TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁÓ DỤC TIEU HỌC
VŨ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TRÍ NHỚ CỦA TRẺ MAU
GIÁO TRƯỜNG MẰM NON NGÔ QUYỀN THÔNG QUA
TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC •
• • •
Chuyên ngành: Tâm lý học
Ngưòi hướng dẫn khoa học ThS. LÊ THANH HÀ
Hà Nội – 2015
Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn các thầy cô trong khoa
Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thành
khóa luận. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới thầy giáo - Th.s Lê Thanh Hà -
Giảng viên tổ Tâm lĩ - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu nhà trường,
cácCẢM
cô giáo trong trường và đặc biệt là
LỜI
các cô giáo cùng với các cháu tại các lớp mẫu giáo trường Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc đã
tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu hoa học, hơn nữa do thời gian nghiên cứu và
cao
PT lúc cao, lúc thấp: Phát triển lúc cao, lúc thấp PTT
thấp
SL
: Số lượng
MỤC LỤC
: Phát triển
Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cún thực trạng phát triển trí
nhớ của trẻ mẫu giáo thông qua trò choi đóng vai theo chủ đề.
2.1.
2.2...............................................................................................................................
3.2.1.
Thực trạng lập kế hoạch và tổ chức trò chơi ĐVTCĐ ở
2.3..........................................................................................................................
2.4..........................................................................................................................
2.5.
MỞ ĐÀU
Trẻ mẫu giáo hoạt động vui chơi, đặc biệt là trò chơi ĐVTCĐ là
hoạt động chủ đạo. Thông qua trò chơi ĐVTCĐ, trẻ có thể phát triển trí nhớ tốt
hơn, bởi vì thông qua trò chơi giúp cho trẻ ghi nhớ được hình ảnh của các nhân vật
trong xã hội. Nhưng thực tế hiện nay trong các trường mầm non giáo viên có tổ
chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhưng giáo viên hầu như không để ý đến trò
chơi đó phát triển cái gì cho trẻ và có phát triển được trí nhớ cho trẻ hay không.
Điều này khiến trẻ lúng túng, vụng về trong việc giao tiếp, hợp tác với các bạn
cùng chơi. Vì những lí do trên tôi lựa chọn đề tài: “ Thực trạng phát trỉến trí nhở
của trẻ mẫu giáo trường Mầm non Ngô Quyền thông qua trò chơi đóng vai theo
chủ đề”.
2. Mục đích
2.10.
Nghiên CÚ01 thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp
nhằm phát triến các loại trí nhớ của trẻ mẫu giáo trường Mầm non Ngô Quyền
thông qua trò chơi ĐVTCĐ.
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cún
2.11.
Đối tượng nghiên cún: Thực trạng phát triển trí nhớ của trẻ mẫu
giáo trường Mầm non Ngô Quyền thông qua trò chơi ĐVTCĐ.
2.12.
Khách thể nghiên cún: Trẻ mẫu giáo trường Mầm non Ngô Quyền.
về nội dung: có nhiều dạng trí nhớ: trí nhớ hình ảnh, trí nhớ có chủ
định, không có chủ định, trí nhớ logic, trí nhớ hành động, trí nhớ xúc cảm tình
cảm, trí nhớ từ ngữ. Đề tài này tôi chỉ tập trung nghiêm cứu thực trạng trí nhớ của
trẻ mẫu giáo trong việc thể hiện trí nhớ hình ảnh, trí nhớ hành động, trí nhớ xúc
cảm tình cảm, trí nhớ từ ngữ - logic của trẻ tại trường Mầm non Ngô Quyền.
2.18.
về địa bàn: Trẻ mẫu giáo trường Mầm non Ngô Quyền.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích và tổng họp tài liệu lý luận
7.2. Phương pháp quan sát
7.3. Phương pháp trò chuyện
7.4. Phương pháp xử lý số liệu
8. Cấu trúc đề tài
2.19.
Phần I:
Mở đầu Phần II:
Nội dung
2.20.
Chương 1. Cơ sở lí luận của việc phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
2.21.
Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cún thực trang phát
hầu như không nhớ được. Các tác giả đặc biệt quan tâm tới các quá trình tư duy
tham gia vào ghi nhớ.
2.27.
Trong tác phẩm phân tích trí nhớ về mặt thần kinh của A.R.Luria
năm 1970 đã trình bày xuất phát điểm coi trí nhớ là một hoạt động tâm lý có cấu
trúc tâm lý và cấu trúc thần kinh của trí nhớ.
2.28.
