu giáo khi tham gia trò chơi trí t- ởng t- ợng của trẻ phát triển thêm một b- ớc nữa là
chuyển từ bên ngoài vào bên trong. Giờ đây khi không cần những vật thay thế hay những hành
động choi trẻ vẫn hình dung đ- ợc bỏi cái đó đã có trong óc, trong trí nhớ của trẻ rồi. Một đứa trẻ
đứng trên một cái ghế vẫn có thể t- ởng t- Ợng là mình đang là phi công, đang cùng chiếc máy bay
trên trời. Đây đ- ợc gọi là một dạng t- ởng t- ợng thầm, hay t- ởng t- ợng bên trong, đây mới là
dạmg t- ởng t- ợng đích thực. Vậy trí t- ởng t- ợng đ- ợc nuôi d- ỡng hiệu quả nhất trong trò choi
đóng vai theo chủ đề, vì vậy cần phải tạo điều kiện cho trẻ choi, để nuôi d- ỡng trí t- ởng t- ợng của
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 18 Khoa giáo dục tiểu học

Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 19 Khoa giáo dục tiểu học
Nh- vậy hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò choi đóng vai theo chủ đề ở tuổi mẫu giáo
thực sự đóng vai trò chủ đạo. Thông qua vui choi và hành động choi với đồ vật và những mối quan
hệ giữa bạn bè cùng chơi, trẻ tiếp thu kinh nghiệm xã hội loài ng- ời. Đó là giai đoạn đầu tiên của
quá trình hình thành nhân cách, chuẩn bị cho b- ớc phát triển sau. Qua trò choi, trẻ đã biến mình
thành một nhân vật của xã hội, một con ng- ời nh- mọi ng- òi, trẻ đã mất dần đi tính tự kỷ trung tâm
ở tuổi lên 3. Trò choi đóng vai theo chủ đề tạo ra những nét tâm lý đặc tr- ng cho tuổi mẫu giáo,
khiến cho nhân cách của trẻ mẫu giáo mang tính độc đáo không thể tìm thấy ở những độ tuổi khác.
Nhân cách của trẻ đ- ợc hoàn thiện dần qua những lần tham gia trò chơi. Toàn bộ lịch sử của mỗi
con ng- ời là một nhà hoạt động có thể quan niệm nh- là một quá trình phát triển của trò chơi, một
sự dịch chuyển dần từ việc tham gia vào trò choi sang thực hiện công việc của mình về sau. Cũng vì
vậy mà ta có thể nói: trò choi là tr- ờng học của cuộc sống.
3.3. Ph ơng pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề
Vì trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa quan trọng nên việc tổ chức cho trẻ choi trò choi
đóng vai theo chủ đề là rất cần thiết. Một mặt là tạo điều kiện để trẻ đ-ợc thoả mãn nguyện vọng là
muốn sống và hoạt động giống ng- òi lớn, mặt khác dạy trẻ học làm ng- ời.
Khi h- ớng dẫn trẻ choi cần chú ý những điểm sau:
3.3.1. Cần h- ớng dẫn cho trẻ biết nhập vai
Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề đóng vai là khâu then chốt, do đó trong việc tổ chức
trò choi đóng vai theo chủ đề ng- òi lớn cần nói rõ cho trẻ biết sẽ nhập vai nào và phải làm gì.
Trong sinh hoạt hàng ngày hay khi kể chuyện theo tranh cho trẻ nghe ng-ời lớn cần tận dụng cơ
hội nói cho trẻ biết một số công việc của ng- ời lớn. Qua đó khi tham gia trò choi trẻ biết tự
- ớm mình vào vai của những ng- ời lớn xung quanh mà trẻ thích, qua đó trẻ trải nghiệm đ- ợc những
tình cảm, tiếp thu đ- ợc cách ứng xử giữa mọi ng- ời trong xã hội.
3.3.2. Cần h- ớng hành động của trẻ theo một chủ đề nhất đinh. Trẻ hay bắt ch- ớc hành
động của ng- ời lớn nh- ng những hành động đó còn tản mạn, ròi rạc: Cái gối có thể sẽ là “em bé”
để trẻ ru ngủ nhưng ngay sau đó có thể là cái ghế ngồi hay là con ngựa để c- ỡi. Nếu thế trò chơi sẽ
khó mà duy trì lâu đ- ợc, đôi khi trẻ trở thành kẻ phá đám. Vậy nên khi trẻ tham gia vào trò chơi
đóng vai theo chủ đề, ng- ời lớn cần h- ớng trẻ vào trò choi, luôn nhắc nhỏ trẻ đang choi ở chủ đề gì