Công trình “Child development” do Peter Ornstein và các đồng
nghiệp của ông tiến hành năm 1975. Mục tiêu đặt ra của nghiên cún là thấy được
các khác biệt có nguyên nhân độ tuổi diễn ra xu hướng trẻ em thường nhẩm lại
những từ mà người ta yêu cầu chúng phải nhớ. Ket của nghiên cứu của các em nhỏ
tuổi liên quan đến việc chúng sử dụng các phương pháp nhớ kém hiệu quả hơn.
2.29.
Trẻ em cũng có nhu cầu được sống lớn lên, và phát triển mọi mặt
như người lớn. Đe có thể lớn lên và phát triển mọi mặt thì sự tác động của người
lớn lên trẻ là rất cần thiết. Qua quá trình tìm hiểu, tôi thấy có rất nhiều đề tài
nghiên cún khoa học liên quan đến trẻ em.
2.30.
Nhìn chung, vấn đề trí nhớ được các nhà nghiên cứu quan tâm
nhiều mặt. Tuy nhiên, các công trình nghiên cún của các tác giả chủ yếu nghiên
cứu chung về trí nhớ mà chưa quan tâm nhiều đến vấn đề trí nhớ của trẻ mẫu giáo.
Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo
Biểu tượng của trí nhớ là hình ảnh của các sự vật, hiện tượng nảy
sinh trong óc ta. Khi không có sự vật, hiện tượng tác động trục tiếp vào các giác
quan của ta.
2.34.
Biểu tượng khác với hình tượng của tri giác ở chỗ: biểu tượng phản
ánh sự vật một cách khái quát hơn. Nó phản ánh những dấu hiệu đặc trung trực
quan của sự vật, hiện tượng. Như vậy, biểu tượng vừa mang tính chất trực quan,
vừa mang tính chất khái quát. Nó giống như hình ảnh của cảm giác và tri giác ở
tính trục quan, nhưng nó cao hơn ở tính khái quát.
2.35.
Mức độ đúng đắn, sâu sắc và bền vững của trí nhớ một phần phụ
thuộc vào nội dung, tính chất của sự vật, hiện tượng, tài liệu cần ghi nhớ. Mặt
khác, còn phụ thuộc vào chủ đề của hoạt động nhớ. Những sự vật, hiện tượng, tài
liệu có liên quan tới nhu cầu, hứng thú, tình cảm... của con người được ghi lại,
được giữ gìn và nhó’ lại sâu sắc và đầy đủ hơn.
2.36.
Trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của cá nhân. Những kinh nghiện:
Hình ảnh, khái niệm, rung động, hành động, các thuộc tính của nhân cách mà cá
nhân phản ánh được trí nhớ lun giữ. Trí nhớ không làm thay đổi những gì cá nhân
tiếp thu được. Nét đặc trung nhất của trí nhớ là trung thành với tất cả những gì cá
2.43.
Phát triển trí nhớ phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới
hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn, tái tạo lại sau đó ở trong óc cái
mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm hành động suy nghĩ trước đây và sau
đó con người tái hiện lại các cảm giác, tri giác, xúc cảm của mình bằng hành động
cụ thể ở trong hiện thực cuộc sống một cách chính xác, sinh động hơn. Qua sự tái
hiện đó, con người nắm được, lĩnh hội được nội dung của tri thức đó chính là sự
phát triển trí nhớ.
1.2.2.
Các quan điểm tâm lý học về sự hình thành trí nhớ
1.2.2.1.
Thuyết liên tưởng về trí nhớ
2.44.
Thuyết liên tưởng coi sự liên tưởng là nguyên tắc quan trọng nhất
của sự hình thành trí nhớ nói riêng và sự hình thành tất cả các hiện tượng nói
chung. Theo quan điểm này xuất hiện một hình ảnh tâm lý trên vỏ não bao giờ
cũng diễn ra đồng thời hoặc kế tiếp với một hiện tượng tâm lý khác theo quy luật
liên tưởng (sự liên tưởng gần nhau về không gian, thời gian, sự liên tưởng tương
tự về nội dung - hình thức, sự liên tưởng đối lập và sự liên tưởng logic).
thành tâm lý nói chung và trí nhớ nói riêng. Theo quan điểm này, sự ghi nhớ, giữ
gìn và tái hiện được quy định bởi vị trí, vai trò, đặc điểm của tài liệu đối với hoạt
động của cá nhân. Những quá trình đó có hiệu quả nhất khi tài liệu trở thành mục
đích của hoạt động.
2.49.
Như vậy, sự hình thành mối quan hệ những biếu tượng riêng lẻ
không chỉ được quy định bởi tính chất của tài liệu mà chủ yếu bởi mục đích ghi
nhớ tài liệu đó của cá nhân.
1.2.3.
2.50.
Vai trò của trí nhớ
Trí nhớ có vai trò rất lớn trong đời sống tâm lý con người. Không
có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không có bất kỳ
hoạt động nào, cũng như không thể hình thành nhân cách.
2.51.
Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu được để con người có đời sống
tâm lý bình thường. Trí nhớ là điều kiện để con người có chức năng tâm lý bậc cao
đê con người có vốn kinh nghiệm và sử dụng kinh nghiệm trong đời sống và trong
hoạt động. Nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy được vốn kinh nghiệm và đem
những kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộc sống. Như vậy, không có trí nhớ thì
không có kinh nghiệm. Không có kinh nghiệm thì không có bất cứ một hoạt động
1.2.4.
2.55.
Các loại trí nhó’
Trí nhớ được chia làm rất nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau,
trong đó có năm cách phân chia phổ biến như sau:
1.Dựa vào nguồn gốc hình thành trí nhớ
- Trí nhớ giống loài là loại trí nhớ được hình thành trong quá trình phát
triển chủng loại, mang tính chung cho cả giống loài và được biểu hiện dưới hình
thức những bản năng, những phản xã không điều kiện.
- Trí nhớ cá thể là loại trí nhớ được hình thành trong quá trình phát triển cá thể,
không mang tính chất giống loài, mà mang tính chất cá thể. Ở động vật loại trí nhớ
này được biểu hiện ở nhũng kĩ xảo, những phản xạ có điều kiện. Ở con người, trí
nhớ cá thể được biểu hiện trong kho tang kinh nghiệm cá nhân phong phú của mỗi
chúng ta.
2.Căn cứ vào nội dung phản ánh của trí nhớ
- Trí nhớ vận động: phản ánh những cử động và những hệ thống cử động.
Ý nghĩa to lớn của loại trí nhớ này là nó là cơ sở đế hình thành những kĩ xảo thực
hành và lao động khác nhau: đi đứng, viết lách... sự “khéo chân khéo tay”, hay
“bàn tay vàng” là những dấu hiệu của trí nhớ vận động tốt.
- Trí nhớ cảm xúc: phản ánh những rung cảm, trải nghiệm của con người. Những
rung cảm, trải nghiệm được trực lại trong trí nhớ bộc lộ như là những tín hiệu
hoặc kích thích hành động, hoặc kìm hãm hành động mà trước đây đã gây nên
những rung cảm dương tính hoặc âm tính. Khả năng đồng cảm với người khác,
với các nhân vật trong sách... đều được dựa trên cơ sở của trí nhớ cảm xúc.
- Trí nhớ hình ảnh: đây là loại trí nhớ phản ánh những hình ảnh, biểu tượng
thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác của các sự vật, hiện tượng đã tác động vào
2.58.
gian nhất định, gọi là thời gian củng cố các dấu vết.
- Neu thời gian này diễn ra ngắn ngủi chốc lát và do đó dấu vết được giữ
lại cũng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, thì đó gọi là trí nhớ ngắn hạn. Trí nhớ
ngắn hạn được con người sử dụng trong trường hợp phải thực hiện những hành
động, những thao tác cấp bách, nhất thời. Sau khi hành động hay thao tác được
thực hiện thì trí nhớ trở nên không cần thiết nữa. Vì vậy người ta còn gọi trí nhớ
ngắn hạn là trí nhớ tác nghiệp.
- Neu thời gian củng cố các dấu vết được kéo dài sau nhiều lần lặp lại và
tái hiện nó, và do đó, những dấu vết ấy được gìn giữ lâu dài, thì gọi đó là trí nhớ
dài hạn. Tùy theo nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể trong từng hoạt động của con người
mà cả hai loại trí nhớ này đều có vai trò quan trọng trong đời sống và trong công
tác của chúng ta.
5.Dựa theo giác quan chủ đạo trong trí nhớ
2.59.
Mỗi người chúng ta thường thiên về sử dụng một loại giác quan
nào đó là chính trong quá trình ghi nhớ, gìn giữ và tái hiện (bằng mắt, bằng tay,
bằng t a i . . Đ ó là một đặc điểm cá nhân của trí nhớ mỗi người mà khi rèn luyện
trí nhớ ta cần phải tính đến.
2.60.
Tóm lại, tất cả các loại trí nhớ trên đây đều liên hệ qua lại với nhau,
bởi vì các tiêu chuẩn phân loại trí nhớ trên đây đều liên quan đến các mặt khác
nhay trong hoạt động của con người, các mặt này được biểu hiện không phải một
Trí nhớ của trẻ gắn liền với cảm xúc. Điều gì gây xúc động mạnh
đến trẻ, thì trẻ sẽ ghi nhớ tốt hơn. Do đó, khả năng ghi nhớ của trẻ phụ thuộc vào
tích chất, đặc điểm của nội dung ghi nhớ.