chính là những quy tắc hành vi, những chuẩn mực đạo đức trong xã hội.
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 21 Khoa giáo dục tiểu học
B. THỰC TRẠNG VẤN ĐỂ NGHIÊN cứu
1. Thực trạng việc xây dựng nội dung và tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các tr- ờng
mầm non hiện nay
Thực tế hiện nay trong nhiều tr- ờng mầm non coi hoạt động vui chơi là hoạt động thứ yếu,
ch- a đặt nó vào đúng vị trí là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non. Giáo viên mầm non coi trọng tổ
chức tiết học hơn là tổ chức choi cho trẻ. Hoạt động vui chơi đ- ợc tổ chức sau hoạt động học, coi
nh- là trò chơi giải trí cho trẻ sau giờ học. Giáo viên còn áp đặt chủ đề, nội dung chơi,vai choi, bạn
choi, hành động choi hoặc thả nổi để trẻ chơi tự do mà không có sự h- ớng dẫn của giáo viên đây là
hiện t- ợng phổ biến.
1.1. Thực trạng lập kế hoạch tổ chức h ớng dẫn trẻ chơi.
Xây dựng kế hoạch đ- ợc coi là khâu đầu tiên của tiến trình tổ chức h- ớng dẫn trẻ chơi.
Công việc này đ- ợc các nhà giáo dục coi là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự phát triển th- ờng
xuyên có hệ thống trong hoạt động choi của trẻ, đặc biệt vai trò định h- ớng của các thao tác giáo
dục. Trong thực tế cũng vậy nếu kế hoạch đ- ợc lập ra tì mỉ, đúng đắn thì thực hiện mới thành công
đ- ợc. Trong giáo dục càng cần xác định đúng điều đó. Qua khảo sát thực tế tại hai tr- ờng mầm non
thuộc thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy:
28.7% số giáo viên ch- a bao giờ xây dựng kế hoạch tổ chức h- ớng dẫn trẻ choi.
41.3 % số giáo viên có xây dựng kế hoạch nh-ng không th-ờng xuyên, nội dung kế hoạch
sơ sài chỉ nêu tên chủ đề chơi, các góc choi, nhân vật choi mà ít thông tin giá trị, cách tiếp cận chủ
đề chơi, những thao tác của các vai choi ch-a đ-ợc định h-ớng nhiều, trẻ choi chủ yếu dựa trên kinh
nghiệm đã có sẵn.
30% số giáo viên xây dựng kế hoạch đảm bảo chất 1- ợng, thực hiện sự đầu t- nghiêm túc
về khâu chuẩn bị đồ choi, khâu soạn giáo án, h- ớng dẫn trong hoạt động chơi.
1.2. Thực trạng vê tạo môi tr ờng chơi cho trẻ
Môi tr- ờng choi bao gồm: không gian choi, ph- ơng tiện điều kiện vật chất phục vụ và bầu
không khí tâm lý thoải mái trong quá tình choi.
Qua khảo sát thực tế ta thấy các góc choi ở tr- ờng mầm non đ- ợc trang trí thiên về mục

- Cô gọi trẻ đến bên cô.
- Đang học chủ đề gì?
- Cho trẻ nhận góc chơi và về góc chơi.
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 23 Khoa giáo dục tiểu học
- Cô quan sát, bao quát cả lớp khi chơi. Nếu xảy ra xung đột thì cô giải quyết kịp thời.
- Cô nhận xét các góc choi.
- Cho trẻ cất đồ choi và hát bài: “Cất đồ choi”.
Giáo án hoạt động góc( GA2)
Chủ đề: tr- ờng mầm non của bé (Soạn tì mỉ)
- Nội dung choi và các góc choi.
* Góc phân vai: - Trò chơi cô giáo
- Trò choi bác cấp d- ỡng
* Góc xây dựng - lắp ghép: Xây dựng tr- ờng mầm non
của bé
* Góc nghệ thuật - tạo hình: Vẽ, tô màu tr-ờng mầm non, cô giáo. Hát về tr- ờng lớp, cô giáo, bạn bè.
* Góc sách truyện: Xem tranh ảnh, trò chuyện về tr- ờng
lớp.
- Đối t- ợng: Trẻ 4-5 tuổi
- Thòi gian: 40 - 45 phút
- Ng- ời dạy: Nguyễn Thị Lan Anh
a. Mục đích - yêu cầu
- Trẻ hào hứng tham gia choi, biết sử dụng các vật liệu có sắn để xây dựng tr- ờng mầm non.
- Trẻ biết sử dụng kỹ năng đã học để vẽ, tô màu tranh.
- Trẻ hát đúng lòi, đúng nhạc.
- Trẻ xem tranh ảnh đứng chiều, nói hoặc kể chuyện sáng tạo bằng tranh.
- Trẻ biết đóng vai cô giáo, bác cấp d- ỡng.
b. Chuẩn bị
- Nhà, gạch, cây hoa, cầu tr- ợt tranh ảnh vẽ tr- ờng mầm non, cô giáo
- Giấy A4, màu vẽ.

C.2. Quá trình chơi
Trẻ chọn góc choi của mình, thoả thuận vai choi.
Cô đến từng góc trò chuyện, h- ớng trẻ sáng tạo khi choi.
- Góc xây dựng:
o + Các bác xây gì đấy? o + Nên thêm cây xanh
vào sân tr- ờng. o + Xây khu nhà bếp riêng
Tr- ờng đại học s- phạm Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cúc-k31 GDMN 25 Khoa giáo dục tiểu học

Trích đoạn Những 1 uý của giáo viên khi h-ớng dẫn, tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status