2.66.
Khả năng ghi nhớ của trẻ phụ thuộc vào kinh nghiệm, hiểu biết
xung quanh của trẻ.
2.67.
Các biện pháp phát triển trí nhớ: sự phát triển trí nhớ của trẻ được
thực hiện trong hoạt động vui chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Vì
thông qua trò chơi, trẻ được hóa thân vào các nhân vật trong xã hội, nhập vào tính
cách của các nhân vật, trẻ biết thể hiện xúc cảm, điều chỉnh hành động của vai
chơi, cừ chỉ, lời nói phù họp với vai chơi. Từ đó, trẻ sẽ ghi nhớ được các nhân vật,
các câu chuyện một cách sâu sắc.
1.3. Trò chơi ĐVTCĐ và sử dụng trò chơi ĐVTCĐ trong sự phát triển trí
nhó’ cho trẻ mẫu giáo trưÒTig Mầm non Ngô Quyền thông qua trò choi đóng
vai theo chủ đề”.
1.3.1. Khái niệm về trò chơi ĐVTCĐ
2.68.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về trò chơi đóng vai theo chủ đề:
2.69.
Có ý kiến cho rằng: Trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại trò chơi
Chủ đề của trò chơi muôn màu, muôn vẻ, trẻ tái hiện lại những sinh
hoạt của người lớn. Chẳng hạn chủ đề “Gia đình”, “Bán hàng”, “Giao thông vận
tải”... Trong khi chơi phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng
hiện thực hết sức phong phú. Các mảng hiện thực được phản ánh vai trò chơi được
gọi là chủ đề chơi. Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì các
chủ đề của trò chơi càng phong phú bấy nhiêu. Trong khi chơi, mọi hoạt động của
trẻ đều xoay quanh chủ đề của trò chơi dựa vào những biểu tượng sinh động của
chính các cháu về cuộc sống đang diễn ra hàng ngày. Trẻ càng lớn thì chủ đề chơi
càng trở nên sâu rộng.
2. Đe trò chơi đóng vai theo chủ đề được thực hiện trẻ cần phải đóng vai tức là ướm
mình vào vị trí của một người lởn nào đỏ và bắt trước hành động của họ như là
đế thực hiện các chức năng xã hội.
2.74.
Vui chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi. Trong vui chơi,
trẻ thường thực hiện một công việc nào đó mang tính chất nghề nghiệp như lái xe,
bán hàng, dạy học, chữa bệnh...
2.75.
Đóng vai là con đường để trẻ thâm nhập vào cuộc sống của người
lớn xung quanh. Trò chơi đóng vai theo chủ đề có thành công hay không điều đó
phụ thuộc phần lớn vào việc trẻ có đóng được vai hay không?
3. Trò chơi đỏng vai theo chủ đề là loại trò chơi mô phỏng cuộc sống xung quanh
của người lỏn mà hoạt động của họ trong xã hội lại không mang tính chất riêng lẻ
và đơn độc.
chưa nói lên bản chất của trò chơi đóng vai theo chủ đề. Khâu quan trọng nhất của
trò chơi này là hành động ân cần của Bác sĩ với “người bệnh”, Bác sĩ vỗ nhẹ tay
vào vai “người bệnh” nói với giọng thương cảm, như: “Tôi đã khám bệnh cho bác
rồi, bác hãy cầm lấy đơn ra quầy thuốc mua về uống là khỏi ngay thôi mà” Đây
chính là cái ý của trò chơi, là cái bản chất nhất của nó. Đối mới là một mặt xã hội
được thể hiện ở thái độ, động cơ ở những mối quan hệ mà trẻ thiết lập được giữa
các vai.
2.79.
Mỗi trò chơi đều có 2 mặt: Mặt thứ nhất là động cơ có tính xã hội,
mặt thứ hai là mặt kỹ thuật (bao gồm các thao tác) tức là nghĩa trò chơi đóng vai
theo chủ đề chủ yếu là nhằm vào “ý” tức là nhằm vào hình thành động cơ của trẻ
em được biểu hiện trong những mối quan hệ xã hội (dù chỉ mô phỏng). Tất nhiên
nó bao gồm cả mặt kỹ thuật, những thao tác đối với đồ vật, nhưng mặt này chỉ hỗ
trợ cho mặt thứ nhất.
2.80.
Điều quan trọng trong trò chơi đóng vai theo chủ đề là ý nghĩa xã
hội của nó được thể hiện trong các quy tắc mà ai cũng phải tuân theo (những quy
tắc này được trẻ em mô phỏng vào trò chơi như mua hàng phải trả tiền, đi đường
bên phải...) chơi như thế trẻ tự chấp nhận những chuẩn mực của đời sống xã hội,
của những quan hệ người lon với nhau, giữa trẻ em với người lớn... từng tí một,
trẻ chuyển những quan hệ xã hội khách quan vào trong nhân cách của mình, tạo ra
đời sống nội tâm, tạo ra sự trải nghiệm. Ket quả là tạo ra một cách nhìn nhận bản
thân mình tức là sự hình thành ý thức cá nhân, cốt lõi trong nhân cách mỗi người.
4. Trò chơi đóng vai theo chủ đề mang tính biếu tượng cao, đó là chức
Nội dung chơi là hoạt động của người lớn được trẻ em nhận thức và
được tái tạo lại trong trò chơi.
2.84.
Nội dung của trò chơi được phức tạp dần theo trình độ phát triến
của
2.85. trẻ:
2.86.
+ Trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi): Trẻ tái tạo lại những hành động của
người lớn.
2.87.
+ Trẻ mẫu giáo nhỡ ( 4 - 5 tuổi): Có thêm nội dung mới đó là mối
quan hệ giữa người với người trong quá trình hoạt động chung.
2.88.
+ Trẻ mẫu giáo lớn ( 5 - 6 tuổi): Ngoài hai nội dung trên trẻ tái tạo
mối quan hệ bên trong cả về tình cảm - đạo đức...
1.3.3.2.
Vai choi và hành động chơi
2.89.
2.94.
+ Đồ chơi do trẻ tự làm ra: Trẻ lấy vật này để thay thế cho vật khác
(lá
-
tiền, gậy - kiếm, que - kim tiêm,...)
2.95.
Trong 4 yếu tố trên thì chủ đề và nội dung chơi quyết định tất cả
các yếu tố khác.
2.96.
Người lớn cần tôn trọng tính tự nguyện, tính tự chủ của trẻ trong
khi chơi. Giáo viên mầm non nên căn cứ vào nội dung giáo dục để thiết hế thành
các trò chơi cho trẻ, vừa thỏa mãn nhu cấu của trẻ, vừa đảm bảo mục tiêu giáo dục,
giúp trẻ lựa chọn được chủ đề và nội dung chơi đích thực, giúp trẻ phân vai và
thiết lập các mối quan hệ trong trò chơi, cần tạo ra những tình huống chơi để trẻ
thực hiện được hành động chơi, thể hiện được xúc cảm- tình cảm trong quá trình
chơi.
1.3.4.
2.97.
Vai trò của trò choi ĐVTCĐ
2.101. Tưởng tượng là một quá trình nhận thức, xây dựng hình ảnh mới
dựa vào những hình ảnh đã biết.
2.102. Trong quá trình chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ phải thực
hiện các hành động của vai chơi với vật thay thế. Thao tác không trùng với hành
động của vai chơi mà phụ thuộc vào vật thay thế. Từ đó trẻ buộc phải tưởng tượng
ra hành động chơi. Như vậy, hoạt động vui chơi quyết định sự hình thành và phát
triển trí tưởng tượng của trẻ ở lứa tuổi này.
1.3.4.4.
Sự phát triển ngôn ngữ
2.103. Tình huống chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có
một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Neu trẻ không diễn dạt được
mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với bạn chơi hay những lời chỉ dẫn
của các bạn cũng chơi thì trẻ không thể nào tham gia trò chơi được. Đe đáp ứng
được yêu cầu của việc cùng chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng
mạch lạc.
1.3.4.5.
Sự phát triển tình cảm
2.104. Tinh cảm được nảy sinh từ mối quan hệ giữa người với người.
Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào hai mối quan hệ: Quan
hệ thực và quan hệ chơi. Trẻ nhập vai vào các mối quan hệ đó, từ đó tình cảm
được nảy sinh và phát triển.
1.3.4.6.
Sự phát triển ý chí
2.105. Tính mục đích, tính tự chủ, tính kiên trì là các phẩm chất của ý chí
2.112. Thông qua TCĐVTCĐ, trẻ được trải nhiệm với nhiều chủ đề khác
nhau, được hóa thân vào nhiều nhân vật khác nhau ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề
khác nhau từ đó giúp trẻ ghi nhớ được rõ nét hình ảnh của các nhân vật, tính cách
của các nhân vật, hành động mà nhân vật thể hiện trong trò chơi. Vì vậy, khi tham